
NHỮNG SỰ THAY ĐỔI CỦA NƯỚC
TIỂU TRONG BỆNH LÝ
Khi có rối loạn tiết niệu, thường phát sinh những sự thay đổi về nước tiểu, về
lượng cũng như về chất.
A-THAY ĐỔI VỀ SỐ LƯỢNG NƯỚC TIỂU
Số lượng nước tiểu có thể tăng (đa niệu), giảm (thiể niệu) hoặc hoàn toàn không
có (vô niệu).
Đa niệu:
Đa niệu phát sinh khi lượng nước tiểu quá 2l/ngày với lượng nước vào bình
thường. Do áp lực lọc cầu thận tăng (để nước tiểu mang ra ngoài nhiều) hoặc chức
năng tái hấp thu của ống thận giảm (khiến cho nước không được tái hấp thu đầy
đủ).
Đa niệu do nhiều nguyên nhân gây ra:
Đa niệu do nguyên nhân ngoài thận:

- Trong bệnh đái tháo đường , do đường máu cao, vượt ngưỡng thận, được đào thả
ra ngoài, kéo theo nước, gây ra đái nhiều.
- Trong bệnh đái nhạt, do giảm tiết ADH nên tái hấp thu ở ống thận cũng giảm gây
đái nhiều.
- Ngoài ra, trong bệnh huyết áp cao, ở giai đoạn đầu mạch ra của cầu thận co lại,
gây tăng áp lực lọc nên đái nhiều. Về sau mạch tới cầu thận cũng co nên đái ít.
b) Đa niệu do nguyên nhân thận.
- Trong viêm cầu thận cấp, ở giai đoạn đầu khi mới có xung huyết ở cầu thận, mà
chưa có tổn thương thực thể , do máu tới nhiều, áp lực lọc tăng, nên đái nhiều song
sớm chấm dứt.
- Trong viêm cầu thận bộ phận, hay thấy đái nhiều, có thể do tăng hoạt động bù
đắp của thận càn lại.
- Trong viêm thận kẽ mãn tính, như trên đã phân tích, do tổ chức xơ phát triển đã
chèn ép ống thận và mạch máu nuôi dưỡng nên ống thận giảm tái hấp thu nên đái
nhiều.
2. Thiểu niệu và vô niệu.
Thiểu niệu phát sinh khi lượng nước tiểu giảm dưới mức bình thường (dưới
500ml/ngày) với lượng nước tiểu vào bình thường và không phải do rối loạn đào

thải nước tiểu. Còn vô niệu là hoàn toàn không có nước tiêut hoặc chỉ có vài chục
ml, có tác giả quy định vô niệu là dưới 100ml hoặc dưới 300ml.
Tùy theo nguyên nhân có thể xếp thiểu niệu và vô niệu thành mấy loại sau đây :
a) Do bệnh thận. Thiểu niệu thường gặp trong viêm cầu thận do cầu thận giảm lọc
(song ống thận vẫn tái hấp thu bình thường) : (hình 4) trong ống thận cấp nặng có
thể phát sinh vô niệu. Vô niệu thường gặp trong viêm ống thận cấp. Về sinh lý
bệnh học, một hiện tượng gần như trái ngược là tổn thương ống thận không gây
đái nhiều (do mất chưc năng tái háp thu), mà lại gây vô niệu. Cơ chế bệnh sinh của
vô niệu trong viêm ống thận cấp phức tạp, có nhiều cách giải thích
- Do ống thận bị tổn thương, có những đoạn ống bị phá hủy, do đó nước tiểu từ
lòng ống thận tràn vào tổ trức kẽ và hấp thu vào máu : hiện tượng lan tỏa đảo
ngược của nước tiểu. Trong lâm sàng, cơ chế này chưa được chứng minh cụ thể.
Nếu dùng cơ chế chỉ phù hợp với một số độc tố phá hủy của ống thận gần.
-Do tắc lòng ống thận. Nhiều yếu tố gây tắc :
+ Tế bào ống thận bị trương to ra.
+ Trong lòng ống thận có nhiều hình trụ, nhiều mảnh tế bào, các sắc tố, nhất là khi
có tan máu nghiêm trọng.
+ Các tinh thể sulfamit…

- Do chèn ép ống thận. Trong ống thận cấp, phù ở tổ chức kẽ là một tổn thương
sớm và quan trọng. Nước tiểu từ lòng ống thận tràn vào tổ chứ kẽ lại làm cho phù
tăng. Phù ở tổ chức kẽ chèn ép ống thận và các mao quản quanh ống thận, do đó
giảm áp lực lọc có hiệu quả ở cầu thận. Tuy nhiên, đo đạc (thực nghiệm và lâm
sàng) thấy áp lực của tổ chức khe thận khi vô niệu không cao hoặc không đáng kể.
- Do rối loạn tuần hoàn tại vỏ thận : Theo một số tác giả thì bất cứ nguyên nhân
nào gây viêm ở thận đều thiếu máu ở vùng vỏ thận, do đó gây giảm lọc ở cầu thận.
b) Do nguyên nhân ngoài thận. Có thể kể :
- Nguyên nhân trước thận : Khi động mạch thận bị u chèn hay bị tắc mạch, máu
không tới được thận, nước tiểu không có. Trừ bỏ được trở ngại đó, thận lại hoạt
động tốt.
- Nguyên nhân sau thận : còn gọi là vô niệu giả vì chức năng tiết niệu vẫn bình
thường (ít ra lúc đầu) song do có trở ngại về đường thoát nước tiểu (sỏi…) nên
nước tiểu ứ lại trong thận, chức năng lọc của thận bị hạn chế. Thận ứ nước to dần
gây bệnh thận nước, nhu mô của thận bị chèn ép teo lại, chức năng tiết niệu mất
dần.
- Nguyên nhân xa thận : Như bị sốc, chảy máu nặng, trụy tim mạch, mất nước
nghiêm trọng (nôm mửa, đi rửa…) làm giảm lượng máu tới thận, ảnh hưởng tới áp
lực lọc, gây vô niệu (khi huyết áp cầu thận giảm tới 40mmHg).

- Vô niệu phản xạ: đau đớn quá mức (đau quặn gan, quặn thận, chấn thương
nặng…) có thể gây vô niệu thông qua cơ chế phản xạ: co mạch vào cầu thận đồng
thời tăng tiết ADH và aldosteron gây giảm lọc ở cầu thận đồng thời tăng tái hấp
thu ở ống thận. Ngay những chấn thương tâm lý như sợ hãi, tức giận cũng có thể
gây vô niệu (vô niệu ở chó khi cho đối diện với mèo).
Cần phân biệt vô niệu với bí đái: trong bí đái, có cầu bàng quang) và thông bàng
quang sẽ hứng được nhiều nước tiểu.
Vô niệu cấp diễn là một hiện tượng có thể hồi phục: tổ chức bị tổn thương có thể
hoàn toàn lành và làm việc tốt như trước.Nước tiểu bắt đầu xuất hiện lại vào ngày
6-12, song có khi phải hàng tháng mới hồi phục. Những ngày đầu, do chức năng
ống thận chưa khôi phục hẳn nên nước tiểu thường hay nhược trương.
B-THAY ĐỔI VỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC TIỂU
Nước tiểu bình thường màu vàng nhạt, mùi hơi khai, tỷ trọng là 1018, chứa một số
chất chính như clorua, phosphat, sulfat, ure, axits uric, creatinin và một số tế bào
lát của đường tiết niệu, bàng quang và một số ít trụ trong. Khi có rối loạn tiết niệu,
không những các chất trên thay đổi thành phần và tỷ lệ mà còn xuất hiện những
chất bất thường trong nước tiểu như protein niệu, huyết niệu, trụ niệu.
1.Protein niệu

