N xấu ngân hàng: Điểm nghẽn nền kinh tế
Thực tế nhiều khon n Việt Nam không quá xấu”, bởi các khon n
tài sn đảm bảo chiếm trên 84%,i sản này có giá tr bng khoảng 135%
khoản n xu. Nhiều khon n được trích lập d phòng rủi ro, các t chc
tín dụng đã trích lập trên dưới 70.000 t đồng cho việc này. Có th gọi đây
là các khon n không sinh li và hoàn toàn có cơ s để x lý.
Tuy nhiên, phần lớni sản thế chấp là bất động sản, trong khi th trường
này đang gặp rất nhiu kkhăn. Ngân hàng Nhà ớcđang phối hợp với B
Xây dựng để tháo g nút thắt này, ngoài ra cầns tham gia của B Công
Thương để giải quyết hàng tn kho nói chung và bất động sn nói riêng.
Tuy nhiên, ông Kiêm cũng cho rng, với thực trng kinh tế hin nay, yêu
cầu gii quyết ngay bài toán n xấu đang rt cp bách. Bi n xu đang tr
thành gánh nặng không ch cho hoạt động ngân hàng, doanh nghiệp mà cho
c nền kinh tế. Nếu x chậm ngày nào thì c ngân hàng và doanh nghiệp
đều khó có th khơi thông vốn thêm ngày y, t đó s ảnh hưởng ti c nn
kinh tế.
nhưng theo nhiều chuyên gia, đến nay, quá trình x n xấu vn diễn ra rất
chậm chạp. Các phương án xn xấu đãđược bàn nhiu, đặc bit
phương án tính đến việc thành lập Công ty mua bán n xấu quốc gia nhưng
đến nay vn chưa có động thái nào cho thyc giải pháp trên được triển
khai. S chm chạp trong khâu x n xấu đã đang để li những hậu
qu xấu cho hoạt động của ngân hàng và doanh nghip.
chuyên gia tài chính ngân hàng nhn định, nếu n xấu tiếp tục mức cao s
khiến doanh nghiệp càng thêm kkhăn trong việc tiếp cận vn ngân hàng,
còn ngân hàng thì s ngàyng b ăn mòn vào li nhuậnđiều này đãđược
chứng minh rất nhiu ngân hàng đã ng b lợi nhun gim mnh trong q
3 này.
Để gii quyết dứt đimcụcu đông n xấu, Ngân hàng Nnước cho
biết, trong tháng 11 này s trình Chính ph đề án thành lập Công ty mua bán
n quốc gia trực thuộc Ngân hàng Nnước.
Ngay sau khi thông tin được đưa ra không ít ý kiến cho rằng, không nên
thành lp Công ty x lý n xấu trực thuộc Ngân hàng Nnước, mà nên lựa
chọn t nhiều nguồn khác nhau.
Bi khi để xảy ra n xu, trước hết trách nhim chính trong việc thu hồi n
xấu là ch n (ngân hàng thương mi) và con n (doanh nghip) vay vn.
Thực tế các ngân hàng thương mi vn đang rất n lực để giải quyết trong
phm vi kh năng và quyền hạn của mình. Nhưng khi n xấu đãđến ngưỡng
báo động, nếu c để các ngân hàng thương mi và doanh nghip t x , t
s lượng doanh nghiệp dng hoạt động, phá sn s tiếp tục gia ng do vẫn
đangn xu ti ngân hàng, hàng hóa chm tiêu thụ.
Như vậy, nn kinh tế s mất đi một lượng vốn lớn, do vốn không được
quay, dòng tiền trong nn kinh tế không lưu thông được, h thng ngân hàng
tiếp tục khó khăn v thanh khoản. Điều này s đe dọa đến s phát triển bn
vững của h thống tài chính. Khi n xấu qngưỡng cho phép (dưới 5% trên
tổng n là bình thường), thì phảibiện pháp x n xu t nhiều phía,
trong đó có bin pháp t phía quan quản nhà nước.
vy, một chuyên gia tài chính ngân hàng cho rng, x n xấurất
nhiều bin pháp nhưng biện pháp t ni tic ngân hàng thương mi phi
được coi là ch yếu thông qua việc nâng cao qun tr rủi ro và trích đúng, đ
d phòng theo qui định. Còn x n qua Công ty mua bán n quốc gia trực
thuộc Ngân hàng Nhà nước không phảigii pháp ti ưu cho các ngân
hàng thương mi Việt Nam hiện nay.
Để x n xấu phải dùng nhiu ngun: ngun bn phi t trích d
phòng rủi ro của mi ngân hàng thương mại; ngun t Ngân hàng Nhà ớc
cũng rất quan trọng nhưng ngun này nên thông qua nghip vi cấp
vốn/hoặc ng vốn để các ngân hàng thương mại cấu li danh mụci sản
và bù đắp vào nhng tn tht rủi ro trong kinh doanh ngân hàng; các ngân
hàng thương mi cũng cnphương án x lý n xu thông qua Công ty
Quản n và khai thác tài sản của chính ngân hàng thương mại một
chừng mc nhất định có th mua n t các ngân hàng thương mi khác.
Khi n xấu tic ngân hàng được cải thin, thì Ngân hàng Nhà nước cũng
từng bước thu hồi khoản vốn cho vay dưới hình thức i cấp vốn hay ng
vốny... Nhưng dù gii pháp nào được thực hin, các ngân hàng có vấn đề
n xấu cn phi được tái cu trúc và kim soát, giám sát chặt ch bởi các
quan qun lý liên quan.