LUẬN VĂN:
Phân tích về ba giai đoạn phát
triển của chủ nghĩa tư bản
lời mở đầu
Mặc ngày nay, chủ nghĩa bản (CNTB) đã nhiều biến thể về nhiều mặt,
song không thế bản chất bóc lột của thay đổi. Như trước đây, CNTB vẫn chế
độ hội dựa trên cơ sở bóc lột giai cấp công nhân nhân dân lao động. Dựa trên sự
bóc lột đó, chủ yếu phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối, CNTB đã xây
dựng được cho mình nền móng vững chắc đảm bảo cho sự phát triển về sau này.
Đề cập đến quá trình sản xuất giá trị thặng tương đối, chúng ta không thể
không nhắc tới công lao to lớn của Mác. Mác đã khái quát lịch sử phát triển của CNTB
trong ng nghiệp thành ba giai đoạn: hiệp tác giản đơn bản chủ nghĩa (TBCN), công
trường thủ công TBCN, đại công nghiệp khí. Quá trình phát triển của CNTB trong
công nghiệp quá trình nâng cao năng suất lao động xã hội, đồng thời quá trình nâng
cao trình độ bóc lột của tư bản, chủ yếu là bóc lột giá trị thặng dư tương đối.
Nghiên cứu về ba giai đoạn phát triển của công nghiệp bản trong công nghiệp
để thấy rằng hiệp tác giản đơn là một bước tiến về tổ chức sản xuất, công trường thủ công
tạo điều kiện cho sự ra đời của đại công nghiệp cơ khí, đại công nghiệp cơ khí là s
vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của phương thức sản xuất TBCN.
I. Giai đoạn hiệp tác giản đơn (HTGĐ).
1. Khái niệm và đặc điểm.
Hiệp tác giản đơn TBCN một số đông công nhân làm việc trong cùng một thời
gian, dưới sự điều khiển của cùng một nhà tư bản, trong cùng một không gian để sản xuất
ra cùng một loại hàng hoá.
Hiệp tác giản đơn so với phương thức sản xuất phong kiến chỉ khác v quy mô sản
xuất và số lượng lao động làm thuê. Song, nhờ lao động hiệp tác, người ta đã tạo nên một
năng suất lao động cao hơn hẳn năng suất lao động của những người làm ăn riêng lẻ. Các
nhà bản đã lợi dụng hình thức lao động y đ tchức lao động sản xuất trong xưởng
thợ của mình, tạo ra mt sức sản xuất mới, nhằm tăng thêm khi lượng giá trị thặng
trong điều kiện lao động còn là thủ công. HTGĐ hình thành với điều kiệnliệu sản xuất
phải tập trung trong tay các nhà bản đồng thời có những người lao động đã btước hết
tư liệu sản xuất, tự do đem bán sức lao động của mình.
2. Ưu thế của hiệp tác giản đơn.
Thứ nhất: các nhân điều kiện san đi lại những chênh lệch về thể lực, về
trình độ khéo léo nên đảm bảo hao phí lao động cá bit xấp xỉ với hao phí lao động xã hội
cần thiết của sản phẩm, đảm bảo việc sản xuất và tiêu thụ hàng hoá ổn định và vững chắc
hơn so với phương thức sản xuất phong kiến.
Thứ hai: tiết kiệm được liệu sản xuất, giảm bớt được chi phí trên một đơn vị
sản phẩm do nhiều công nhân cùng sử dụng chung một tư liệu sản xuất.
Thứ ba: tạo ra một sức sản xuất mới cao hơn hẳn so với tổng cộng các năng lực
củanhân riêng lẻ, cho phép hoàn thành được những công việc có quy mô lớn.
Thứ tư: tạo ra được skích thích thi đua làm ng năng suất nhân, cuối cùng
dẫn đến tăng năng suất xã hội.
Thứ m:t ngắn thời gian hoàn thành công việc do đảm bảo tính liên tục trong
quá trình lao động và tác động vào đối tượng lao động từ nhiều phía.
Thứ sáu: cho phép hoàn thành được những công việc khẩn cấp trong những thời
kỳ nhất định và những công việc có tính thời vụ, đảm bảo hiệu quả kịp thời.
Thứ bảy: do tập trung được liệu sản xuất công nhân nên lao động hiệp tác
thể đồng thời thực hiện được trên cả không gian sản xuất nhỏ lẫn không gian sản xuất
lớn.
3. Tính chất tư bản chủ nghĩa của hiệp tác giản đơn.
- Hiệp tác giản đơn TBCN dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất và
bóc lột lao động làm thuê, nên làm tăng sức sản xut lao động hội một
phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối.
- Nhà bản thực hiện chức năng ch huy, kiểm tra, giám t đối với quá trình lao động
sản xuất. Chức năng chỉ huy là đòi hỏi tất yếu của lao động tập thể và có thể được ví như
một nhạc trưởng điều khiển một dàn nhạc. Mác đã nhận t: “Một nhạc sĩ độc tấu thì tự
điều khiển lấy mình, nhưng dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
Mặt khác, việc chỉ huy của nhà bản còn do mục đích của nền sản xuất TBCN
chi phối, bóp nặn được giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt. Do đó, việc chỉ huy của nhà
tư bản phải mang hình thức chuyên chế.
- Năng suất lao động tăng lên là nhờ lao động hiệp tác của công nhân mà có, nhưng nó lại
thuộc về nhà tư bản và như là do tư bản tạo ra.
Mác đã nhận t: “Sức sản xuất đó giống như một mức nhà tư bản sẵn có một
cách tự nhiên, một sức sản xuất cố hữu của tư bản”.
Kết luận: m lại, HTGĐ một bước tiến về tổ chức sản xuất: liệu sản xuất
phân tán biến thành liệu sản xuất tập trung, lao động riêng lbiến thành lao động
hội, năng suất lao động hội ng lên đáng kể. Tuy nhiên, sự tiến bộ trên trong tay nhà
bản lại trở thành một công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc bóc lột giá trị thặng dư được
nhiều hơn.
Hiệp tác giản đơn tuy không tồn tại lâu song đã tập hợp được đông đảo công
nhân tạo điều kiện cho HTGĐ chuyển biến thành hiệp tác phân công, tức ng
trường thủ công TBCN.
II. Công trường thủ công (CTTC).
1. Khái niệm và đặc điểm.
Có hai loại công trường thủ công:
- Công trường thủ công hỗn tạp: là CTTC mà hình thái cui cùng của sản phẩm được lắp
ráp một cách máy móc bởi những sản phẩm bộ phận độc lập mà có.
VD: công trường thủ công làm đồng bộ ở Giơnevơ.
- ng trường thủ công hữu cơ: CTTC sản phẩm của do một loạt những quá
trình và những thao tác có liên quan với nhau tạo ra.
VD: công trường thủ công làm kim băng.
m lại, được phân chia dưới hình thức nào thì cơ cấu sản xuất của CTTC vẫn
người lao động bộ phận công cụ của người y. c đã nhận t: “Người lao động
bộ phận và công cụ của người ấy, đó là yếu t đơn giản của công trường thủ công”.
2. Ưu thế của công trường thủ công.
Thứ nhất: sản xuất được liên tục, đều đặn nhờ tổ chức lao động y chuyền, hợp
hóa sản xuất. Người lao động được phân công chuyên môn hoá từng khâu của quá
trình sản xut nên đã rút ngắn được thời gian ngừng việc, giảm giờ chết do thay đổi thao
tác, dụng cụ, chỗ làm việc.
Thứ hai: tay nghề của người công nhân được nâng lên nhanh chóng nhchuyên
môn hoá lao động bộ phận. Người công nhân chỉ làm một trong nhiều khâu của quá trình
sản xuất nên tích luỹ được nhiều kinh nghiệm, trình độ thành thạo được nâng cao vậy
hao phí lao động ít hơn mà mang li hiệu quả caon.
Thứ ba: sản phẩm làm ra tốt hơn nhiều hơn so với sản phẩm của người sản
xuất riêng l.
Thứ tư: công cụ lao động được cải tiến, làm cơ sở cho sự ra đời của máy móc sau
này. Máy móc đã tiếp thu và pt triển dựa trên sự cải tiến ngày càng hoàn thiện hơn của
công cụ trong giai đoạn CTTC.
Như vậy, nhờ phân công trong CTTC và chuyên môn hoá sản xuất mà kỹ thuật đã
tiến bộ rất nhiều tuy nền sản xuất vẫn dựa trên lao động thủ công.
3. Tính chất tư bản chủ nghĩa của công trường thủ công.
Sự phân công trong CTTC đòi hỏi phải tăng phần bản khả biến bản bất
biến. Đây là một định luật do tính chất kỹ thuật của CTTC sinh ra.
Sự phân công trong CTTC làm cho người lao động bquè quặt cả về thể chất lẫn
tinh thần do họ suốt đời chỉ làm một công việc bộ phận của sản phẩm.