
TIỂU LUẬN:
Phân tích chiến lược Quốc tế
hoá của công ty cổ phần phần
mềm FPT

LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay những ứng dụng của CNTT đã trở nên quá quen thuộc đối với cuộc
sống của chúng ta, những ứng dụng CNTT đã chiếm lĩnh và giữ một vài trò rất
quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, xã hội, đời sống, văn hoá,
nó đã đi sâu, gần gũi với cuộc sống của chúng ta, mỗi đồ dùng thiết yếu mà chúng
ta dùng đều có ứng dụng CNTT, ví như: Chiếc điện thoại, máy tính, ôtô hay nhiều
vật dùng khác nữa. Nó đã đem lại cho chúng ta những tiện ích, tích kiệm cho chúng
ta bao công sức, tiền của, thời gian và qua đó góp phần vào sự phát triển chung của
nhân loại.
Như chúng ta đã biết nhiệm vụ của các nhà khoa học là nghiên cứu và phát minh
ra CNTT nhưng để nó được ứng dụng và đến được với cuộc sống, giúp ích cho công
việc của chúng ta thì lại cần có những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này.
Thật vậy, trên thế giới đã có rất nhiều tập đoàn kinh doanh thành công trên lĩnh vực
CNTT và điển hình là tập đoàn Mircosoft mà ông chủ của nó là Bill Gates, mỗi khi
nhắc đến chúng ta đều biết đến đó không chỉ là một thiên tài CNTT, ông còn là một
nhà kinh doanh giỏi, ông có những chiến lược kinh doanh rất sắc bén, có tầm nhìn
chiến lược xa, rộng. Điều này đem lại cho tập đoàn một doanh thu khổng lồ đưa
ông trở thành nhà tỉ phú bậc nhất thế giới và sản phẩm của Mricrosoft có mặt ở
khắp các Châu lục. Nhưng đó là trên thế giới còn ở Việt Nam ta thì thế nào? Nói
đến lĩnh vực này thì FPT đã và luồn là công ty hàng đầu Việt Nam kinh doanh trong
lĩnh vực CNTT, công ty cũng đã có tên tuổi và chỗ đứng ở nhiều nước trên thế giới.
Những thành công có được của công ty không chỉ là những kiến thức chuyên môn
giỏi mà còn nhờ chiến lược Quốc tế hoá mà công ty đã sử dụng thành công.
2. Mục đích nghiên cứu
Khi mà nước ta đã bước sang nền kinh tế mở cửa, nền kinh tế thị trường cạnh
tranh tự do và khốc liệt thì việc kinh doanh cho thành công càng trở nền khó khăn
và trắc trở. Do đó mà khi kinh doanh nhất thiết các doanh nghiệp cần phải có chiến
lược kinh doanh thích hợp, linh hoạt và nhạy bén có như vậy doanh nghiệp mới tìm

kiếm được những thị trường mục tiêu, thị trường tiềm năng,… thu được nhiều lợi
nhuận từ những thị trường đó, đồng thời sẽ né tránh được những rủi ro và tổn thất
cho doanh nghiệp. Vì vậy đề tài chiến lược Quốc tế hoá của công ty cổ phần phần
mềm FPT nhằm tìm hiểu xem công ty đã sử dụng chiến lược Quốc tế hoá như thế
nào để có được những thành công như ngày nay.
3. Đối tựơng nghiên cứu
Mỗi một doanh nghiệp kinh doanh thành công sẽ khiến ta tự nhủ rằng điều gì đã
làm nên thành công đó, niệu có phải là doanh nghiệp đó giỏi chuyên môn không?
Điều này đúng nhưng chưa đủ, ngoài sự am hiểu về kiến thức chuyên môn cái cốt
lõi quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của công ty là tầm nhìn chiến
lược kinh doanh. Chính vì vậy trong đề tài này đối tượng mà em muốn nghiên cứu
là chiến lược kinh doanh của công ty cổ phần FPT mà cụ thể là chiến lược quốc tế
hoá của công ty và những thành công của công ty.
4. Kết cấu của đề tài
Đề tài bao gồm: Mục lục, lời mở đầu, ngoài ra đề tài được viết làm ba chương:
Chương 1: Giới thiệu công ty cổ phần phần mềm FPT với chiến lược Quốc tế hoá
Chương 2: Phân tích chiến lược Quốc tế hoá của công ty cổ phần phần mềm FPT
Chương 3: Bài học rút ra từ chiến lược kinh doanh Quốc tế hóa của công ty
Phần cuối của đề tài là kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.

Ch¬ng 1
CÔNG TY CỔ PHÀN PHẦN MỀM FPT VỚI
CHIẾN LƯỢC QUỐC TẾ HOÁ
I. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY
Là công ty con trực thuộc công ty cổ phần phát triển đầu tư công nghệ FPT
(thường gọi là tập đoàn FPT). Được thành lập năm 1988 bởi một nhóm các nhà
khoa học trẻ trong các lĩnh vực Vật lý, Toán, Cơ, Tin học ít nhiều đã làm quen với
lập trình, chỉ sau một năm, FPT Soft đã thành lập một bộ phận tin học mang tên ISC
(Informatic Service Center). Một trong những dự án phần mềm đầu tiên mà ISC
tham gia là dự án Typo4 xuất khẩu sang Pháp do một Việt kiều ở Pháp về chủ trì.
Tiếp theo là hàng loạt giải pháp phần mềm cho các mảng ngân hàng, kế toán, phòng
vé máy bay,... Đến tháng 12 năm 1994, khi đã đủ lớn, ISC được tách thành các bộ
phận chuyên sâu về dự án, phân phối, phần mềm…Bộ phận phần mềm lúc đó có tên
là FSS (FPT Software Solutions_ tên tiếng Việt là Xí nghiệp Giải pháp Phần mềm
FPT). .
Từ 1994 đến 1998, FSS tiếp tục phát triển và cung cấp các giải pháp phần mềm cho
các lĩnh vực Ngân hàng, Kế toán, Thuế, Hải quan, Công an. Một trong những thành
tích nổi bật của FSS là xây dựng TTVN - mạng WAN đầu tiên tại Việt nam, tạo tiền
đề phát triển cho Công ty Viễn thông FPT sau này (FPT Telecom). Trong những
năm này, FPT Soft liên tiếp được PC World Việt nam bình chọn là Công ty Tin học
số một. Cuối năm 1998 đầu 1999, sau khi chiến lược xuất khẩu phần mềm được
định hình, một nhóm chuyên gia được tách ra từ FSS để thành lập FSU1 (FPT
Strategic Unit #1) như bộ phận chịu trách nhiệm mũi nhọn trong sứ mệnh Toàn Cầu
Hoá. FSU1 chính là tiền thân của FSOFT ngày nay. Trong năm 1999, FSOFT đã
thực hiện thành công dự án đầu tiên với khách hàng Winsoft, Canada, bước đầu xác
định cơ cấu tổ chức, lên các chương trình chuẩn bị nhân lực cho xuất khẩu.

Năm 2000, FSOFT chuyển trụ sở sang toà nhà HITC. Ảnh hưởng bởi vụ dotcom,
thị trường xuất khẩu phần mềm gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy, FSOFT đã vượt qua
được thử thách và đạt được kết quả quan trọng - ký hợp đồng OSDC (Offshore
Software Development Center) đầu tiên với Harvey Nash. Đến nay, Harvey Nash
vẫn là một trong những khách hàng lớn nhất của FSOFT.
Năm 2001 được đánh dấu bằng các hợp đồng OSDC với Mỹ và đặc biệt là OSDC
với NTT-IT - khách hàng Nhật bản đầu tiên của FSOFT. Năm 2001 cũng là năm
FSOFT bắt đầu dự án CMM-4, với mục tiêu đạt chứng chỉ CMM mức 4 trong vòng
một năm. Năm 2001 được đánh dấu bằng các hợp đồng OSDC với Mỹ và đặc biệt
là OSDC với NTT-IT - khách hàng Nhật bản đầu tiên của FSOFT. Năm 2001 cũng
là năm FSOFT bắt đầu dự án CMM-4, với mục tiêu đạt chứng chỉ CMM mức 4
trong vòng một năm. . FSOFT đạt CMM mức 4
vào tháng 3/2002, trở thành công ty đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á đạt chứng chỉ
này. Năm 2002 cũng là năm FSOFT củng cố lại sơ đồ tổ chức, bằng việc thành lập
các Trung tâm sản xuất và các Phòng chức năng. Cuối 2002, lần đầu tiên doanh số
FSOFT vượt ngưỡng 1 triệu USD. .
Năm 2003 đem về cho FSOFT nhiều khách hàng mới, đặc biệt là các khách hàng
lớn của Nhật như Hitachi, Sanyo, Nissen, IBM Japan. FSOFT thành lập Văn phòng
tại thành phố Hồ Chí Minh. Để chuẩn bị cho thị trường Nhật, một chương trình lớn
được triển khai bao gồm thành lập Trung tâm Đông Du đào tạo tiếng Nhật CNTT,
tuyển sinh viên các Khoa tiếng Nhật và hỗ trợ học bổng cho họ học Aptech, tuyển
sinh viên tốt nghiệp các trường CNTT và đào tạo tập trung tiếng Nhật 6 tháng. Năm
2003 cũng là năm dự án CMMI-5 khởi động. . Năm
2004, FSOFT chính thức trở thành Công ty cổ phần phần mềm FPT. Và cũng trở
thành công ty đầu tiên của Việt Nam, một trong số hơn 10 công ty phần mềm ở
Châu Á (trừ Ấn Độ) đạt được trình độ CMMI mức 5 (phiên bản mới nhất của
CMM). Với tiêu chuẩn này công ty cổ phần Phần mềm FPT (FPT Software) đã
được vào danh sách khoảng 150 công ty và tổ chức trên toàn thế giới được Viện
Công nghệ phần mềm Hoa Kỳ (SEI) công nhận: Hệ thống quy trình sản xuất phần
mềm đạt mức cao nhất trong mô hình trưởng thành về năng lực sản xuất phần mềm.
Năm 2004 cũng là năm gặt hái nhiều thành công của Công ty Phần mềm FPT, với

