BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA

CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT

THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT ANH

SINH VIÊN THỰC HIỆN

: LÊ THU HÀ

MÃ SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH

: A16277 : TÀI CHÍNH

HÀ NỘI – 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA

CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT ANH

Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Thị Thúy

Sinh viên thực hiện

Mã sinh viên

: Lê Thu Hà : A16277

Chuyên ngành

: Tài Chính

HÀ NỘI – 2014

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên

hướng dẫn Tiến sỹ Nguyễn Thị Thúy, đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong suốt quá

trình viết khóa luận tốt nghiệp.

Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong Khoa Kinh tế - Quản lý, trường Đại

Học Thăng Long đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm qua em được học

tại trường. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng

cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời

một cách vững chắc và tự tin.

Cuối cùng em kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự

nghiệp cao quý. Đồng kính chúc các cô, chú, anh, chị trong công ty TNHH Việt Anh

luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công trong công việc.

Em xin trân trọng cảm ơn !

Sinh viên thực hiện

Lê Thu Hà

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ

trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người

khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng khóa Khóa luận là có nguồn gốc và được

trích dẫn rõ ràng.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Lê Thu Hà

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH

DOANH NGHIỆP ........................................................................................................1

1.1 Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp ..................................................1

1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp......................................................1

1.1.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp ....................................................1

1.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp.........................................................4

1.2.1. Tài liệu phân tích ................................................................................................4

1.2.2. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp ................................................6

1.3. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp ....................................................... 10

1.3.1. Phân tích tình hình cơ cấu Tài sản – Nguồn vốn ............................................. 10

1.3.2. Phân tích mỗi quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn............................................ 11

1.3.3. Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ........................................... 12

1.3.4. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán ............................................ 12

1.3.5. Phân tích chỉ tiêu khả năng quản lý tài sản ..................................................... 14

1.3.6. Phân tích chỉ tiêu khả năng sinh lời ................................................................. 18

1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp ........................ 21

CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CÔNG

TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP

KHẨU VIỆT ANH ..................................................................................................... 24

2.1 Khái quát chung về công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất Thương mại

Xuất nhập khẩu Việt Anh .................................................................................... 24

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triền công ty ........................................................... 24

2.1.2. Ngành nghề kinh doanh ................................................................................... 25

2.1.3 Cơ cấu tổ chức công ty ....................................................................................... 25

2.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ...................................... 30

2.1.5. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn

sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh .................................................... 31

2.2. Thực trạng tính hình tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất

thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh ...................................................................... 36

2.2.1. Phân tích tình hình cơ cấu tài sản – nguồn vốn ............................................... 36

2.2.2. Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn............................................ 44

2.2.3. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán ............................................ 45

2.2.4. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản ..................................... 48

2.2.5. Phân tích một số chỉ tiêu đánh giá các bộ phân cấu thành tổng tài sản .......... 50

2.2.6. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời ................................................. 51

2.2.7. Phân tích khả năng sinh lời theo Dupont ......................................................... 53

2.4. Đánh giá tình hình tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất

thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh .............................................................. 56

2.4.1. Kết quả đạt được ............................................................................................... 57

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân ................................................................................... 58

CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA

CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI XUẤT

NHẬP KHẨU VIỆT ANH ......................................................................................... 61

3.1 Định hướng phát triển của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương

mại xuất nhập khẩu Việt Anh ........................................................................... 61

3.2. Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty trách

nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại Việt Anh ................................................ 62

3.2.1. Tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu, giảm tỷ trọng các khoản nợ ............................. 63

3.2.2. Tăng cường quản lý các khoản nợ và phải thu................................................. 64

3.2.3. Tăng cường quản lý hàng tồn kho .................................................................... 67

3.2.4. Nâng cao khả năng thanh toán ......................................................................... 67

3.2.5. Thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm tăng doanh thu và lợi nhuận ............................... 68

3.2.6. Tăng cường công tác quảng cáo ....................................................................... 69

3.2.7. Tăng cường các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh..................... 70

3.2.8. Tăng cường công tác phân tích tài chính tại công ty ........................................ 71

3.3. Một số kiến nghị đối với công ty ......................................................................... 72

KẾT LUẬN ................................................................................................................ 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 75

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ

BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh

DTT Doanh thu thuần

GVHB Giá vốn hàng bán

SXKD Sản xuất kinh doanh

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TSCĐ Tài sản cố định

TSDH Tài sản dài hạn

TSNH Tài sản ngắn hạn

VCSH Vốn chủ sở hữu

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất

thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh ..................................................... 32

Bảng 2.2. Tình hình tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại

xuất nhập khẩu Việt Anh ........................................................................ 38

Bảng 2.3. Cơ cấu nguồn vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương

mại xuất nhập khẩu Việt Anh ................................................................. 42

Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu phân tích mối quan hệ tài sản – nguồn vốn của công ty .. 44

Bảng 2.5. Chỉ tiêu khả năng thanh toán của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất

thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh ..................................................... 46

Bảng 2.6. Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản ............................................. 48

Bảng 2.7. Chỉ tiêu đánh giá các bộ phân cấu thành tổng tài sản .............................. 50

Bảng 2.8. Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của công ty trách nhiệm hữu hạn

sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh ....................................... 51

Bảng 2.9. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn sản

xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh thông qua mô hình tài chính

Dupont ................................................................................................... 53

Bảng 2.10. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu thông qua mô hình tài

chính dupont .......................................................................................... 55

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp ................ 21

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty trách nhiệm hữu hạn xuất nhập khẩu Việt Anh .. 25

Sơ đồ 2.2. Sơ đồ tổ chức phòng kế toán .................................................................. 29

Sơ đồ 2.3 Quy trình lọc nước tinh khiết năm 2011 – 2013...................................... 32

Biểu đồ 1.1. Mô hình phân tích Dupont ........................................................................ 9

Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại

xuất nhập khẩu Việt Anh ........................................................................ 36

Biểu đồ 2.2. Cơ cấu nguồn vốn của công ty sản xuất thương mại xuất nhập khẩu

Việt Anh ................................................................................................ 41

Biểu đồ 2.3. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) ........................................... 55

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Hiện nay, trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thế giới, các doanh

nghiệp Việt Nam luôn phải đứng trước nhiều thách thức để có thể tồn tại và phát triển.

Nhằm giúp các doanh nghiệp có thể vượt qua cơn khủng hoảng này, công tác quản trị

tài chính doanh nghiệp, đặc biệt là hoạt động phân tích tài chính đòi hỏi phải được

quan tâm đúng mức nhằm giúp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp.

Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc áp dụng các công cụ và kỹ thuật phân

tích thích hợp nhằm cung cấp chính xác và đầy đủ cho các nhà quản trị doanh nghiệp

thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp nhà quản trị thấy được nguyên

nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính công ty. Qua đó, đề

xuất những biện pháp hữu hiệu nhằm cải thiện tình hình tài chính, thiết lập các dự báo,

kế hoạch tài chính phù hợp giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong giai đoạn

khó khăn. Phân tích tài chính doanh nghiệp không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân doanh

nghiệp, mà còn cần thiết cho các chủ thể quản lý khác có liên quan đến doanh nghiệp.

Việc này sẽ giúp cho quản trị doanh nghiệp khắc phục được những thiếu sót, phát huy

những mặt tích cực và dự đoán được tình hình phát triển của doanh nghiệp trong tương

lai. Trên cơ sở đó, nhà quản trị doanh nghiệp sẽ đề ra được những giải pháp hữu hiệu

nhằm lựa chọn quyết định phương án tối ưu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp.

Nhận thức được tầm quan trọng to lớn của việc phân tích, đánh giá tình hình tài

chính doanh nghiệp, bằng vốn kiến thức được tích lũy trong thời gian học tập và

nghiên cứu tại trường kết hợp với những hiểu biết thực tế trong thời gian thực tập

tại công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh, em

quyết định đi sâu nghiên cứu tình hình tài chính của công ty với đề tài: “Phân tích

tình hình tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập

khẩu Việt Anh”.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản

xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh.

Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của

công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh qua các

năm 2011, năm 2012, năm 2013. Dựa trên Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh

doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính để phân tích, đánh

giá về các hoạt động tài chính của doanh nghiệp.

3. Mục đích nghiên cứu

Là nhằm làm rõ thực trạng tài chính tại doanh nghiệp để từ đó chỉ ra những điểm

mạnh cũng như điểm yếu của doanh nghiệp. Đồng thời giúp doanh nghiệp nhìn thấy

những biến động tình hình tài chính trong tương lai của mình để có những biện pháp đối

phó thích hợp. Bài khóa luận bao gồm 3 mục đích chính sau đây:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về tài chính doanh nghiệp và phân

tích tài chính doanh nghiệp.

- Phân tích thực trạng tình hình tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản

xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh.

- Để xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty trách

nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh.

4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp xử lý số liệu gồm có: Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích

tỷ lệ, phương pháp liên hệ cân đối, phương pháp phân tích Dupont.

5. Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương được bố cục như sau:

Chương 1: Lý luận chung về phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp.

Chương 2: Phân tích tình hình tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn sản

xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh.

Chương 3: Giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công ty trách nhiệm

hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh.

Để hoàn thành khóa luận này, em xin được trân trọng cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Thị Thúy đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành tốt bài khóa luận trong suốt thời gian vừa qua.

Hà Nội, ngày tháng năm

Sinh viên thực hiện

Lê Thu Hà

CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH

TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp (TCDN) là một phạm trù kinh tế xã hội, phát sinh và

tồn tại cùng với sự tồn tại của nhà nước và nền sản xuất hàng hóa. Khái niệm và quan

điểm về tài chính cũng luôn thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, từng chế độ chính trị.

Do vậy, xem xét các quan điểm về tài chính cũng luôn thay đổi theo từng giai đoạn

lịch sử, từng chế độ chính trị, do vậy xem xét các quan điểm về tài chính là rất cần

thiết đối với các nhà phân tích tài chính. Để phân tích được tài chính doanh nghiệp một

cách chính xác và hiệu quả, trước tiên cần phải hiểu được phân tích tài chính doanh

nghiệp là gì. Có nhiều khái niệm khác nhau, dưới đây là một vài khái niệm về tài chính

doanh nghiệp hiện nay.

Phân tích TCDN là tổng thể các phương pháp sử dụng để thu thập và xử lý các

thông tin kế toán, tài chính,... nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng phát triển

của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định quản trị phù

hợp. Phân tích TCDN bao gồm các bước chủ yếu sau: thu thập thông tin; xử lý thông

tin; dự đoán và quyết định [1,tr.12]

Phân tích TCDN được dùng để xác định giá trị kinh tế, đánh giá các mặt mạnh

yếu của doanh nghiệp cũng như các cơ hội và thách thức đặt ra với điều kiện hiện tại

của doanh nghiệp. Từ đó, đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm duy trì và cải thiện tình

hình tài chính doanh nghiệp. Ngoài ra, phân tích TCDN còn là tiền đề của việc lập dự

báo và lập kế hoạch tài chính, xây dựng mục tiêu kinh doanh [1,tr.12]

“Phân tích tài chính của doanh nghiệp là việc xem xét đánh giá kết quả của việc

quản lí và điều hành tài chính của doanh nghiệp thông qua các số liệu trên báo cáo tài

chính, phân tích những điểm đã làm được và những gì chưa làm được, kết quả đạt

được ra sao. Những điểm mạnh của doanh nghiệp cần phát huy và những điểm yếu

còn tồn tại để có biện pháp khắc phục kịp thời” [1,tr.12]

1.1.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính cung cấp những thông tin hữu ích giúp kiểm tra, phân tích

một cách tổng hợp, toàn diện, có hệ thống về tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình

1

thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Những người quản lý tài chính khi phân tích

tài chính cần cân nhắc tính toán tới mức độ rủi ro và tác động của nó tới doanh nghiệp

mà biểu hiện chính là khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động

cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tiếp tục

nghiên cứu và đưa ra các dự đoán về kết quả hoạt động kinh doanh nói chung, mức

doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai. Ngoài ra, phân tích tài chính còn

cung cấp thông tin, số liệu để kiểm tra giám sát tình hình hạch toán kinh doanh, tình

hình chấp hành các chính sách chế độ kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Cùng với sự

phát triển của xã hội thì việc phân tích tài chính càng trở nên quan trọng bởi công tác

phân tích tài chính ngày càng cho thấy sự cần thiết của nó đối với sự phát triển doanh

nghiệp. Phân tích tài chính cho thấy khả năng và tiềm năng kinh tế tài chính của doanh

nghiệp, do đó sẽ giúp cho công tác dự báo, lập kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn,

dễ dàng đưa ra các chính sách tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động.

Trước đây, việc phân tích tài chính chỉ để phục vụ nhu cầu cho các nhà đầu tư

và ngân hàng. Hiện nay, việc phân tích tài chính được rất nhiều đối tượng quan tâm,

tùy theo mục đích khác nhau của người sử dụng mà phân tích tài chính doanh nghiệp

sẽ có vai trò khác nhau:

Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Phân tích tài chính cung cấp các thông tin

về toàn bộ tình hình tài chính của doanh nghiệp. Các nhà quản lý doanh nghiệp cần các

thông tin để kiểm soát và chỉ đạo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình làm cơ

sở cho các dự báo tài chính, quyết định đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận. Bên cạnh

đó, nhà quản trị cần biết tất cả các thông tin bên trong cũng như bên ngoài của doanh

nghiệp. Họ cần chú ý đến lĩnh vực nào của doanh nghiệp là thành công nhất, lĩnh vực

nào chưa thành công; những điểm mạnh cũng như hạn chế về tình hình tài chính của

doanh nghiệp. Việc phân tích tài chính sẽ đem lại cái nhìn rõ ràng tại các mục cụ thể.

Đó là cơ sở để định hướng các quyết định của ban giám đốc về dự báo tài chính, kế

hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát các hoạt động quản lý. Căn cứ vào báo cáo phân

tích tài chính, các nhà quản lý sẽ dự đoán về tình hình tài chính của doanh nghiệp

trong tương lai từ đó thực hiện các chính sách điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh

doanh cho phù hợp với tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp [2,tr.15]

Đối với các nhà đầu tư: Các nhà đầu tư là các doanh nghiệp và cá nhân quan tâm

trực tiếp đến các giá trị của doanh nghiệp vì họ là người đã giao vốn cho doanh nghiệp

2

và có thể phải chịu rủi ro. Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức

sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và sự rủi ro. Vì thế, họ cần thông tin về điều kiện tài

chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanh nghiệp.

Các nhà đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động công tác quản lý. Những

điều đó tạo ra sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư. Nhà đầu tư phân tích tình

hình thu nhập của chủ sở hữu, biểu hiện là lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn

đầu tư. Hai yếu tố này ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp. Các nhà

đầu tư thường tiến hành đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp với câu hỏi trọng

tâm: lợi nhuận bình quân cổ phiếu của công ty sẽ là bao nhiêu? Dự kiến lợi nhuận sẽ

được nghiên cứu đầy đủ trong chính sách phân chia lợi tức cổ phần và trong nghiên

cứu rủi ro hướng các lựa chọn vào những cổ phiếu phù hợp nhất. Họ quan tâm tới phân

tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Để bảo vệ tài sản của

mình, các cổ đông phải thường xuyên phân tích tình hình tài chính và kết quả kinh

doanh để quyết định có tiếp tục nắm giữ cố phiếu của doanh nghiệp mà mình đang đầu

tư nữa hay không [2,tr.15]

Đối với các nhà cho vay: Như ngân hàng, công ty tài chính,…thì họ quan tâm

đến vấn đề doanh nghiệp có khả năng trả nợ vay hay không. Vì thế họ muốn biết khả

năng thanh toán và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Đối với các khoản vay ngắn

hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp có

nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với những khoản nợ đến hạn trả. Đối

với các khoản vay dài hạn, ngoài khả năng thanh toán, họ còn quan tâm đến khả năng

sinh lời vì việc hoàn vốn và lãi sẽ phụ thuộc vào khả năng sinh lời này. Các nhà đầu tư

tín dụng sẽ hạn chế hoặc từ chối cho các doanh nghiệp vay khi doanh nghiệp có dấu

hiệu có thể không thanh toán được các khoản nợ đến hạn [2,tr.16]

Đối với cơ quan Nhà nước: Các cơ quan quản lý của nhà nước cần các thông tin từ

phân tích báo cáo tài chính để kiểm tra tình hình tài chính, kiểm tra tình hình sản xuất của

doanh nghiệp và xây dựng các kế hoạch quản lý vĩ mô. Cơ quan thuế cần các thông tin từ

phân tích báo cáo tài chính để xác định số thuế mà doanh nghiệp phải nộp [2,tr17]

Đối với những người lao động trong doanh nghiệp: Lợi ích của những người

hưởng lương trong doanh nghiệp gắn liền với hoạt động tài chính của công ty. Họ

quan tâm đến các thông tin và số liệu tài chính để đánh giá, xem xét triển vọng của nó

trong tương lai.

3

Như vậy phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được

dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm

ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra

được những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm [2,tr.16]

Những nhà phân tích tài chính nghiên cứu và đưa ra các dự đoán về kết quả hoạt

động nói chung và mức doanh lợi nói riêng trong tương lai. Phân tích tài chính là cơ sở

để dự đoán tài chính. Ngoài ra, phân tích tài chính được ứng dụng theo nhiều hướng

khác nhau như với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ) và với mục

đích thông tin (trong hoặc ngoài doanh nghiệp). Việc thường xuyên tiến hành phân

tích tình hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụng thấy được thực trạng hoạt động tài

chính, từ đó xác định được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng đến từng hoạt động

kinh doanh. Trên cơ sở đó có những biện pháp hữu hiệu và ra các quyết định cần thiết

để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh.

Hiện nay, với sự phát triển lớn mạnh của doanh nghiệp cùng với quá trình cạnh

tranh khốc liệt thì phải có chiến lược kinh doanh cụ thể, hợp lý và chính xác, phân tích

tài chính sẽ có tác dụng to lớn trong việc thực hiện điều đó [2,tr17]

1.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp

1.2.1 Tài liệu phân tích

Hệ thống báo cáo tài chính

Để có thể đánh giá một cách chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp thì

phân tích tài chính đòi hỏi phải có một lượng cơ sở thông tin đầy đủ và khách quan.

Đó là tổng hợp các thông tin bên trong của doanh nghiệp ví dụ như là: thông tin về bản

thân doanh nghiệp, các thông tin khác liên quan đến doanh nghiệp và quan trọng nhất

là thông tin tài chính chủ yếu được lấy từ các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Còn

các thông tin bên ngoài của doanh nghiệp thì có các thông tin về tình hình nền kinh tế,

đối tác, đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp và các công ty có liên quan.

Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất bao gồm hệ thống 4 báo cáo

chính: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

và Thuyết minh báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính cho biết tình hình tài sản, nguồn

vốn cũng như kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và khả năng sinh lời

trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin chủ yếu sử dụng

4

trong việc phân tích, đánh giá và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp.

Bảng cân đối kế toán (BCĐKT): là một báo cáo tài chính tổng hợp dùng để khái

quát toàn bộ tài sản và nguồn hình thành tài sản đó tại một thời điểm nhất định. Các

chỉ tiêu trong BCĐKT được phản ánh dưới hình thức giá trị và theo nguyên tắc cân

đối: tổng tài sản bằng tổng nguồn vốn [2,tr.23]

Báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD): là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh

tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm các chỉ

tiêu về doanh thu, chi phí, lợi nhuận của hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và

hoạt động khác [2,tr.23]

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT): là một báo cáo tài chính thể hiện dòng

tiền ra và dòng tiền vào của một tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định (tháng,

quý, năm hay năm tài chính), báo cáo này là một công cụ giúp nhà quản lý tổ chức

kiểm soát dòng tiền của tổ chức [2,tr25]

Thuyết minh báo cáo tài chính (BCTT): được lập để giải thích và bổ sung thông

tin về tình hình hoạt động sản xuất – kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả

kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể

trình bày rõ ràng và chi tiết. Qua đó, nhà đầu tư hiểu rõ và chính xác hơn về tình hình

hoạt động thực tế của doanh nghiệp [2,tr.26]

Cơ sở dữ liệu khác

Sự tồn tại, phát triển cũng như quá trình suy thoái của doanh nghiệp phụ thuộc

vào nhiều yếu tố: Có yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài; Có yếu tố chủ quan và yếu

tố khách quan. Điều đó tuỳ thuộc vào tiêu thức phân loại các yếu tố ảnh hưởng.

Các yếu tố bên trong: Các yếu tố bên trong là những yếu tố thuộc về tổ chức

doanh nghiệp; trình độ quản lý; ngành nghề; sản phẩm; hàng hóa; dịch vụ mà doanh

nghiệp kinh doanh; quy trình công nghệ; năng lực của lao động...

Các yếu tố bên ngoài: Các yếu tố bên ngoài là những yếu tố mang tính khách

quan như: chế độ chính trị xã hội; tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế; tiến bộ khoa

học kỹ thuật; chính sách tài chính tiền tệ; chính sách thuế.... Cụ thể là:

Các thông tin chung: Thông tin chung là những thông tin về tình hình kinh tế

5

chính trị, môi trường pháp lý, kinh tế có liên quan đến cơ hội kinh tế, cơ hội đầu tư, cơ

hội về kỹ thuật công nghệ... Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tác động

mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Những thông tin về các cuộc thăm

dò thị trường, triển vọng phát triển trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ thương mại...

ảnh hưởng lớn đến chiến lược và sách lược kinh doanh trong từng thời kỳ.

Các thông tin theo ngành kinh tế: Thông tin theo ngành kinh tế là những thông

tin mà kết quả hoạt động của doanh nghiệp mang tính chất của ngành kinh tế như đặc

điểm của ngành kinh tế liên quan đến thực thể của sản phẩm, tiến trình kỹ thuật cần

tiến hành, cơ cấu sản xuất có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn, nhịp độ

phát triển của các chu kỳ kinh tế, độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển...

Các thông tin của bản thân doanh nghiệp: Thông tin về bản thân doanh nghiệp là

những thông tin về chiến lược, sách lược kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời

kỳ, thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình tạo lập,

phân phối và sử dụng vốn, tình hình và khả năng thanh toán... Những thông tin này

được thể hiện qua những giải trình của các nhà quản lý, qua Báo cáo tài chính, báo cáo

kế toán quản trị, báo cáo thống kê, hạch toán nghiệp vụ [2, tr.30]

1.2.2. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp

1.2.2.1. Phương pháp so sánh

So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu

hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Vì vậy, để tiến hành so sánh phải giải

quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể so sánh

được các chỉ tiêu tài chính như sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dụng, tính

chất và đơn vị tính toán.

- Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian.

- Kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch

- Giá trị so sánh có thể được chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số

bình quân.

- Nội dung so sánh bao gồm:

+ So sánh giữa các số hiện thực kỳ này với số hiện thực kỳ trước để thấy rõ xu

6

hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

+ So sánh giữa số liệu doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành, số liệu của các

doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp tốt hay xấu.

+ So sánh giữa số thực hiện so với kế hoạch để thấy mức phấn đấu của

doanh nghiệp.

+ So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng tổng số ở mỗi bản báo cáo và qua

đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các khoản mục tạo điều kiện cho việc so sánh.

+ So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và tương

đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp (Nguồn: Nguyễn Năng

Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc

Dân, tr.27-tr.30)

- Điều kiện so sánh:

+ Phải xác định rõ gốc so sánh và kỳ phân tích

+ Các chỉ tiêu so sánh (các trị số của chỉ tiêu so sánh) phải đảm bảo tính chất có

thể so sánh được với nhau. Muốn vậy, chúng ta phải thống nhất về nội dung kinh tế,

phương pháp tính toán và thời gian tính toán.

1.2.2.2. Phương pháp tỷ lệ

Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa trên

ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính.

Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu cần xác định được các ngưỡng, các

định mức để nhận xét, đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở

so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu.

Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng và bổ sung

càng hoàn thiện hơn vì: nguồn thông tin tài chính và kế toán được cải tiến và cung cấp

đầy đủ hơn là cơ sở để hình thành những tham chiếu đáng tin cậy nhằm đánh giá

những tỷ lệ của doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp. Việc áp dụng tin học cho

phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanh qúa trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ như:

- Tỷ lệ về khả năng thanh toán: được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các

khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.

7

- Tỷ lệ về khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: qua chỉ tiêu này

phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính.

- Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh: đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho

việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp.

- Tỷ lệ về khả năng sinh lời: phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp.

(Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”,

NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.32-tr.36)

1.2.2.3. Phương pháp Dupont

Trong phân tích tài chính, người ta thường vận dụng mô hình Dupont để phân

tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Nhờ sự phân tích mối liên hệ giữa các chỉ

tiêu mà người ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tich

theo một trình tự logic chặt chẽ. Chẳng hạn, vận dụng mô hinh Dupont phân tích hiệu

quả kinh doanh trong mối liên hệ giữa các yếu tố đầu vào và kết quả đầu ra của doanh

nghiệp trong một kỳ kinh doanh nhất định.

Chi phí đầu vào của doanh nghiệp có thể là tổng tài sản, tổng chi phí sản xuất

kinh doanh chi ra trong kì, vốn ngắn hạn, vốn dài hạn, vốn chủ sở hữu,...

Kết quả đầu ra của doanh nghiệp có thể là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch

vụ, doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận thuần từ hoạt động

kinh doanh hoặc tổng lợi nhuận sau thuế doanh nghiệp,...

Mô hình Dupont thường được vận dụng trong mô hình tài chính có dạng:

Lợi nhuận thuần Lợi nhuận thuần Doanh thu thuần Tỷ suất sinh = = X lời của tài sản Tổng tài sản Doanh thu thuần Tổng tài sản

Từ mô hình phân tích trên cho thấy, để nâng cao khả năng sinh lời của một đồng

tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng, quản trị doanh nghiệp phải nghiên cứu xem xét

có những biện pháp gì cho việc nâng cao không ngừng khả năng sinh lời cảu quá trình

sử dụng tài sản của doanh nghiệp.

8

Biểu đồ 1.1. Mô hình phân tích Dupont

(Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “ Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”,

NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.42-tr.46)

Từ mô hình phân tích Dupont ở trên cho thấy, số vòng quay của tài sản càng cao,

điều đó chứng tỏ rằng sức sản xuất tài sản của doanh nghiệp càng lớn. Do vậy, làm cho

tỷ lệ sinh lời của tài sản cang lớn. Để nâng cao số vòng quay của tài sản, một mặt phải

tăng quy mô về doanh thu thuần mặt khác phải sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu

tổng tài sản. Như vậy tổng doanh thu thuần và tổng tài sản bình quân có quan hệ mật

thiết với nhau, thông thường chúng có quan hệ cùng chiều. Nghĩa là tổng tài sản tăng thì

tổng doanh thu thuần cũng tăng

Từ mô hình phân tích trên cho thấy, tỷ lệ lãi theo doanh thu thuần lại phụ thuộc vào

hai nhân tố cơ bản. Đó là tổng lợi nhuận thuần và doanh thu thuần. Hai nhân tố này có quan

hệ cùng chiều. Nghia là nếu doanh thu thuần tăng thì cũng làm cho lợi nhuần tăng.

Phân tích báo cáo tài chính dựa vào mô hình Dupont có ý nghĩa rất lớn đối với

quản trị doanh nghiệp. Điều đó không chỉ biểu hiện ở chỗ: có thể đánh giá hiệu quả kinh

9

doanh một cách sâu sắc và toàn diện. Đồng thời đanh giá đầy đủ và khách quan đến

những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó đề ra được

hệ thống các biện pháp tỷ mỉ và xác thực nhằm tăng cường công tác cải tiến tổ chức

quản lý doanh nghiệp, góp phần không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh

nghiệp ở các kì kinh doanh tiếp theo.

1.3 . Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp

1.3.1 Phân tích tình hình cơ cấu Tài sản – Nguồn vốn

Cơ cấu tài sản

Cơ cấu tài sản thể hiện khi doanh nghiệp sử dụng một đồng vốn kinh doanh thì

dành ra bao nhiêu để hình thành tài sản lưu động còn bao nhiêu để đầu tư vào tài sản cố

định và được phản ánh bởi tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn và tỷ suất đầu tư vào tài sản

ngắn hạn.

Giá trị tài sản ngắn hạn (dài hạn) x 100% Tỷ suất tài sản ngắn hạn (dài hạn) = Tổng giá trị tài sản

Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn (ngắn hạn) càng lớn càng thể hiện mức độ

quan trọng của tài sản dài hạn (ngắn hạn) trong tổng tài sản mà doanh nghiệp đang sử

dụng vào kinh doanh, tình trạng cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất cũng như xu

hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp.

Hai tỷ suất này phản ánh trong một đồng tổng tài sản mà doanh nghiệp bỏ ra thì

có bao nhiêu đồng được dùng để hình thành nên TSDH và TSNH. Tỷ suất đầu tư vào

TSDH thể hiện mức độ đầu tư vào TSCĐ và tình hình trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ

thuật, năng lực sản xuất hiện có và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp trong

tương lai [2,tr.140]

Cơ cấu nguồn vốn

Cơ cấu nguồn vốn: là chỉ tiêu phản ánh bình quân trong một đồng vốn kinh doanh hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vay nợ, có mấy đồng là vốn

chủ sở hữu. Hệ số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu: là hai tỷ số quan trọng nhất phản ánh cơ cấu nguồn vốn của công ty.

Giá trị nợ phải trả ( VCSH) Tỷ suất nợ phải trả (VCSH) = Tổng giá trị nguồn vốn

Để tiến hành phân tích cơ cấu nguồn vốn ta lập bảng: Phân tích cơ cấu nguồn

vốn. Đối với nguồn hình thành tài sản cần xem xét tỷ trọng của từng loại chiếm trong

10

tổng số cũng như xu hướng biến động của chúng. Nếu nguồn vốn chủ sở hữu

chiếm tỷ trọng cao trong tổng số thì doanh nghiệp có đủ khả năng tự đảm bảo

về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với c hủ nợ là cao.

Ngược lại, nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng số thì khả năng tự

đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp. Điều này dễ thấy thông

qua chỉ tiêu tỷ suất tài trợ.

Tỷ suất nợ phải trả cho biết số nợ mà doanh nghiệp phải trả cho các doanh

nghiệp hoặc cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh tỷ suất này càng nhỏ càng

tốt. Nó thể hiện khả năng tự chủ về vốn của doanh nghiệp.

Trong khi đó, tỷ suất vốn chủ sở hữu (hay tỷ suất tự tài trợ) lại cho biết số vốn

tự có để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh. Tỷ suất này càng cao càng

thể hiện khả năng độc lập cao về mặt tài chính hay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp

càng tốt bởi vì hầu hết tài sản mà doanh nghiệp hiện có đều được đầu tư bằng số vốn

của mình [2,tr.147]

1.3.2 Phân tích mỗi quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn

Để phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, các nhà phân tích thường

tính ra và so sánh các chỉ tiêu sau:

+ Hệ số nợ trên tài sản

Giá trị nợ phải trả Hệ số nợ trên tài sản = Tổng giá trị tài sản

Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng các

khoản nợ. Trị số của hệ số nợ cao chứng tỏ mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào

chủ nợ càng lớn, mức độ độc lập về tài chính càng thấp. Do vậy doanh nghiệp càng ít

cơ hội và khả năng tiếp nhận các khoản vay do các nhà đầu tư tín dụng không mấy

mặn mà với các doanh nghiệp có hệ số nợ so với tài sản cao. Hệ số nợ trên tài sản còn

có thể được biến đổi bằng cách:

+ Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu:

Giá trị tồng tài sản Hệ số tài sản trên = vốn chủ sở hữu Giá trị vốn chủ sở hữu

11

Có thể viết lại chỉ tiêu này theo cách khác như sau:

Giá trị nợ phải trả Hệ số tài sản trên Giá trị vốn chủ sở hữu + giá trị nợ phải trả = = 1 + vốn chủ sở hữu Giá trị vốn chủ sở hữu Giá trị vốn chủ sở hữu

+ Qua việc xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu qua nhiều kỳ kinh doanh, gắn

với điều kiện kinh doanh cụ thể, các nhà quản lý sẽ có quyết định huy động nguồn vốn

nào với mức độ bao nhiêu là hợp lý, bảo đảm hiệu quả kinh doanh cao nhất và an ninh

tài chính bền vững nhất ( Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích

báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.154)

1.3.3 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp qua BCKQKD. Thông tin

trên BCKQKD là thông tin về doanh thu, chi phí, lợi nhuận trước và sau thuế của

doanh nghiệp thu được từ các hoạt động trong năm và số thuế thu nhập doanh nghiệp

phải đóng vào NSNN. Việc so sánh các chỉ tiêu trên BCKQKD năm nay so với năm

trước sẽ giúp xác định xu hướng biến động của các chỉ tiêu đó và là cơ sở dự đoán chỉ

tiêu đó trong tương lai, cụ thể:

Xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu trên BCKQKD giữa kỳ này với kỳ

trước bằng việc so sánh về số tuyệt đối, tương đối. Qua đó, thấy được tính hiệu quả

trong từng hoạt động (hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động khác).

Phân tích các chỉ tiêu tỉ lệ GVHB trên DTT, chi phí bán hàng trên DTT, chi phí

quản lí doanh nghiệp trên DTT và so sánh với năm trước để khái quát tình hình quản lí

và sử dụng chi phí SXKD năm nay tốt hay kém hơn năm trước.

1.3.4 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán

+ Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn

Tổng giá trị tài sản ngắn hạn bình quân Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn = Tổng giá trị nợ ngắn hạn

+ Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn: Thể hiện khả năng doanh nghiệp có đủ tài

sản ngắn hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không. Nếu hệ số khả năng thanh

toán ngắn hạn nhỏ hơn 1, chứng tỏ rằng tài sản ngắn hạn không đủ để đảm bảo thanh

toán khoản nợ ngắn hạn, trong trường hợp này nếu công ty cân đối dòng tiền không tốt

sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán, ảnh hưởng đến uy tín tài chính của công ty. Tuy

12

nhiên, hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn cao cũng không tốt vì sẽ ảnh hưởng đến

khả năng sinh lời của công ty (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân

tích báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.185-186).

Trong hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn bao hàm một loại tài sản khó chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng đó là hàng tồn kho, vì vậy để xem xét chính xác hơn

khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty, nhà phân tích sử dụng chỉ tiêu bổ sung

là khả năng thanh toán nhanh, cụ thể:

+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Trị giá tiền và các khoản tương đương tiền Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tổng giá trị nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nhanh của tiền và các khoản tương

đương tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này cao quá , kéo dài chứng tỏ khả

năng thanh toán nhanh tốt, tuy nhiên chỉ tiêu này quqs cao có thể dẫn tới hiệu quả sử

dụng vốn giảm. Chỉ tiêu này thấp quá, kéo dài chứng tỏ doanh nghiệp không đủ khả

năng thanh toán các khoản nợ công ngắn hạn, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy

cơ phá sản có thể xảy ra. Ta có thể tham khảo hệ số thanh toán nhanh (Kí hiệu: K), qua

thực tế nghiên cứu tất cả các doanh nghiệp:

K< 0,5 thấp

0,5 ≤ K ≤ 1 trung bình

K > 1 cao (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài

chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.184-185)

+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh bình thường

Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho được gọi là tài sản dễ chuyển đổi thành tiền.

Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nhanh của các tài sản có thể chuyển đổi

thành tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn,

Tổng giá trị tài sản ngắn hạn - Giá trị hàng tồn kho Hệ số khả năng thanh toán = bình thường Tổng giá trị nợ ngắn hạn

Nếu hệ số khả năng thanh toán bình thường quá cao, kéo dài cũng không tốt, có

thể dẫn tới hiệu quả sử dụng vốn giảm. Chỉ tiêu này thấp quá, ké dài càng không tốt có

thể dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản có thể xảy ra. Ta có thể tham

khảo hệ số thanh toán nhanh bình thường (k), qua thực tế nghiên cứu của trung bình

các doanh nghiêp với các lĩnh vực chủ yếu trên thị trường như sau:

13

K < 0,75 thấp

0,75 ≤ K ≤ 2 trung bình

K > 2 cao (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài

chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.186)

+ Hệ số khả năng thanh toán lãi vay

Tổng giá trị lợi nhuận trước lãi vay và thuế Hệ số thanh toán lãi vay =

Tổng lãi vay phải trả + Lãi vay phải trả là khoản chi phí sử dụng vốn nợ vay mà doanh nghiệp phải trả

cho nhà cung cấp vốn và nguồn trả nợ là từ lợi nhuận trước lãi vay và thuế. Hệ số này

cho biết khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh nghiệp, đồng thời phản ánh mức

độ rủi ro có thể gặp phải của các chủ nợ. Nó cho biết số vốn đi vay đã được doanh

nghiệp sử dụng như thế nào, đem lại mức lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi tiền

vay hay không. Hệ số này càng cao phản ánh công ty làm ăn càng hiệu quả, mức sinh

lời của đồng vốn cao đủ để đảm bảo thanh toán lãi vay đúng hạn và ngược lại (Nguồn:

Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”, NXB Đại học

Kinh Tế Quốc Dân, tr.186).

1.3.5 Phân tích chỉ tiêu khả năng quản lý tài sản

+ Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn

ơ

Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn = Trị giá tài sản ngắn hạn bình quân

Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn thể hiện một đồng tài sản ngắn hạn của công

ty tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao,

khả năng quản lý tài sản ngắn hạn của công ty càng tốt, tài sản ngắn hạn đóng góp vào

việc tạo ra doanh thu thuần lớn và tăng khả năng sinh lời của công ty. Hiệu quả sử

dụng tài sản ngắn hạn là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá chất

lượng công tác quản lý và sử dụng tài sản kinh doanh nói chung của doanh nghiệp.

Thông qua chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho phép các nhà quản

lý tài chính của doanh nghiệp đề ra các biện pháp, các chính sách quyết định đúng đắn,

phù hợp để quản lý tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng ngày càng có hiệu

quả trong tương lai, từ đó nâng cao lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài

chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.209).

14

+ Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn

Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn (TSDH) phản ánh một đồng giá trị tài sản dài

hạn làm ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn được thể

hiện qua chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu này nêu lên các đặc điểm, tính chất, cơ cấu, trình

độ phổ biến, đặc trưng cơ bản của hiện tượng nghiên cứu. Chỉ tiêu chất lượng này

được thể hiện dưới hình thức giá trị về tình hình và sử dụng tài sản dài hạn trong một

thời gian nhất định. Trong sản xuất kinh doanh thì chỉ tiêu này là quan hệ so sánh giữa

giá trị sản lượng đã được tạo ra với giá trị tài sản cố định sử dụng bình quân trong kỳ;

hoặc là quan hệ so sánh giữa lợi nhuận thực hiện với giá trị tài sản dài hạn sử dụng

bình quân.

Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn = Giá trị tài sản dài hạn bình quân

Một đồng tài sản dài hạn tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này cao

chứng tỏ hiệu quả quản lý tài sản dài hạn của công ty tốt, mức đầu tư và khai thác tài

sản dài hạn hợp lý, điều này làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh trong công ty. Do

đó, để nâng cao chỉ tiêu này, đồng thời với việc tăng lượng sản phẩm bán ra, doanh

nghiệp phải giảm tuyệt đối những tài sản dài hạn thừa không cần dùng vào sản xuất,

bảo đảm tỷ lệ cân đối giữ tài sản dài hạn tích cực và không tích cực, phát huy và khai

thác tối đa năng lực sản xuất hiện có của tài sản dài hạn (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc

(2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân,

tr.212)

+ Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp mong muốn tài sản vận

động không ngừng để đẩy mạnh tăng doanh thu, từ đó là nhân tố góp phần tăng lợi

nhuận cho doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản có thể xác định bằng công

thức như sau:

Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Giá trị bình quân tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiêu

vòng hay 1 đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng

15

cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện để

nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ các tài sản vận

động chậm, có thể hàng tồn kho, hàng dở dang nhiều, có thể tài sản cố định chưa hoạt

động hết công suất làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm. Tuy nhiên, cần lưu ý

rằng khi phân tích chỉ tiêu này cần xem xét đặc điểm ngành nghề kinh doanh và đặc

điểm tài sản mà doanh nghiệp hoạt động, để có kết luận chính xác và đưa ra biện pháp

hợp lý để tăng tốc độ quay vòng của tài sản (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013),

“Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.212)

Vòng quay hàng tồn kho

Số vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn đánh giá doanh nghiệp sử dụng

hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào. Phản ánh số vòng quay hàng hoá tồn kho bình quân trong kỳ hay là thời gian hàng hoá nằm trong kho, trước khi bán ra.

Giá vốn hàng bán Số vòng quay hàng tồn kho = Giá trị hàng tồn kho bình quân

Vòng quay hàng tồn kho lớn thì thời gian quay vòng nhanh hay hàng tồn kho lưu

trong kho ngắn hơn, công ty thu hồi vốn từ hàng tồn kho nhanh hơn (bán hàng nhanh

hơn), từ đó tiết kiệm được các chi phí liên quan đến hàng tồn kho như chi phí cơ hội,

chi phí đầu tư, chi phí lưu kho...tăng khả năng sinh lời của công ty. Khi phân tích về

vòng quay hàng tồn kho nhà phân tích cần xem xét các tác động của nhân tố ngành và

tình hình nền kinh tế. Với những ngành sản xuất hoặc những ngành mà hàng hóa là tư

liệu sản xuất thì thời gian lưu kho trung bình của hàng tồn kho sẽ lớn hơn so với ngành

thương mại hoặc hàng hóa là tư liệu tiêu dùng. Mặt khác, khi nền kinh tế trong trạng

thái phát triển vòng quay hàng tồn kho của các công ty sẽ có xu hướng tốt hơn trong

nền kinh tế khủng hoảng (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích

báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.300).

+ Vòng quay khoản phải thu

Khoản phải thu là những hoá đơn bán hàng chưa thu tiền về do doanh nghiệp

thực hiện chính sách bán chịu, các khoản tạm ứng chưa thanh toán, khoản trả trước

ơ

cho người bán, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, phải thu nội bộ.

Doanh thu thuần Số vòng quay các khoản phải thu = Số bình quân các khoản phải thu

16

Vòng quay khoản phải thu thấp thì thời gian quay vòng khoản phải thu dài hay 1

đồng mà công ty bán chịu sẽ thu hồi chậm, dẫn đến số vốn bị khách hàng chiếm dụng

lớn. Điều này sẽ dẫn đến tăng các khoản chi phí quản lý phải thu như chi phí đòi nợ,

chi phí nợ xấu, chi phí cơ hội, chi phí chiết khấu...Tuy nhiên vòng quay khoản phải thu

trong công ty chịu ảnh hưởng nhiều bởi chính sách bán chịu vì nếu công ty nới lỏng

chính sách bán chịu như thời gian bán chịu kéo dài ra, hay tiêu chuẩn bán chịu thấp

hơn sẽ khiến cho vòng quay khoản phải thu giảm và thời gian thu nợ cũng tăng lên. Do

đó, khi phân tích về quản lý khoản phải thu cần xem xét toàn bộ chính sách bán chịu

của công ty (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài

chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.305).

+ Thời gian quay vòng của tiền

Vòng quay tiền phản ánh thời gian quay vòng của tiền trong chu kì kinh doanh của

doanh nghiệp. Vòng quay tiền và thời gian quay vòng tiền được xác định như sau:

Doanh thu thuần

Vòng quay tiền = Giá trị iền và chứng khoán ngắn hạn

360

Thời gian quay vòng tiền =

Vòng quay tiền

Tiền là khoản mục có tính lỏng cao nhất trong tổng tài sản của doanh nghiệp.

Vòng quay tiền càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh daonh của doanh nghiệp càng tốt.

Việc giữ tiền và các tài sản tương đương tiền đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi thế

như chủ động trong kinh doanh, mua hàng trả tiền ngay được hưởng chiết khấu, ngoài

ra khi vật tư hàng hóa rẻ doanh nghiệp có thể dự trữ với lượng lớn tạo điều kiện giảm

chi phí sản xuất. Tuy nhiên, tiền được dự trữ ở mức không hợp lí có thể gây ra nhiều

bất lợi. Thứ nhất điều kiện thiếu vốn ở các doanh nghiệp đang khá phổ biến, việc giữ

quá nhiều tiền sẽ gây ứ đọng vốn, hạn chế khả năng đầu tư vào tài sản khác, do đó lợi

nhuận của doanh nghiệp có thể bị giảm. Thứ hai, do giá trị theo thời gian và do tác

động của lạm phát đồng tiền sẽ giảm giá trị. Vì vậy cản quan tâm tới tốc độ vòng quay

tiền sao cho đem lại khả năng sinh lợi cao nhất cho doanh nghiệp (Nguồn: Nguyễn

Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế

Quốc Dân, tr.310).

17

1.3.6 Phân tích chỉ tiêu khả năng sinh lời

+ Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

Tỷ suất lợi nhuân trên doanh thu phản ánh trong một đồng doanh thu mà doanh

nghiệp thực hiện trong kỳ có mấy đồng lợi nhuận. Tỷ suất này càng cao chứng tỏ

doanh nghiệp làm ăn càng có lãi.

Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = x100% Doanh thu thuần

+ Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả việc sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh

của công ty và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo

công ty.

Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản = x100% Tổng giá trị tài sản

Hệ số này có ý nghĩa là với 1 đồng tài sản của công ty thì sẽ mang lại bao nhiêu

đồng lợi nhuận. Một công ty đầu tư tài sản ít nhưng thu được lợi nhuận cao sẽ là tốt

hơn so với công ty đầu tư nhiều vào tài sản mà lợi nhuận thu được lại thấp. Hệ số ROA

thường có sự chênh lệch giữa các ngành. Những ngành đòi hỏi phải có đầu tư tài sản

lớn vào dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ như các ngành vận tải, xây

dựng, sản xuất kim loại… thường có ROA nhỏ hơn so với các ngành không cần phải

đầu tư nhiều vào tài sản như ngành dịch vụ, quảng cáo, phần mềm…

+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Các nhà đầu tư thường quan tâm đến chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu

vì họ quan tâm đến khả năng thu được lợi nhuận từ đồng vốn mà họ bỏ ra để đầu tư,

hơn nữa chỉ tiêu này cũng giúp các nhà quản trị tăng cường kiểm soát và bảo toàn vốn

góp cho doanh nghiệp tăng trưởng bền vững. Chỉ tiêu này được xác định bằng công

thức sau:

Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = x100% Tổng giá trị vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư thì tạo ra được bao

nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao, càng

18

biểu hiện xu hướng tích cực vì sẽ giúp cho các nhà quản trị có thể huy động vốn trên

thị trường tài chính để tài trợ cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp, ngược lại chỉ tiêu

này nhỏ thì hiệu quả kinh doanh thấp, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc huy

động vốn, tuy nhiên sức sinh lời của vốn chủ sở hữu cao không phải lúc nào cũng

thuận lợi do ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính, khi đó mức độ mạo hiểm và rủi ro cao,

vì vậy khi phân tích phải tùy thuộc đặc điểm của ngành nghề kinh doanh.

Phân tích khả năng sinh lời thông qua mô hình tài chính Dupont:

Phân tích theo phương pháp Dupont:

Để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên VCSH (ROE) của một công ty, bao gồm xu hướng theo thời gian và kết quả hoạt động so với các đối thủ

cạnh tranh, các nhà phân tích thường “phân tích thành phần” của ROE thành một tích số

của một chuỗi các tỷ số. Mỗi tỷ số thành phần đều có ý nghĩa riêng, và quá trình này

nhằm tập trung sự chú ý của nhà phân tích vào các yếu tố riêng biệt ảnh hưởng đến kết

quả hoạt động. Kiểu phân tích thành phần ROE này được gọi là phân tích DuPont.

Dupont là tên một nhà quản trị người Pháp tham gia kinh doanh ở Mỹ. Dupont

đã chỉ ra được mỗi quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí

và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn.

Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của

doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupont tích

hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán. Trong phân tích tài

chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mỗi liên hệ giữa chỉ tiêu tài

chính. Chính nhờ sự phân tích liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thấy phát

hiên ra những nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phântích theo một trình tự nhất định.

Dưới góc độ nhà đầu tư, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là tỷ suất lợi

nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Do vốn chủ sở hữu là phần của tổng nguồn vốn hình

thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản. Mối quan

hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:

Lợi nhuận ròng Lợi nhuận ròng Tổng giá trị tài sản x =

Tổng giá trị vốn chủ sở hữu Tổng giá trị tài sản Tổng giá trị vốn chủ sở hữu

Vì vậy, mô hình Dupont có thể tiếp tục được triển khai chi tiết thành:

Tổng tài sản

Lợi nhuận ròng Lợi nhuận ròng Doanh thu = X x

Vốn chủ sở hữu Doanh thu Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu

19

Hay, ROE = hệ số lợi nhuận ròng x hiệu suất sử dụng tổng tài sản x đò bẩy tài chính

Như vậy qua khai triển chỉ tiêu ROE chúng ta có thể thấy chỉ tiêu này được cấu

thành bởi ba yếu tố chính là lợi nhuận ròng, hiệu suất sử dụng tài sản và đòn bẩy tài

chính có nghĩa là để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh ( tức là gia tăng ROE) doanh

nghiệp có 3 sự lựa chọn cơ bản là tăng một trong ba yếu tố trên.

Thứ nhất doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng cạnh tranh nhằm nâng cao

doanh thu và đồng thời tiết giảm chi phí nhằm gia tăng lợi nhuận ròng biên.

Thứ hai doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách sử dụng

tốt hơn các tài sản sẵn có của mình nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Hay

nói một cách dễ hiểu hơn là doanh nghiệp cần tạo ra nhiều doanh thu hơn từ những tài

sản sẵn có. Một ví dụ đơn giản và khá thú vị có thể minh chứng cho điều này là giả sử

bạn có một cửa hàng mặt phố nhỏ ban sáng bạn bán đồ ăn sáng, buổi trưa bạn bán cơm

bình dân cho dân văn phòng và buổi tối bạn bán cà phê. Như vậy với cùng một tài sản là

cửa hàng bạn đã gia tăng được doanh thu nhờ biết bán những thứ cần thiết vào thời gian

thích hợp.

Thứ ba doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao

đòn bẩy tài chính hay nói cách khác là vay nợ thêm vốn để đầu tư. Nếu mức lợi nhuận

trên tổng tài san cua doanh nghiệp cao hơn mức lãi suất cho vay thì việc vay tiền để đầu

tư của doanh nghiệp là hiệu quả.

Khi áp dụng công thức Dupont vào phân tích các nhà phân tích nên tiến hành so

sánh chỉ tiêu ROE của doanh nghiệp qua các năm. Sau đó phân tích xem sự tăng trưởng

hoặc tụt giảm của chỉ số nay qua các năm bắt nguồn từ nguyên nhân nào trong ba

nguyên nhân kể trên từ đó đưa ra nhận định và dự đoán xu hướng của ROE trong các

năm sau. Ví dụ nhà phân tích nhận thấy chỉ tiêu ROE tăng vọt qua các năm xuất phát từ

việc doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính ngày càng tăng thì nhà phân tích cần tự hỏi

xem liệu xu hướng này có tiếp tục được hay không? Lãi suất trong các năm tới có cho

phép doanh nghiệp tiếp tục sử dụng chiến lược này không? Khả năng tài chính của

doanh nghiệp có còn đảm bảo an toàn không? Nếu sự gia tăng ROE đến từ việc gia tăng

biên lợi nhuận hoặc vòng quay tổng tài sản thì đây là một dấu hiệu tích cực tuy nhiên

các nhà phân tích cần phân tích sâu hơn. Liệu sự tiết giảm chi phí của doanh nghiệp có

thể tiếp tục diễn ra không và nó bắt nguồn từ đâu? Doanh thu có tiếp tục tăng không với

cơ cấu sản phẩm của công ty như hiện nay và sẽ tăng ở mức nào?

20

1.4 . Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính có ý nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng khác nhau, ảnh

hưởng đến các quyết định đầu tư, tài trợ. Tuy nhiên, phân tích tài chính chỉ thực sự

phát huy tác dụng khi nó phản anh một cách trung thực tài chính doanh nghiệp, vị thế

của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong ngành. Các yếu tố ảnh hưởng

đến phân tích tài chính doanh nghiệp được thể hiên trong sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp

( Nguồn: Nguyễn Năng Phúc, (2013), “Giáo trình phân tích báo cáo tài chính”, NXB Đại Học KTQD, tr.490)

Chất lượng thông tin sử dụng

Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng phân tích tài chính,

bời một khi thông tin không chính xác, không phù hợp thì kết quả mà phân tích tài

chính đem lại chỉ là hình thức, không có ý nghĩa gì. Vì vậy, có thể nói thông tin sử

dụng trong phân tích tài chính là nền tảng của phân tích tài chính.

Từ những thông tin bên trong trực tiếp phản ánh tài chính doanh nghiệp đến

những thông tin bên ngoài liên quan đến mội trường hoạt động của doanh nghiệp,

người phân tích có thể thấy tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và

dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai.

Tình hình nền kinh tế trong nước và ngoài nước không ngừng biến động, tác

động hàng ngày đến điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp. Hơn nữa, tiền lại có giá

trị theo thời gian, một đồng tiền hôm nay có giá trị khác đồng tiền trong tương lại. Do

21

đó, tính kịp thời, giá trị dự đoán là đặc điểm cần thiết làm nên sự phù hợp của thông

tin. Thiếu đi sự phù hợp và chính xác, thông tin không còn độ tin cậy và điều này tất

yếu ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp.

Trình độ cán bộ phân tích

Có được thông tin phù hợp và chính xác nhưng tập hợp và xử lý thông tin đó

như thế nào để đưa lại kết quả phân tích tài chính có chất lượng cao lại là điều không

đơn giản. Nó phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của cán bộ thực hiện phân tích. Từ các

thông tin thu nhập được, các cán bộ phân tích phải tính toàn các chỉ tiêu, thiết lập các

bảng biểu. Tuy nhiên, đó chỉ là những con số và nếu chúng đứng riêng lẻ thì tự chúng

sẽ không nói lên điều gì. Nhiệm vụ của người phân tích là phải gắn kết, tạo lâp mối

liên hệ giức các chỉ tiêu, kết hợp với các thông tin và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của

doanh nghiệp để lý giải tình hình tài chính của doanh nghiệp, xác định thế mạnh, điểm

yếu cũng như nguyên nhân dẫn đến điểm yếu trên. Hay nói cách khác, cán bộ phân

tích là người làm cho các con số “biết nói”. Chính tầm quan trọng và sự phức tạp của

phân tích tài chính đòi hỏi cán bộ phân tích phải có trình độ chuyên môn cao.

Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành

Phân tích tài chính sẽ trở nên đầy đủ và có ý nghĩa hơn nếu có sự tồn tại của hệ

thống chỉ tiêu trung bình ngành. Đây là cơ sở tham chiếu quan trọng khi tiến hành

phân tích. Người ta chỉ có thể nói các tỷ lệ tài chính của doanh nghiệp là cao hay thấp,

tốt hay xấu khi đem so sánh với các tỷ lệ tài chính của một doanh nghiệp khác có đặc

điểm và điều kiện sản xuất kinh doanh tương tự mà đại diện ở đây là chỉ tiêu trung

bình ngành. Thông qua đối chiếu với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, nhà quản lý

tài chính biết được vị thế của doanh nghiệp từ đó đánh giá được thực trạng tài chính

doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.

22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Phân tích tình hình tài chính là một vấn đề hết sức phức tạp, trong giới hạn cho

phép, đề tài không thể chỉ ra hết được những lý luận về phân tích tài chính doanh

nghiệp mà chỉ có thể nêu lên những nhận định chung nhất. Phân tích tài chính bao hàm

rất nhiều nội dung, khía cạnh khác nhau, đòi hỏi nhà quản trị phải tìm hiểu và có hiểu

biết sâu rộng về tài chính doanh nghiệp hiện đại, cũng như nắm bắt kịp thời những

biến động về tình hình kinh tế - xã hội có ảnh hưởng tới doanh nghiệp. Trong chương

1, đề tài đã nêu khái quát những nội dung lý luận cơ bản, quan trọng nhất của hoạt

động phân tích tài chính và mối quan hệ giữa phân tích tài chính doanh nghiệp với việc

nâng cao tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để cụ thể hóa những nội

dung đó, chương 2 sẽ đi sâu phân tích tình hình tài chính thực tế tại “Công ty trách

nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh”.

23

CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY

CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI

XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT ANH

2.1 Khái quát chung về công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất Thương mại Xuất

nhập khẩu Việt Anh

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triền công ty

Tên Công ty : CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT THƯƠNG

MẠI XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT ANH.

Tên viết tắt : VIỆT ANH CO.,LTD

Điện thoại : (04)66756742

Fax : (04)35378171

Email : info@hyundaiwater.com

Website : http://www.hyundaiwater.com.vn

Mã số thuế : 0101777723

Hình thức sở hữu : Công ty TNHH 2 thành viên

Địa chỉ trụ sở chính: số 59/126 phố Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa,

thành phố Hà Nội.

Vốn điều lệ (năm 2002) là: 2.000.000.000 VNĐ. (Bằng chữ: Hai tỷ Việt Nam đồng)

Công ty TNHH Việt Anh được thành lập ngày 15/05/2002 theo Giấy phép

thành lập 906/GP-UB do uỷ ban thành phố Hà Nội cấp ngày 15/05/2002, giấy chứng

nhận đăng ký kinh doanh số 0101777723 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày

16/9/2005 được sửa đổi lần 2 ngày 15/3/2012. Vốn điều lệ ban đầu khi mới thành lập

là 2.000.000.000 VND.

Công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh là nhà xuất khẩu

và phân phối độc quyền tại Việt Nam các sản phẩm lọc nước mang thuơng hiệu

Huyndai wacortec.

Được thành lập tháng 09 năm 2005 trên cơ sở mở rộng ngành nghề sản xuất

kinh doanh của TNC Group (thành lập tháng 06 năm 2003) đến nay công ty Việt Anh

đã trở thành một trong những nhà cung cấp chuyên nghiệp về các sản phẩm thiết bị lọc

nước cao cấp tại Việt nam. Sản phẩm mang thương hiệu HYUNDAI - Hàn quốc đã có

mặt tại hầu hết thị trường trên cả nước.

Trong suốt quá trình hoạt động, công ty ngày càng được nhiều người biết đến

và cũng đã nhận được rất nhiều đơn đặt hàng từ các hộ gia đình, đến các đại lý lớn

nhỏ, hay các siêu thị lớn trên toàn quốc. Cho đến ngày 31/12/2005 vốn điều lệ của

24

công ty là 2.600.000.000 VNĐ. Điều này cho thấy công ty luôn hoạt động có hiệu quả

và ngày càng trở nên uy tín. Cứ như vậy, công ty hoạt động và phát triển cũng như mở

rộng ngành nghề kinh doanh, đa dạng hóa sản phẩm, phát huy thế mạnh của công ty.

2.1.2. Ngành nghề kinh doanh

Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty TNHH sản xuât thương mại xuất

nhập khẩu Việt Anh là: lắp ráp máy làm nguyên liệu nước uống, nhập khẩu trực tiếp

và phân phối độc quyền tại Việt Nam các sản phẩm lọc nước mang thương hiệu

hyundai bao gồm: thiết bị lọc nước RO Hyundai gia đình, RO Hyundai công nghiệp,

máy làm nóng lạnh nước uống Hyundai.

Ngoài ra, công ty còn cung cấp các dòng sản phẩm khác như: máy lọc không

khí gia đình, máy lọc nước uống nóng lạnh Hyundai sử dụng cho gia đình và cơ quan

công sở, các thiết bị làm mềm nước…

Bên cạnh việc bán các dòng sản phẩm độc quyền Hyundai Hàn Quốc tại Việt

Nam, công ty TNHH Việt Anh còn nhận lắp đặt hệ thống xử lý nước sinh hoạt, nước

tinh khiết. Kí kết các hợp đồng buôn bán với các doanh nghiệp cần sử dụng dịch vụ

máy lọc nước.

2.1.3 Cơ cấu tổ chức công ty Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty trách nhiệm hữu hạn xuất nhập khẩu Việt Anh

Ban Giám Đốc

Phó Giám Giám Đốc

Đốc

Phòng kinh Phòng kỹ thuật- Phòng quảng Phòng tài Phòng nhân

chất lượng cáo chính kế toán sự & quản lý doanh

Showroom Kho

( Nguồn : Phòng nhân sự và quản lý )

Ghi chú : Mối quan hệ trực tuyến

25

Mối quan hệ phối hợp

Bộ máy nghiệp vụ và nhiệm vụ của các phòng

Cơ cấu tổ chức mà công ty áp dụng có nhiều ưu điểm lớn. Theo cơ cấu này thì

giám đốc được sự tham mưu của các phòng ban chức năng, các chuyên gia hội đồng tư

vấn trong việc suy nghĩ, nghiên cứu bàn bạc tìm ra những biện pháp tối ưu cho các vấn

đề cần quyết định. Cũng theo cơ cấu tổ chức này đã đáp ứng kịp thời các thông tin số

liệu từ cấp dưới cho tới cấp lãnh đạo cao nhất của công ty.

Giám đốc

Đứng đầu bộ phận quản lý của công ty, chịu trách nhiệm toàn bộ mọi hoạt động

kinh doanh của công ty theo giấy phép kinh doanh hành nghề cho phép. Đồng thời là

người đại diện cho quyền lợi và nghĩa vụ của toàn công ty, chịu trách nhiệm trước nhà

nước, cơ quan chủ quản và công ty về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Giám

đốc có những quyền và nghĩa vụ:

- Quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hàng ngày

của công ty.

- Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư xuất nhập khẩu

của công ty.

- Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty.

- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý của công ty.

Phó Giám Đốc

- Là người giúp việc cho giám đốc đồng thời thường xuyên phối hợp với giám

đốc kiểm tra, đôn đốc các cán bộ, công nhân viên trong công ty, thực hiện thắng lợi chỉ

tiêu của công ty. Nhiệm vụ của phó giám đốc là tham mưu giúp việc cho giám đốc

những biện pháp cụ thể trong kinh doanh, quản lý để sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

- Phó giám đốc được giám đốc công ty phân công công việc cụ thể và

được ủy quyền giải quyết một số công việc, có trách nhiệm thực hiện tốt nhiệm

vụ đuợc phân công trong kinh doanh, quản lý để sản xuất kinh doanh có hiệu

quả. Thường xuyên báo cáo giám đốc tình hình thực hiện công việc. Phó giám

đốc khi đi công tác có trách nhiệm tổ chức điều hành công việc trong thời gian

được ủy nhiệm, ủy quyền và phải báo cáo kết quả công việc trong thời gian phụ

trách với giám đốc khi đi công tác về.

26

27

Bộ phận kinh doanh

- Có nhiệm vụ nắm bắt, xây dựng và tổ chức các phương án kinh doanh trong

nước và xuất khẩu hiệu quả, đảm bảo các nguồn hàng hóa có chất lượng tốt, phù hợp

với thị hiếu người tiêu dùng.

- Thực hiện các công việc về thương mại nhằm tiêu thụ tối đa lượng sản phẩm

của công ty sản xuất ra.

- Thực hiện công tác nghiên cứu thị trường và đề ra các chiến lược cho công ty.

- Phối hợp với các đơn vị của công ty để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh

doanh của công ty.

- Thiết lập và quản lý mạng lưới phân phối, đề xuất các phương án, mạng lưới

bán hàng, các hình thức quảng cáo, khuyến mại nhằm đẩy mạnh lượng tiêu thụ.

Thủ kho

- Là người chịu trách nhiệm theo dõi việc nhập xuất kho hàng hoá đồng thời có

trách nhiệm bảo quản hàng hoá trong kho.

Showroom

- Thực hiện việc bán hàng, nộp tiền hàng ở đơn vị cho thủ quỹ, thủ quỹ vào sổ

quỹ tiền mặt hàng ngày, kế toán lấy số liệu vào sổ sau đó báo cáo cho lãnh đạo để xem

xét hàng tồn kho nhiều hay ít.

- Tùy theo từng lĩnh vực mình phụ trách, các phòng ban có những kế hoạch,

chiến lược cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả quản lý công việc.

Bộ phận kỹ thuật chất lượng

- Tham mưu giúp cho giám đốc trong các lĩnh vực về máy móc, lắp ráp nguyên

vật liệu.

- Xây dựng các chỉ tiêu kỹ thuật, chất lượng hàng hoá đảm bảo đúng chất lượng

theo yêu cầu của khách hàng. Kiểm tra chất lượng hàng hóa.

Bộ phận quảng cáo

- Thực hiện quản lý khối lượng, chất lượng, tiến độ công trình, quản lý công tác

an toàn, thực hiện các công việc bảo hành, bảo dưỡng sản phẩm mà công ty cung cấp

cho khách hàng.

28

- Tập hợp, báo cáo cho giám đốc ý kiến phản hồi của khách hàng về sản phẩm

và dịch vụ mà công ty cung ứng, qua đó ban lãnh đạo công ty sẽ nghiên cứu những

chiến lược cụ thể để cung cấp cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ hoàn hảo,

tin cậy nhất.

Bộ phận kế toán tài vụ

- Đứng đầu là kế toán trưởng: kiêm chức vụ thủ quỹ của công ty, thực hiện

quản lý kế toán tài chính của đơn vị theo đúng quy định của nhà nước, mở và ghi chép

các loại sổ sách kế toán của đơn vị, cùng bộ phận kinh doanh lên kế hoạch tài chính

cho các hoạt động của đơn vị, hàng tháng phải báo cáo kết quả thu chi tài chính cho

giám đốc quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn của đơn vị cũng như của công ty, không để

thất thoát thua lỗ, thực hiện nghiêm túc chế độ kế toán thống kê.

- Kế toán thanh toán nội địa: thu nhập báo cáo chi tiết, tập hợp chi phí giá thành

nguyên vật liệu đầu vào, theo dõi tình hình mua bán sản phẩm trong nước, ghi chép

kịp thời chính xác các số lượng, chất lượng, giá cả vật tư trong việc nhập và xuất kho.

- Kế toán xuất khẩu: thanh toán và hạch toán chính xác các nghiệp vụ liên quan

đến xuất khẩu và thanh toán quốc tế, kiểm tra tính pháp lý của các chứng từ thanh toán

quốc tế, theo dõi thanh toán ngoại tệ giữa hai bên và với ngân hàng.

Sơ đồ 2.2. Sơ đồ tổ chức phòng kế toán

Kế toán trưởng

Kế toán xuất khẩu Kế toán thanh

toán nội địa

( Nguồn: Phòng tài chính kế toán )

Các thông tin khác

Hình thức kế toán: nhật kí chung.

Năm tài chính: các niên độ kế toán bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào

31 tháng 12 hàng năm. Chế độ kế toán đang áp dụng: công ty áp dụng chế độ kế toán

29

Doanh nghiệp Việt Nam ban hành theo quyết định số 48/2006/QĐ ngày 20 tháng 3

năm 2006 của bộ trưởng bộ tài chính.

Nguyên tắc ghi nhận tiền và các khoản tương đương tiền: Phương pháp chuyển

các đồng tiền khác theo tỷ giá của ngân hàng nhà nước Việt Nam tại thời điểm ghi sổ.

2.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

Thị trường kinh doanh: Việc mở cửa hội nhập với nền kinh tế đồng nghĩa với việc

tăng sức mạnh cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên doanh thu nội địa của công ty TNHH

Việt Anh dù không có những cú tăng đột biến nhưng vẫn tăng đều hàng năm. Sau gần 10

năm hoạt động, công ty TNHH Việt Anh dần đứng vững và nắm được vị thế nhất định

trong việc sản xuất kinh doanh máy lọc nước. Các cửa hảng, đại lý, phòng trưng bày sản

phẩm lớn nhỏ cũng được trải dài rộng khắp các tỉnh, thành phố Bắc Trung Nam.

Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh

Lĩnh vực sản xuất kinh doanh là nhập khẩu trực tiếp dòng sản phẩm máy lọc nước

Hyundai Hàn Quốc dùng cho gia đình, cho các cơ quan…Không những thế, công ty đã bắt

đầu khai thác và đưa ra các dạng sản phẩm khác nhằm đa dạng hoá sản phẩm như: máy lọc

không khí, máy làm nóng lạnh nước… giúp người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn.

Quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn

sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh

Công ty TNHH Việt Anh là công ty chuyên nhập khẩu nguyên chiếc các sản phẩm

máy lọc nước Hyundai Hàn Quốc tuy nhiên, với các dòng sản phẩm trong nước, cũng có

trình tự và bước thực hiện nhất định.

Các bước để lọc nước tinh khiết của máy lọc nước Hyundai:

Sơ đồ 2.3.Quy trình lọc nước tinh khiết

Tái lọc Lọc thô

Lọc than hoạt tính

Lọc RO Lọc mềm để sử dụng

( Nguồn: Phòng kỹ thuật – chất lượng )

30

Diễn giải quy trình:

Bước 1: Nguồn nước cấp dùng cho máy sẽ là nguồn nước sinh hoạt trực tiếp từ

mỗi hộ gia đình. Nước sẽ được đưa qua lõi lọc số 1 là lọc thô.

Bước 2: Nước được đưa qua dơle áp thấp-> van điện từ-> bơm-> ống lọc số 2 là

lọc than hoạt tính ( nhằm loạ bỏ chất độc hại: thuốc trừ sâu, đioxin..).

Bước 3: Sau khi lọc qua cục lọc số 2, nước được chuyển qua cục lọc số 3 vừa

lọc lại các chất còn bám ở cục lọc số 1 và làm mới chất ở cục lọc số 2.

Bước 4: Chuyển sang cục lọc số 4, lọc RO là bước quyết định nước tinh khiết, ở

đây nước chia làm 2 đường. Đường thứ 1 loại bỏ chất độc hại lơ lửng ra ngoài và 1 đường

qua van điều phối của dơle áp cao để lên lõi tạo khoáng và cân bằng pH ( bổ sung vi

lượng cần thiết cho cơ thể ) ở mức trung tính từ 6.5 -> 8.5 đảm bảo nước có vị ngọt.

Bước 5: Nước chuyển lên lõi lọc số 5 là lõi lọc làm mềm nước và ra vòi

để sử dụng.

2.1.5. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn sản

xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh

Bất kỳ doanh nghiệp nào trong quá trình sản xuất kinh doanh đều đặt ra mục

tiêu cuối cùng là đạt được doanh thu cao nhất với mức chi phí thấp nhất. Để đánh giá

được lợi nhuận của công ty các nhà phân tích cần nhìn nhận vào các thông số từ khoản

mục: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, các khoản làm giảm trừ doanh thu, các

khoản chi phí từ bán hàng và cung cấp dịch vụ, để từ đó đánh giá được công ty có lãi

hay lỗ. Sau đó là các khoản thuế phải nộp cho nhà nước, doanh nghiệp có thể thu được

cho mình bao nhiêu, để thấy được doanh nghiệp có đang sử dụng một cách hiệu quả

đồng vốn của mình hay không. Thông qua việc phân tích các chỉ tiêu ta có thể đánh

giá được quy mô, hiệu quả kinh doanh của công ty. Kết quả hoạt động sản xuất kinh

doanh của triển Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Xuất nhập khẩu Việt Anh được

thể hiện thông qua bảng sau.

31

Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh năm 2011 – 2013 (ĐVT: triệu đồng)

Năm Chênh lệch

2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu 2011 2012 2013 (+/-) % (+/-) %

1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịnh vụ 7.940,17 7.408,37 9.448,24 -531,80 -6.70 2.039,87 27,53

2. Các khoản giảm trừ doanh thu - - - - - - -

3. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ 7.940,17 7.408,37 9.448,24 -531,80 - 6,70 2.039,87 27,53

6.837,02 5.445,41 7.318,98 -1.391,61 -20,35 1.873,57 34,41 4. Giá vốn hàng bán

1.103,16 1.962,96 2.129,26 859,80 77,94 166,30 8,47 5. Lợi nhuận gộp

6. Doanh thu hoạt động tài chính - 4,36 0,72 4,36 - -3,64 -83,49

341,85 705,21 536,06 363,36 106,29 -169,15 -23,99 7. Chi phí tài chính

341,85 - -341,85 -100,00 Trong đó: Chi phí lãi vay -

9. Chi phí quản lý doanh nghiệp 741,41 1.253,99 1.532,21 512,58 69,14 278,22 22,19

10. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 19,90 8,11 61,72 -11,79 -59,25 53,61 661,04

11. Thu nhập khác - 16,00 - - 16,00 - -

12. Chi phí khác - - - - - - -

13. Lợi nhuận khác - 16,00 - - 16,00 - -

14. Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 19,90 8,11 77,72 -11,79 -59,25 69,61 858,32

15. Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 19,90 8,11 77,72 -11,79 59,25 69,61 858,32

( Nguồn: Phòng tài chính kế toán)

32

Nhận xét

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Doanh thu bán hàng và cung cấp

dịch vụ của công ty giảm trong năm 2012 nhưng phục hồi và tăng vào năm 2013. Cụ

thể, doanh thu năm 2012 là 7.408,37 triệu đồng, của năm 2011 là 7.940,17 triệu đồng,

bị sụt giảm 531,80 triệu đồng, giảm tương ứng với 6,70%. Đến năm 2013, doanh thu

bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty tăng mạnh so với cả 2 năm trước đó là

9.448,24 triệu đồng, tăng 2.039,87 triệu đồng tương ứng với mức tăng 27,53% so với

năm 2012. Nguyên nhân chủ yếu khiến cho năm 2012 tình hình kinh doanh của công

ty không hiệu quả như năm 2011 là do năm 2012, nền kinh tế của Việt Nam lâm vào

tình trạng suy thoái. Theo đánh giá của Tổng cục thống kê, mức tăng trưởng năm 2012

thấp hơn mức tăng 5,89% của 2011. Trong bối cảnh kinh tế gặp khó khăn, cả nước

thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô người dân có xu

hướng thắt chặt chi tiêu làm giảm lượng tiêu thụ về doanh thu bán hàng và cung cấp

dịch vụ của công ty xuống, mặc dù tình hình kinh doanh của công ty giảm trong năm

2012 nhưng mức giảm tương đối thấp là 6,70%, đặc biệt sang năm 2013 đã tăng trở lại

và tăng vượt bậc lên thêm 27,53% so với năm 2013, đây là một tín hiệu đáng mừng.

Nguyên nhân chủ yếu năm 2013, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng trở lại

là do sản phẩm mới được đưa ra thị trường và được nhiều người tiêu dùng đón nhận.

Sản phẩm có sự khác biệt hóa rõ rệt so với các đối thủ cạnh tranh về vật liệu nhựa cao

cấp, đồ bền cao hơn, làm tăng hàm lượng khoáng, vi lượng cho cơ thể, đồng thời

Chính phủ Việt Nam thực hiện nhiều gói kích cầu trên, gói cứu trợ bất động sản và

nhiều dự án mới đã khiến thị trường khởi sắc hơn so với năm 2012, từ đó gián tiếp làm

tăng nguốn doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty.

Các khoản giảm trừ doanh thu: Trong cả ba năm 2011, 2012 và 2013, công

ty đều không phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu. Tuy doanh thu năm 2012 của

công ty bị giảm nhưng những mặt hàng công ty cung ứng ra ngoài thị trường đều đảm

bảo chất lượng. Do không có sự cố về máy móc hay những lỗi cơ bản về thiết bị nên

hàng bán ra không phải giảm giá và cũng không bị khách hàng trả lại. Chính vì không

có các khoản giảm trừ doanh thu nên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chính là

doanh thu thuần của công ty.

Giá vốn hàng bán: Giá vốn hàng bán của công ty biến động theo doanh thu

bán hàng và cung cấp dịch vụ, năm 2012 là 5.445,41 triệu đồng, năm 2011 là 6.837,02

33

triệu đồng, bị sụt giảm 1.391.61 triệu đồng, giảm tương ứng với 20,35%. Công ty

TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh là công ty chuyên sản xuất

thương mại và xuất nhập khẩu, năm 2012 công ty kinh doanh kém hơn năm 2011

nguyên nhân nhập khẩu ít máy lọc từ phía liên doanh với nước ngoài và cung ứng các

sản phẩm sản xuất trong nước cũng ít hơn nên giá vốn hàng bán cũng giảm đi theo

đúng tình hình biến động của doanh thu, tuy nhiên doanh thu bán hàng năm 2012 giảm

6,70% trong khi đó giá vốn hàng bán giảm 20,35%, điều đó cho thấy mặc dù doanh

thu giảm đi nhưng mức giảm của doanh thu lại nhỏ hơn mức giảm của giá vốn hàng

bán, do đó chúng ta có thể thấy rằng doanh nghiệp đã có những biện pháp làm giảm

chi phí giá vốn hợp lý, tìm được nhà cung cấp với giá thấp, tiết kiệm được các chi phí

pháp sinh khi vận chuyển, mua bán hàng hóa từ đó sẽ làm tăng được lợi nhuận gộp và

cả lợi nhuận sau thuế của công ty. Bước sang năm 2013, giá vốn hàng bán của công ty

tăng lên mức 7.318,98 triệu đồng, tăng 1.873,57 triệu đồng tương ứng với mức tăng

34,41% so với năm 2012. Do trong năm 2013 tình hình tiêu thụ máy lọc nước của

công ty tăng trở lại và có bước đột phá mới về công nghệ máy lọc nước nên đã được

thị trường chào đón đồng thời, sang đến năm 2013 tình hình suy thoái của nền kinh tế

giảm đi, người dân có xu hướng kích thích tiêu dùng trở lại đẩy cho doanh thu bán

hàng và cung cấp dịch vụ, giá vốn hàng bán của công ty tăng theo.

Doanh thu hoạt động tài chính: Năm 2011 công ty không có doanh thu từ

hoạt động tài chính do công ty không tham gia các hoạt động đầu tư hay góp vốn chỉ

tập trung hoạt động sản xuất kinh doanh chính của mình. Đến năm 2012 doanh thu

hoạt động tài chính của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Viêt Anh

đạt 4,36 triệu đồng. Trong đó chủ đạo là tiền lãi, cổ tức lợi nhuận được chia mà công

ty nhận được khi thực hiện hoạt động đầu tư trên thị trường. Đến năm 2013 doanh thu

hoạt động tài chính của công ty giảm đi chỉ còn 0,72 triệu đồng giảm 3,64 triệu tương

ứng với mức giảm 83,49%. Nguyên nhân giảm chủ yếu là do trong năm 2013 các

khoản tiền lãi, cổ tức, lợi nhuận được chia giảm mạnh do công ty chưa có hướng đầu

tư đúng đắn cũng như kinh nghiệm nhiều. Qua đây ta có thể thấy công ty chưa chú

trọng nhiều vào hoạt động đầu tư tài chính vì doanh thu đến từ khoản mục này chiếm

tỷ trọng nhỏ so với doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ.

Chi phí hoạt động tài chính: Năm 2012 là 705.21 triệu đồng tăng 363.36 triệu

đồng tương ứng với mức tăng 106,29% so với năm 2011. Nguyên nhân chủ yếu là do

34

mục đích mở rộng sản xuất kinh doanh, công ty đã tạo điều kiện cho khách hàng được

giảm chiết khấu do thanh toán sớm để không bị chiếm dụng vốn cho nên chi phí hoạt

động tài chính đã tăng đáng kể đồng thời doanh nghiệp có thực hiện các khoản vốn

vay từ phía ngân hàng thương mại để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Song

công ty cần xem xét chi phí tài chính tăng nhanh và quá cao sẽ ảnh hưởng tới lợi

nhuận. Đến năm 2013, chi phí hoạt động tài chính giảm chỉ còn 536,06 triệu đồng,

giảm 169,15 triệu đồng tương ứng với mức giảm 23,69% so với năm 2012. Đây là một

tín hiệu đáng mừng thể hiện rằng chi phí lãi vay của công ty đã giảm mạnh, các khoản

vay ở các ngân hàng thương mại trong năm 2012 đã được công ty thanh toán 1 phần.

Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty

năm 2012 là 1.253,99 triệu đồng tăng 512,58 triệu đồng tương ứng với mức tăng

69,14% so với năm 2011, tăng tương ứng 69,14%. Bước sang năm 2013, chi phí quản

lý doanh nghiệp đạt 512,58 triệu đồng tăng 278,22 triệu đồng tương ứng với mức tăng

22,19%. Chi phí này có sự gia tăng khá lớn do công ty tăng mức lương và thưởng cho

cán bộ nhân viên bộ phận quản lý đồng thời chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho bộ

phận quản lý doanh nghiệp như: chi phí điện, nước, điện thoại, fax, chi phí sửa chữa

TSCĐ, tiền thuê nhà làm văn phòng cũng tăng lên. Công tác này cho thấy việc nhận

thức rõ sự quan trọng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

Lợi nhuận sau thuế: Lợi nhuận sau thuế năm 2011 đạt 19,90 triệu đồng. Đến

năm 2012 doanh thu sau thuế chỉ còn 8,11 triệu đồng giảm 11,79 triệu đồng so với

năm 2011, giảm tương ứng với 59,25%. Dù trong năm 2012 vẫn có lãi nhưng so với

năm 2011 thì công ty có lợi nhuận giảm đi hơn nửa nguyên nhân chủ yếu là do các chi

phí của doanh nghiệp tăng cao đặc biệt là chi phí quản lý kinh doanh và chi phí tài

chính trong khi đó doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty tăng lên rất ít.

Đồng thời nếu xét nguyên nhân khách quan một phần là do trong năm 2012, nền kinh

tế Việt Nam đang trong giai đoạn suy thoái, người dân thắt chặt chi tiêu đã ảnh hưởng

đến tình hình sản xuất kinh doanh và tiêu thụ của công ty. Đến năm 2013 lợi nhuận sau

thuế của công ty tăng mạnh đạt 77,72 triệu đồng tăng 69,61 triệu đồng tương ứng với

mức tăng mạnh 858,32%. Điều đó cho thấy trong năm 2013 hoạt động sản xuất kinh

doanh của công ty đat hiệu quả cao, cả doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi

nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận khác đều tăng mạnh. Vì thế, trong thời gian

tới công ty cần phát huy hơn nữa để từ đó làm tăng lợi nhuận sau thuế của mình

35

2.2. Thực trạng tính hình tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất

thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh

2.2.1. Phân tích tình hình cơ cấu tài sản – nguồn vốn

- Cơ cấu tài sản

Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại

xuất nhập khẩu Việt Anh

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất

nhập khẩu Việt Anh)

Nhận xét

Qua biểu đồ cơ cấu tài sản trên ta thấy cơ cấu tài sản của công ty trong 3 năm

có tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng rất cao luôn lớn hơn 90%. Trong khi đó, tài sản dài

hạn của công ty lại rất thấp. Điều này cho thấy, công ty đang tập trung vào tài sản ngắn

hạn là chủ yếu. Năm 2011 tài sản ngắn hạn của công ty chiếm 95% trong tổng tài sản,

năm 2012 tỉ trọng tài sản ngắn hạn tăng lên 97% và đến năm 2013 lại trở về mức 95%.

Trong khi đó tài sản dài hạn của công ty lại chiếm tỷ trọng rất thấp, năm 2011 và 2013

là 5%, năm 2012 giảm xuống chỉ còn 3%. Nguyên nhân của sự thay đổi tỷ trọng tài

sản ngắn hạn và dài hạn của công ty trong 3 năm là do lĩnh vực kinh doanh chủ yếu

của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh là lắp ráp máy làm

nguyên liệu nước uống, nhập khẩu trực tiếp và phân phối độc quyền tại Việt Nam các

sản phẩm lọc nước mang thương hiệu hyundai bao gồm: thiết bị lọc nước RO Hyundai

gia đình, RO Hyundai công nghiệp, máy làm nóng lạnh nước uống Hyundai. Chủ đạo

lĩnh vực hoạt động vẫn là thương mại chủ yếu lên tài sản ngắn hạn chiếm đa số, còn tài

36

sản dài hạn của công ty chủ yếu chỉ là các máy móc, dụng cụ thiết bị lắp đặt sản phẩm

lọc nước. Vì thế cơ cấu tài sản chủ yếu vẫn là tài sản ngắn hạn. Đối với các công ty

thuộc lĩnh vực thương mại việc có cấu tài sản chủ yếu là tài sản ngắn hạn là phổ biến

vì chủ yếu tài sản của công ty là hàng tồn kho và khoản phải thu. Nếu tài sản dài hạn

của các công ty thương mại quá cao sẽ gây bất lợi cho kết quả hoạt động kinh doanh vì

tồn nhiều chi phí huy động vốn.

37

Bảng 2.2. Tình hình tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh

(ĐVT: triệu đồng )

Năm Chênh lệch

Chỉ tiêu 2012/2011 2013/2012 2011 2012 2013 (+/-) % (+/-) %

8.171,41 12.654,60 17.264,70 4.483,19 54,86 4.610,10 36,43 A.Tài sản ngắn hạn

1.800,08 562,99 2.439,05 -1.237,09 - 68,72 1.876,06 333,23 1.Tiền và các khoản tương đương tiền

2.Hàng tồn kho 3.795,33 6.190,29 6.411,49 2.394,96 63,10 221,20 3,57

3.Các khoản phải thu ngắn hạn 2.501,64 5.795,39 8.236,16 3.293,75 131,66 2.440,77 42,12

4.Tài sản ngắn hạn khác 74,36 105,39 177,98 31,03 41,73 72,59 68,88

447,07 473,21 482,69 26,14 5,85 9,48 2,00 B.Tài sản dài hạn

1.Tài sản cố định 447,07 471,99 482,69 24,92 5,57 10,70 2,27

3. Tài sản dài hạn khác 1,22 1,22 -1,22 - 100,00

8.618,49 13.127,30 17.747,40 4.508,81 52,32 4.620,10 35,19 Tổng tài sản

( Nguồn: Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)

38

Tài sản ngắn hạn: Trong 3 năm qua tổng tài sản ngắn hạn của công ty liên tục

tăng qua các năm, và mức tăng khá cao. Năm 2011 tài sản ngắn hạn đạt 8.171,41 triệu

đồng, năm 2012 đạt 12.654,60 triệu đồng tăng 4.483,19 triệu đồng tương ứng với mức

tăng 54,68% so với năm 2011. Đến năm 2013, tài sản ngắn hạn tiếp tục được đầu tư

thêm lên đến 17.264,70 triệu đồng tăng 36,43% so với năm 2012. Nguyên nhân của

việc tài sản ngắn hạn tăng lên là do hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạn tăng

cao đặc biệt công ty còn làm trong lĩnh vực thương mại lên cũng cần một lượng lớn tài

sản ngắn hạn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu là hàng hóa máy

lọc nước. Công ty cần nhập đủ đảm bảo nguồn hàng trong kho để có thể tăng doanh

thu khi có khách hàng đồng thời các khoản phải thu tăng mạnh làm tăng tài sản ngắn

hạn của công ty nên do công ty áp dụng chính sách cấp tín dụng cho khách hàng để

tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.

Tiền và các khoản tương đương tiền: Năm 2011 tiền và các khoản tương

đương tiền của công ty là 1.800,08 triệu đồng. Năm 2012 tiền và các khoản

tương đương tiền giảm đi chỉ còn 562,99 triệu đồng tương ứng với mức giảm

68,72% so với năm 2011. Nguyên nhân giảm là do lượng tiền mặt dự trữ tại

công ty giảm mạnh được tác động từ phía nền kinh tế đang chịu ảnh hưởng từ

cuộc khủng hoảng kinh tế, hoạt động kinh doanh không được tốt, lượng tiền mặt

dự trữ cũng ít đi. Vì trong giai đoạn này việc giữ nhiều tiền mặt sẽ tạo ra nhiều

chi phí cho công ty như chi phí quản lý tiền mặt. Nhưng đến năm 2013 tiền và

các khoản tương đương tiền của công ty tăng mạnh đạt 2.439,05 triệu đồng tăng

1.876,06 triệu đồng tương ứng với mức tăng 333,23% so với năm 2012. Nguyên

nhân của việc tăng giảm không ổn định này một phần do thị trường bất ổn trong

năm 2012 và một phần do nhu cầu tiền mặt trong năm 2013 của công ty tăng cao

do công ty thực hiện hoạt động mở rộng quy mô kinh doanh nên nhu cầu tiền

mặt cũng tăng cao hơn so với năm 2012.

Hàng tồn kho: Số lượng hàng tồn kho tăng cao trong giai đoạn 2011-2013. Cụ

thể, năm 2011 hàng tồn kho của công ty là 3.795,33 triệu đồng, đến năm 2012 hàng

tồn kho tăng lên 6.190,29 triệu đồng tăng 2.394,49 triệu đồng tương ứng với mức tăng

63,10% so với năm 2011. Bước sang năm 2013, hàng tồn kho của công ty tiếp tục tăng

nhẹ 6.411,49 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 3,57% so với năm 2012. Nguyên

39

nhân là do, năm 2012 lượng hàng hóa và dịch vụ mà công ty cung cấp bán ra thị

trường giảm mạnh do nền kinh tế khó khăn, cạnh trang gay gắt trên thị trường đã đẩy

lượng hàng tồn kho của công ty tăng mạnh gây ứ đọng hàng hóa trong kho. Trong khi

lượng hàng nhập khẩu máy lọc nước từ thị trường nước ngoài về khá lớn từ đó lượng

hàng tồn kho của công ty tăng. Tuy nhiên, mức tăng lượng dự trữ hàng tồn kho qua

các năm cũng giảm dần cụ thể là năm 2013 đã giảm nhẹ do công ty đã tính toán nắm

bắt được thị trường nên mức dự trữ kho được tính toán hợp lý hơn. Tuy nhiên, công ty

cần phải đưa ra các chính sách quản lý hàng tồn kho trong thời gian tới ở một mức phù

hợp. Nếu dự trữ hàng trong kho nhiều quá sẽ tốn chi phí lưu kho của doanh nghiệp

nhưng nếu dự trữ ít quá sẽ ảnh hưởng đến lượng hàng bán.

Các khoản phải thu: Trong 3 năm qua, các khoản phải thu có xu hướng tăng.

Năm 2011 các khoản phải thu đạt 2.501,64 triệu đồng, năm 2012 tăng lên đến 5.795,39

triệu đồng, tăng 3.293,75 triệu đồng tương ứng mức tăng 131,66 triệu đồng. Bước sang

năm 2013, các khoản phải thu của công Ty Việt Anh tăng đạt 8.236,16 triệu đồng tăng

2.440,77 triệu đồng tương ứng với mức tăng 42,12% so với năm 2012. Nguyên nhân là

do nền kinh tế có khủng hoảng, hoạt động kinh doanh của công ty cũng bị ảnh hưởng,

để khuyến khích khách hàng mua hàng và tiêu thụ sản phẩm, công ty đã thực hiện

chính sách tín dụng mở rộng với điều khoản 3/10 net 30 đã làm tăng khoản phải thu

khách hàng. Tuy nhiên thực hiện chính sách tín dụng nới lỏng công ty nên thực hiện

công tác thẩm định khách hàng tốt nhất để hạn chế nợ xấu và nợ khó đòi từ phía

khách hàng.

Tài sản dài hạn: tài sản dài hạn của công ty tăng lên hàng năm nhưng mức

tăng khá thấp do công ty chưa có sự đầu tư và lĩnh vực chủ yếu của công ty là thương

mại xuất nhập khẩu lên tài sản dài hạn của công ty chủ yếu là tài sản cố định như máy

móc, thiết bị, dụng cụ lắp đặt máy lọc nước. Cụ thể năm 2011 tài sản dài hạn của công

ty hay chính là tài sản cố định đạt 447,07 triệu đồng, đến năm 2012, tài sản dài hạn của

công ty tăng lên do tài sản cố định tăng và có thêm tài sản dài hạn khác tăng. Đến năm

2013, tài sản dài hạn cũng tăng nhẹ với mức tăng 2% đạt tới 482,69 triệu đồng cũng do

có sự đầu tư thêm máy móc thiết bị là chủ yếu.

40

- Cơ cấu nguồn vốn

Biểu đồ 2.2. cơ cấu nguồn vốn của công ty sản xuất thương mại xuất nhập khẩu

Việt Anh

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)

Nhận xét

Cơ cấu nguồn vốn của công ty bao gồm nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu.

Trong 3 năm qua, cơ cấu nguồn vốn của công ty ít có sự thay đổi. Nợ phải trả của công

ty chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn. Năm 2011, nợ phải trả chiếm 97%,

năm 2012, 2013 là 98%. Trong khi đó. Vốn chủ sở hữu của công ty chiếm tỷ trọng thấp

và giảm trong 2 năm 2012 và 2013. Nguồn vốn nợ phải trả cao cho thấy chủ đạo vốn

của công ty là nguồn vốn đi vay nợ. Nếu sử dụng nguồn vốn nợ quá cao sẽ ảnh hưởng

rất lớn đến khả năng thanh toán của công ty, uy tín và số tiền phải trả lãi vay của công ty

từ đó có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và lợi nhuận sau thuế của công ty. Vì vậy,

công ty cần có các chính sách huy động và sử dụng nguồn vốn hợp lý hơn để có thể tăng

tính ổn định trong việc trả nợ, tăng tính thanh khoản cho công ty, giảm chi phí phát sinh

khi đi vay và trả lãi tiền vay, tăng uy tín của công ty trên thị trường.

41

Bảng 2.3. Cơ cấu nguồn vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh

(ĐVT: triệu đồng)

Năm Chênh lệch

Chỉ tiêu 2012/2011 2013/2012 2011 2012 2013 Số tiền % Số tiền %

A.Nợ phải trả 8.340,48 12.841,16 17.383,52 4.500,68 53,96 4.542,36 35,37

1.Nợ ngắn hạn 8.340,48 12.841,16 17.383,52 4.500,68 53,96 4.542,36 35,37

1. Vay ngắn hạn 940,78 236,00 295,66 -704,78 -74,91 59,66 25,28

2. Phải trả cho người bán 7.399,70 10.464,64 14.537,85 3.064,94 41,42 4.073,21 38,92

3. Người mua trả tiền trước 2.096,08 2.520,82 2.096,08 424,74 20,26 - -

4. Thuế và các khoản phải nộp 44,44 29,19 44,44 -15,25 -34,32 - - nhà nước

B.Vốn chủ sở hữu 278,00 286,12 363,84 8,12 2,92 77,72 27,16

1.Vốn chủ sở hữu 278,00 286,12 363,84 8,12 2,92 77,72 27,16

Lợi nhuận chưa phân phối 78,00 86,12 163,84 8,12 10,41 77,72 90,25

Tổng nguồn vốn 8.618,49 13.127,28 17.747,36 4.508,79 52,32 4.620,08 35,19

( Nguồn: Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh trong năm 2011-2013)

42

Nhận xét

Nợ phải trả: Năm 2011, nợ phải trả của công ty là 8.340,48 triệu đồng, năm

2012 là 12.841,16 triệu đồng tăng 4.500.68 triệu đồng tương ứng với mức tăng

53,96%. Đến năm 2013, nợ phải trả của công ty tiếp tục tăng lên đến 17.383,52 triệu

đồng tăng 4.542,36 triệu đồng tương ứng với mức tăng 35,37% so với năm 2012. Nợ

phải trả của công ty chủ yếu là vay ngắn hạn, phải trả cho người bán, người mua trả

tiền trước. Để có thể mở rộng hoạt động sản xuất thương mại, nhập khẩu máy lọc nước

công nghệ mới công ty đã sử dụng nguồn tài trợ chủ yếu là đi vay, đồng thời các

khoản vốn chiếm dụng từ các nhà cung cấp lại rất lớn từ đó là làm tăng khoản nợ phải

trả của công ty. Nợ phải trả của công ty tăng cao cũng do nguồn vốn chủ sở hữu vốn

góp hạn chế, để có thể mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, công ty đã

vận dụng các nguồn vốn vay, vốn chiếm dụng từ phía nhà cung cấp của mình.

Phải trả người bán: Trong giai đoạn 2011-2013, các khoản phải trả người bán

của công ty tăng mạnh qua các năm. Đây được coi là một nguồn vốn chiếm dụng của

doanh nghiệp đối với các nhà cung cấp. Khoản phải trả người bán của công ty tăng

cao, cụ thể năm 2011 đạt 7.399,70 triệu đồng, năm 2012 tăng đến 10.464,64 triệu đồng

tăng 3.064,94 triệu đồng tương ứng với mức tăng 41,42% so với năm 2011. Bước sang

năm 2013 khoản phải trả người bán tăng mạnh hơn đạt mức 14.537,85 triệu đồng tăng

tới 4.073,21 triệu đồng tương ứng với mức tăng 38,92% so với cùng kỳ năm 2012.

Nếu xét đây là một khoản vốn không mất phí mà doanh nghiệp có thể tận dụng được

thì việc các khoản phải trả cho người bán tăng cao sẽ là một điều có lợi cho công ty

trong giai đoạn khó khăn như hiện nay nhưng nếu xét về mức độ uy tín và an toàn thì

khoản vốn này quá cao cho thấy công ty sẽ không đảm bảo được khả năng thanh toán

của bản thân mình trong giai đoạn này. Nếu phải trả cho người bán của công ty tăng

cao sẽ làm giảm các chỉ tiêu khả năng thanh toán của công ty đồng thời làm giảm uy

tín, tính tự chủ và mất khoản chiết khấu thanh toán mà các nhà cung cấp cho công ty

được hưởng trong thời gian tới. Vì vậy công ty cần cân đối khoản mục phải trả người

bán với khoản mục phải thu khách hàng để đảm bảo lợi ích đạt được là cao nhất.

Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của công ty chiếm tỷ trọng rất thấp trong cơ

cấu nguốn vốn trong giai đoạn này. Tuy nhiên, vốn chủ sở hữu của công ty cũng đã có

tăng nên. Cụ thể, năm 2011 vốn chủ sở hữu chỉ đạt mức 278,00 triệu đồng, đến năm

2012 tăng lên mức 286,12 triệu đồng tăng 8,12 triệu đồng tương ứng với mức tăng nhẹ

43

là 2,92% so với cùng kỳ năm 2011. Bước sang năm 2013, vốn chủ sở hữu của công ty

tăng mạnh đạt 363,84 triệu đồng tăng 77,72 triệu đồng tương ứng với mức tăng

27,16% so với năm 2012. Tuy vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng việc tăng lên

qua các năm cũng cho thấy doanh nghiệp đang có sự bổ sung vào vốn chủ sở hữu. Vốn

chủ sở hữu cao sẽ đảm bảo khả năng tự chủ, khả năng thanh toán cùa công ty tốt hơn.

Lợi nhuận chưa phân phối: Là nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi

phân bổ cho các quỹ trong công ty. Nguồn lợi nhuận chưa phân phối của công ty

không cao nhưng có chiều hướng tăng lên qua các năm và đặc biệt tăng mạnh nhất

trong năm 2013. Năm 2012, lợi nhuận chưa phân phối của công ty đạt 86,12 triệu đồng

tăng 8,12 triệu đồng tương ứng với mức tăng 10,41% so với năm 2011. Đến năm 2013,

lợi nhuận chưa phân phối của công ty tăng mạnh với tốc độ tăng trưởng đạt 90,25%

tăng lên mức 163,84 triệu đồng so với năm 2012.

2.2.2. Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn

Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu phân tích mối quan hệ tài sản – nguồn vốn của công ty (ĐVT: triệu đồng)

Năm

Chênh lệch

Chỉ tiêu

2012/2011

2013/2012

2011

2012

2013

Số tiền %

Số tiền %

Tổng tài sản

8.618,49 13.127,30

17.747,40

4.508,81

52,32 4.620,10 35,19

Nợ phải trả

8.340,48 12.841,16

17.383,52

4.500,68

53,96 4.542,36 35,37

Vốn chủ sở hữu

278,00

286,12

363,84

8,12

2,92

77,72 27,16

Hệ số nợ trên tổng

0,97

0,98

0,98

0,01

1,08

0,00

0,13

tài sản

Hệ số tài sản trên

31,00

45,88

48,78

14,88

47,99

2,90

6,32

vốn chủ sở hữu

( Nguồn: Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất

nhập khẩu Việt Anh)

Nhận xét

Hệ số nợ trên tổng tài sản: của công ty có xu hướng tăng trong năm 2012 và

không đổi trong năm 2013. Cụ thể năm 2012 đạt 0,98 lần tăng 0,01 lần tương ứng với

mức tăng 1,08% so với năm 2011. Đến năm 2013 hệ số nợ trên tổng tài sản của công

44

ty không đổi tại mức 0,98 lần. Năm 2012, hệ số này tăng lên chứng tỏ tài sản của

doanh nghiệp phụ thuộc ngày càng nhiều vào nguồn tài trợ bên ngoài đây cũng là dấu

hiệu cho thấy sự mất độc lập ngày càng gia tăng của công ty TNHH sản xuất thương

mại xuất nhập khẩu trong việc kiểm soát tài sản của mình. Điều này thể hiện rõ ở

khoản mục nợ phải trả của công ty tăng cao do nợ ngắn hạn và phải trả người bán tăng

lên, trong khi đó nguồn vốn chủ sở hữu của công rất thấp và tăng với tốc độ chậm, đã

làm cho khả năng tự chủ về nguồn tài chính của công ty kém

Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu: của công ty có xu hướng gia tăng qua

các năm. Cụ thể, năm 2011 là 31,00 lần, năm 2012 là 45,88 lần tăng 14,88 lần tương

ứng với mức tăng 47,99% so với năm 2011. Bước sang năm 2013, hệ số tài sản trên

vốn chủ sở hữu tiếp tục tăng đến 48,78 lần tương ứng với mức tăng 6,32% so với năm

2012. Điều này chứng tỏ tài sản của doanh nghiệp được ít được tài trợ vững chắc từ

vốn chủ sở hữu do nguồn tài sản của công ty trong năm 2011 gấp 31,00 lần so với

nguồn vốn chủ sở hữu được đem đi tài trợ. Điều này cho thấy có ảnh hưởng rất lớn đến

hoạt động sản xuất kinh doanh vì nguồn vốn tài trợ cho tài sản ngắn hạn chủ yếu là từ

nguồn vốn vay bên ngoài và chiếm dụng từ phía khách hàng và nhà cung cấp, làm tăng

chi phí tài chính của cổng ty từ đó giảm lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp.

2.2.3. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán tốt hay xấu sẽ phản ánh tiềm lực tài chính của công ty

mạnh hay yếu. Thông thường, khả năng thanh toán tốt thể hiện tình hình hoạt động ổn

định hoặc ngược lại, việc mất khả năng thanh toán đồng nghĩa với việc phá sản doanh

nghiệp. Do đó, việc phân tích khả năng thanh toán, đưa ra biện pháp nâng cao khả

năng thanh toán một yêu cầu đối với nhà quản lý tài chính.

45

Bảng 2.5. Chỉ tiêu khả năng thanh toán của công ty trách nhiệm hữu hạn sản

( ĐVT : lần )

xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh

Năm

Chênh lệch

Trung bình

2012/2011

2013/2012

Chỉ tiêu

ngành thương

2011

2012

2013

mại năm

Tương đối

Tuyệt đối

Tương đối

Tuyệt đối

2013

0,98

0,99

0,99

0,01

0,59

0,00

0,00

0,27

Khả năng thanh toán ngắn hạn

0,52

0,50

0,62

-0,02

-4,05

0,12

24,02

1,20

Khả năng thanh toán nhanh bình thường

Khả năng thanh toán

0,22

0,04

0,14

-0,17

-79,69

0,10

220,03

0,72

nhanh

3,23

-

-

-3,23

-100,00

-

-

-

Khả năng thanh toán lãi vay

( Nguồn: Tự tổng hợp)

Nhận xét

Khả năng thanh toán ngắn hạn: Chỉ tiêu này đánh giá khả năng có thể thanh

toán được các khoản nợ ngắn hạn, thể hiện mỗi một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo

bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Tỷ lệ này được tăng lên qua 2 năm 2011 và

2012 với mức tăng là 0,01 lần. Đến năm 2013 thì khả năng thanh toàn ngắn hạn của

công ty không đổi tại mức 0,99 lần. Dù mức tăng thấp trong năm 2012 nhưng cũng

cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty ngày một cải thiện, điều này chứng

tỏ công ty đang có một chu kì kinh doanh khá hiệu quả. Đặc biệt khả năng thanh toán

ngắn hạn của công ty đang gần ở mức 1 cho thấy công ty có khả năng thanh toán khá

tốt trên thị trường và còn cao hơn cả trung bình của ngành thương mại chỉ đạt ở mức

0,27. Điều đó cho thấy so với các công ty thương mại và cùng ngành trên thị trường thì

công ty vẫn được xét là có khả năng thanh toán cao.

Khả năng thanh toán nhanh bình thường: Chỉ tiêu này đo lường khả năng trả

nợ ngắn hạn mà không tính tới các tài sản bị giảm giá hoặc khó bán, thể hiện một đồng

nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Tuy các khoản

thanh toán ngắn hạn tăng nhưng năm 2012 khả năng thanh toán nhanh bình thường bị

46

giảm sút 0,02 lần so với năm 2011 nhưng đã tăng trở lại vào năm 2013. Trong thời

gian này, công ty gặp một chủt khó khăn về việc nhập khẩu máy lọc nên khả năng

thanh toán cũng giảm đồng thời do hàng tồn kho của công ty biến đổi tăng và chiếm tỷ

trọng ngày càng cao trong cơ cấu tài sản. Nếu so sánh khả năng thanh toán nhanh bình

thường của công ty với trung bình của ngành thương mại trên thị trường Việt Nam thì

ta có thể thấy rằng của công ty thấp hơn rất nhiểu so với trung bình ngành đang ở mức

1,20. Điều đó cho thấy công ty so với các công ty cùng lĩnh vực thương mại điều đó

chứng tỏ hệ số khả năng thanh toán nhanh bình thường của công ty chưa đảm bảo an

toàn thanh toán cho công ty. Do đó trong những năm tới, công ty cần phải tiếp tục

nâng dần hệ số này lên bằng cách giảm tỷ trọng hàng tồn kho vì hàng tồn kho được coi

là tài sản có tình thanh khoản thấp nên việc hàng tồn kho giảm sẽ làm hệ số khả năng

thanh toán nhanh bình thường tăng lên.

Khả năng thanh toán nhanh: Ta nhận thấy khả năng thanh toán nhanh của

công ty có xu hướng giảm qua các năm. Hệ số này năm 2011 là 0,22 lần, nghĩa là cứ

một đồng nợ ngắn hạn sẽ được đảm bảo bởi 0,22 đồng tiền và các khoản tương đương

tiền. Đến cuối năm 2012 hệ số này giảm về 0,04 lần ở mức rất thấp. Sang đến năm

2013 hệ số có tăng lên 0,14 lần tăng 0,10 lần tương ứng với mức tăng 220,03% so với

năm 2012. Do khả năng thanh toán nhanh bình thường giảm nên các khoản thanh toán

nhanh cũng giảm đi. Dù con số giảm không nhiều nhưng điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn

tới việc mua bán hàng hoá của công ty, khi không có nhiều khả năng thanh toán nhanh

thì công ty sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán luôn dẫn đến việc khó nhận được các

khoản chiết khấu thanh toán từ người bán. So sánh chỉ tiêu với trung bình ngành

thương mại ta có thể thấy rõ rằng công ty đang mất khả năng thanh toán so với trung

bình ngành đang ở mức 0,72. Vì vậy, công ty cần xây dựng một mức dự trữ tiền mặt

hợp lý, ổn định, đề phòng những biến động thất thường có thể xảy ra.

Khả năng thanh toán lãi vay: Là khoản chi phí sử dụng vốn nợ vay mà doanh

nghiệp phải trả cho nhà cung cấp vốn và nguồn trả nợ là từ lợi nhuận trước lãi vay và

thuế. Công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh chỉ phát sinh lãi

vay trong năm 2011, trong năm 2012 và 2013 công ty không thực hiện các khoản vay

ngân hàng. Cụ thể, năm 2011 khả năng thanh toán lãi vay của công ty khá cao đạt 3,23

lần. Điều đó cho thấy mức sinh lợi của đồng vốn mà doanh nghiêp huy động được khá

cao đủ để đảm bảo thanh toán lãi vay đúng hạn.

47

2.2.4. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản

Bảng 2.6. Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản

Năm Chênh lệch

2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu 2011 2012 2013

Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối

Hiệu suất sử dụng 0,92 0,56 0,53 - 0,36 - 38,74 - 0,03 - 5,67 tổng tài sản

Hiệu suất sử dụng 0,97 0,59 0,55 - 0,39 - 39,75 - 0,04 - 6,52 tài sản ngắn hạn

Hiệu suất sử dụng 17,76 15,66 19,57 - 2,10 - 11,85 3,92 25,03 tài sản dài hạn

( Nguồn: Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của công ty

TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)

Nhận xét

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: Trong giai đoạn năm 2011-2013 hiệu suất sử

dụng tổng tài sản giảm dần qua các năm. Năm 2012 giảm từ 0,92 lần xuống còn 0,56

lần giảm 0,36 lần tương ứng với mức giảm 38,74% so với năm 2011. Đến năm 2013,

hiêu suất sử dụng tổng tài sản giảm xuống còn 0,53 lần giảm tiếp 0,03 tương ứng với

mức giảm nhẹ 5,67% so với năm 2012. Chỉ tiêu này cho biết một đồng tổng tài sản

được sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân giảm là

do doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty có sự tăng giảm nhẹ

năm 2012 tăng 27,53% trong khi đó tổng tài sản tăng rất cao năm 2011 tăng 52,32%,

năm 2012 tăng 35,19% đã khiến cho hiệu suất sử dụng tổng tài sản giảm xuống do

mẫu số tăng quá mạnh. Nhìn tổng thể qua các năm thì hiệu suất sử dụng tổng tài sản là

một chỉ số nhỏ hơn 1, đây là dấu hiệu không tốt, công ty đã không sử dụng tài sản một

cách hợp lý và hiệu quả. Do vậy, công ty cần có những chiến lược khắc phục như đưa

ra các chính sách quản lý hàng lưu kho, thực hiện các chính sách cấp tín dụng hợp lý

để hạn chế việc hàng tồn kho chất đống trong kho và khoản phải thu khách hàng tăng

cao từ đó nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh.

48

Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn: Do hiệu suất sử dụng tổng tài sản giảm

xuống lên hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty cũng có xu hướng giảm theo.

Từ năm 2011 đến năm 2012 nếu một đồng tài sản ngắn hạn được sử dụng trong kỳ thì

tạo ra 0,59 đồng doanh thu giảm 0,39 đồng tương ứng với mức giảm 39,75% so với

năm 2011. Nguyên nhân giảm là do tài sản ngắn hạn của công ty tăng mạnh qua các

năm do hàng tồn kho và các khoản phải thu của công ty tăng lên. Trong khi đó, do tình

hình tiêu thụ doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty lại giảm

mạnh do đó hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty giảm dần. Vì vậy, để cải

thiện tình hình hiệu suất sử dụng tổng tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng,

công ty cần đẩy mạnh hoạt động bán hàng và tiêu thụ sản phẩm máy lọc nước của

mình, hạn chế các khoản hàng tồn kho và các khoản phải thu khách hàng trong thời

gian tới bằng các mô hình quản lý hàng tồn kho, quản lý các khoản phải thu theo mô

hình EOQ.

Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn: Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, các

tài sản dài hạn tạo ra được bao nhiều đồng doanh thu thuần. Năm 2011 là 0,1776 đồng,

đến năm 2012 chỉ còn 0,1566 đồng giảm 0,0210 đồng tương ứng với mức giảm

11,85%. Chỉ tiêu này giảm xuống trong năm 2012 là do tài sản dài hạn có sự đầu tư

thêm trong khi doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty giảm

mạnh. Đến năm 2013, hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn của công ty tăng lên 0,1957

đồng tăng 0,0392 đồng tương ứng với mức tăng 25,03%. Nguyên nhân là do trong

năm 2013 doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty tăng cao làm

cho lợi nhuận ròng của công ty tăng lên, tình hình sản xuất kinh doanh được cải thiện

đáng kể đã đẩy cho hiệu suất sinh lời của tổng tài sản tăng cao. Điều đó cho thấy trong

năm 2013 công ty đã có sự chú trọng trong công tác quản lý tài sản dài hạn để tăng

mức sinh lời của nó. Tuy nhiên công ty cũng cần nên cân nhắc rà soát lại công suất sử

dụng của tài sản cố định để tăng vòng quay của vốn cố định, tăng hiệu quả sản xuất

kinh doanh cho công ty cụ thể: Những tài sản nào quá cũ kỹ và lạc hậu công ty có thể

bán thanh lý, những tài sản nào công ty sử dụng với hiệu suất thấp có thể cho thuê để

tăng thêm thu nhập và tăng công suất sử dụng của máy móc giúp hiệu quả sử dụng tài

sản dài hạn tăng hơn nữa.

49

2.2.5. Phân tích một số chỉ tiêu đánh giá các bộ phân cấu thành tổng tài sản

Bảng 2.7. chỉ tiêu đánh giá các bộ phân cấu thành tổng tài sản

(ĐVT: Vòng)

Năm Chênh lệch

2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu 2011 2012 2013

Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối

Vòng quay hàng tồn kho 0,92 0,56 0,53 -0,36 -38,74 -0,03 -5,67

0,97 0,59 0,55 -0,39 -39,75 -0,04 -6,52 Vòng quay các khoản phải thu

Vòng quay tiền 17,76 15,66 19,57 -2,10 -11,85 3,92 25,03

( Nguồn: Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)

Nhận xét

Vòng quay hàng tồn kho: của công ty rất thấp lại có xu hướng giảm xuống.

Năm 2012 chỉ đạt 0,56 vòng giảm 0,36 vòng tương ứng với mức giảm 38,74% so với

năm 2011. Đến năm 2013, vòng quay hàng tồn kho tiếp tục giảm chỉ còn 0,53 vòng

giảm 0,03 vòng tương ứng với mức giảm 5,67% so với năm 2012. Cả ba năm có xu

hướng giảm như vậy là do sự thu hẹp của thị trường do suy thoái đồng thời công ty

hiện đang gặp khó khăn về nguồn vốn huy động, nợ phải thu tăng cao trong khi khả

năng vay nợ và khả năng tài chính của chủ đầu tư bị hạn chế khiến công ty không có

vốn. Đã khiến hàng lưu kho của công ty ứ đọng, tăng cao khiến tốc độ luân chuyển của

hàng lưu kho giảm đi. Trong thời gian tới công ty nên áp dụng các chính sách quản lý

hàng lưu kho theo mô hình EOQ để có thể xác định được lợi ích đạt được và chi phí bỏ

ra đối với việc lưu kho hàng hóa nhiều hay ít.

Vòng quay các khoản phải thu: nhìn chung cả ba năm hệ số vòng quay các

khoản phải thu của công ty đều giảm và nhỏ hơn mức 1. Cụ thể năm 2011 là 0,97

vòng, năm 2012 là 0,59 vòng giảm 0,39 vòng tương ứng với mức giảm 39,75% so với

năm 2011. Đến năm 2013 tiếp tục giảm xuống mức 0,55 vòng giản 0,04 vòng tương

ứng với mức giảm 6,52% so với năm 2012. Điều đó thể hiện các khoản phải thu của

công ty rất cao đa làm chậm lại vòng quay của các khoản phải thu và chiếm tỷ trọng

50

rất cao trong tổng tài sản của công ty. Công ty đang bị khách hàng chiếm dụng vốn lớn

vì vậy, trong tương lai công ty cần cân nhắc chính sách quản lý các khoản phải thu để

giảm tỷ trọng khoản phải thu, giảm chi phí quản lý nợ, nhưng cũng vẫn cho khách

hàng nợ ở mức nhất định trong điều khoản cho phép như 3/10 net 30 để tránh việc

công ty bị khách hàng chiếm dụng vốn quá nhiều dẫn tới việc thiếu vốn kinh doanh và

áp lực rủi ro nợ khó đòi.

2.2.6. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời

Bảng 2.8.Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của công ty trách nhiệm hữu hạn

sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh

( ĐVT : % )

Năm

Chênh lệch

Trung bình

2012/2011

2013/2012

Chỉ tiêu

ngành thương

2011

2012

2013

mại năm

Tuyệt đối

Tương đối

Tuyệt đối

Tương đối

2013 (%)

Tỷ suất sinh lời trên

0,25

0,11

0,82

-0,14

-56,32

0,71 651,42

1

doanh thu

0,23

0,06

0,44

-0,17

-0,73

0,38 608,85

1

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

Tỷ suất sinh lời trên

7,16

2,83

21,36

- 4,32

-0,60

18,53 653,62

3

vốn chủ sở hữu

( Nguồn: Bảng cân đối kết toán và báo cáo kết quả kinh doanh của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)

Nhận xét

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu: Năm 2012 tỷ suất lợi nhuận ròng trên doanh

thu thuần là 0,11% tức là cứ 1 đồng doanh thu nhận được sẽ tạo ra được 0,0011 đồng

lợi nhuận giảm 0,0014 đồng so với năm 2011 tương ứng với mức giảm 56,32%. Đến

năm 2013, cứ 1 đồng doanh thu nhận được sẽ tạo ra được 0,0082 đồng lợi nhuận ròng.

Nhận thấy trong cả 3 năm thì tỷ suất sinh lời trên doanh thi đều thấp và thấp nhất vào

năm 2012, điều đó cho thấy hiệu quả kinh doanh của công ty thấp. Sự sụt giảm vào

năm 2012 này là do tốc độ giảm của lợi nhuận ròng trong năm 2012 do chi phí của

doanh nghiệp tăng cao trong khi thị trường tiêu thụ giảm do trong tình trang suy thoái,

tăng trường kinh tế trong năm giảm khiến cho các hoạt động sản xuất và đầu tư của

51

doanh nghiệp giảm từ đó làm giảm tỷ suất sinh lời trên doanh thu của doanh nghiệp.

Đặc biệt nếu đem so sánh với trung bình ngành thương mại để có cái nhìn tổng quát

hơn về tỷ suất sinh lời trên doanh thu của công ty ta có thấy rõ ràng là công ty có tỷ

suất sinh lời thấp hơn rất nhiều so với trung bình ngành với mức là 0,18. Điều đó

chứng tỏ công ty cần phải có sự cố gắng rất nhiều trong việc tăng doanh thu cũng như

lợi nhuận sau thuế của mình.

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản: Trong năm 2012 tỷ suất là 0,06% được hiểu

là cứ 1 đồng đầu tư cho tài sản tạo ra được 0,0006 đồng lợi nhuận. Tương tự năm 2011

là 0,0023 đồng lợi nhuận trên 1 đồng đầu tư vào tài sản. Năm 2012 giảm 0,17% so với

năm 2011 do lợi nhuận sụt giảm với tốc độ cao hơn ở tử số trong khi mẫu số kà tổng

tài sản của công ty lại tăng cao đã làm cho tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của công ty

giảm xuống. Chỉ tiêu ở cả 2 năm đều ở mức thấp nên việc đẩy nhanh phát triển sản

xuất là điều đáng được quan tâm trong những năm tới. Đến năm 2013, tỷ suất sinh lời

trên tổng tài sản được tăng lên đến 0,0044 đồng nếu dùng 1 đồng tài sản được đưa vào

sử dụng. Đây là một tín hiệu tốt trong năm 2013 vì chỉ tiêu này tăng thể hiện sức sinh

lợi của kinh tế của tài sản càng cao, hiệu quả kinh doanh cao. Tuy tỷ suất sinh lời của

công ty không cao nhưng đến năm 2013 đã có sự tăng mạnh đạt 0,0044 đồng tăng

0,0038 đồng tương ứng với mức tăng 608,85% , điều đó cho thấy trong những năm tới

công ty sẽ có sự đột phá trong việc sinh lời của tài sản. Nhưng cần phải vượt qua được

mức trung bình của ngành thương mại là 1%, có nghĩa là nếu đem 1 đồng đầu tư vào

tài sản sẽ tạo ra được 0,01 đồng trong năm 2013 đối với tủng bình ngành trong khi

công ty chỉ đạt 0,0044 đồng. Vì vậy, trong thời gian tới để tăng được tỷ suất sinh lời

của tài sản công ty cần có các chính sách quản lý tài sản hợp lý đồng thời đẩy mạnh lợi

nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty.

Tỷ suất sinh lời trên vốn CSH: có thể nói biểu hiện rõ nét và cao độ nhất khả

năng sinh lời của doanh nghiệp là khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu, bởi vì mọi

hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành suy cho cùng cũng là nhằm mục địch nâng cao

hiệu quả vốn đầu tư của chủ sở hữu. Trong năm 2011, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở

hữu đạt 0.0716 đồng, chỉ tiêu này trong năm 2012 giảm 4,32% so với năm 2011. Năm

2012 là 2,83% cho biết cứ 1 đồng nguồn vốn CSH bỏ ra mang lại 0.0283 đồng lợi

nhuận ròng. Có sự sụt giảm trong khả năng sinh lời trên vốn CSH là việc quản lý, và

sử dụng chưa tốt về nguồn vốn cũng như năm 2012 hoạt động chưa hiệu quả như năm

52

2011. Công ty cần có những chính sách phát triển hợp lý để tình hình nguồn vốn được

cải thiện hơn. Điển hình là sang đến năm 2013, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đã

tăng mạnh lên 0,2136 đồng nếu đem 1 đồng nguồn vốn chủ sở hữu được sử dụng đầu

tư. Điều đó cho thấy, trong năm 2013 công ty đã có những biện pháp sử dụng nguồn

vốn phù hợp đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nhưng so với trung bình ngành thương mại

thì công ty cần phải có các chính sách cố gắng hơn nữa vì xét với trung bình ngành

công ty vẫn đang ở mức thấp hơn mức 0,03.

2.2.7. Phân tích khả năng sinh lời theo Dupont

Mục đích cảu mô hình Dupont là phân tích khả năng sinh lời của một đồng tài

sản mà doanh nghiệp sử dụng dưới sự ảnh hưởng cụ thể của những bộ phận tài sản, chi

phí, doanh thu nào. Thông qua phân tích, giúp cho các nhà quản trị đưa ra các quyết

định nhằm đạt được khả năng lợi nhuận mong muốn.

Lợi nhuận thuần Lợi nhuận thuần Doanh thu thuần Tỷ suất sinh lời = x = của tài sản (ROA) Tổng tài sản Doanh thu thuần Tổng tài sản

Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)

Tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS)

 = X Số vòng quay của tài sản (SOA)

Bảng 2.9. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh thông qua mô hình tài chính Dupont

(ĐVT: đồng)

Năm Chênh lệch

2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu 2011 2012 2013

Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối

0,92 0,56 0,53 -0,36 -38,74 - 0,03 - 5,67 Số vòng quay của tài sản (SOA)

0,25 0,11 0,82 -0,14 -56,32 0,71 651,42 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)

0,23 0,06 0,43 -0,17 -73,22 0,37 85,83 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

( Nguồn: Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)

53

Nhận xét

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): phân tích qua mô hình Dupont cho thấy

ROA của công ty có sự tăng giảm không đồng đều qua các năm. Năm 2011 là 0,0023

đồng lợi nhuận ròng nếu đem một đồng tài sản vào hoạt động. Đến năm 2012 tỷ suất

này giảm xuống mức rất thấp chỉ còn 0,0006 đồng giảm 0,0017 đồng tương ứng với

mức giảm 73,22 so với năm 2011. Nguyên nhân giảm trong năm 2012 là do cả hai

nhân tố là số vòng quay của tài sản (SOA) và tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)

giảm mạnh. Đến năm 2013, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản tăng mạnh đến mức

0,0043 đồng tăng 0,0037 đồng tương ứng với mức tăng 85,83% so với năm 2012.

Nguyên nhân tăng là do ảnh hưởng của hai nhân tố:

- Tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần năm 2013 tăng so với năm 2012 tới

651,42%, chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh thương mại trong năm 2013 đạt mức

khá tốt đồng thời chứng tỏ thêm khả nămg kiểm soát chi phí của công ty khá ổn định.

- Số vòng quay của tài sản giảm nhưng mức giảm rất thấp, hầu như ít ảnh hưởng

đến khả năng sinh lời của tổng tài sản chỉ ở mức giảm 5,67% so với năm 2012. Tuy

nhiên công ty cũng lên chú ý vào sức sản xuất của tài sản trong những năm tiếp tiếp

theo vì đây chính là một nhân tố tích cực có thể giúp nhà quản trị tăng ROA nhanh.

Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn sản

xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh thông qua mô hình tài chính Dupont

Sau khi dựa vào mô hình tài chính chi tiết trên để nghiên cứu, xem xét các nhân

tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của tài sản ( ROE)

Tỷ suất sinh lời của Lợi nhuận ròng Doanh thu Tổng tài sản

VCSH (ROE) = x x

Doanh thu Tổng tài sản Vố chủ sở hữu

Tỷ suất sinh lời của Tỷ suất sinh lời của Số vòng quay của Hệ số tài sản so = x x  VCSH (ROE) doanh thu (ROS) tài sản (SOA) với VCSH (AOE)

54

Bảng 2.10. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu thông qua mô hình tài chính dupont

(ĐVT: đồng)

Năm Chênh lệch

2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu 2011 2012 2013

Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối

Tỷ suất sinh lời trên 0,25 0,11 0,82 -0,14 -56,32 0,71 651,42 doanh thu (ROS)

Số vòng quay của tài 0,92 0,56 0,53 -0,36 -38,74 0,03 5,67 sản (SOA)

Hệ số tài sản so với 31,00 45,88 48,78 14,88 47,99 2,90 5,94 vốn chủ sở hữu (AOE)

Tỷ suất sinh lời trên vốn 7,16 2,83 21,36 - 4,32 -60,00 18,53 653,62 chủ sở hữu (ROE)

( Nguồn: Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)

Biểu đồ 2.3. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Nhận xét

Nhìn vào trên ta thấy muốn nâng cao khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu có thể

tác động vào ba nhân tố: hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu (đòn bẩy tài chính), số

vòng quay của tài sản và tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần. Tỷ suất sinh lời trên vốn

55

chủ sở hữu của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh có sự

biến động không đồng đều, giảm trong năm 2012 nhưng tăng mạnh trong năm 2013.

Cụ thể, năm 2011 ROE đạt 0,0716 đồng nếu đem 1 đồng vốn chủ sở hữu vào hoạt

động sản xuất thương mại, đến năm 2012 ROE giảm xuống chỉ còn 0,0283 đồng giảm

0,0432 đồng tương ứng với mức giảm 60,00% so với năm 2011. Nguyên nhân giảm

thứ nhất là do tỷ suất sinh lời trên doanh thu giảm. Nguyên nhân thứ hai là do số vòng

quay của tài sản cũng giảm mạnh do lợi nhuận sau thuế của công ty trong năm 2012

đạt mức rất thấp trong khi tài sản được đưa vào đầu tư tăng lên. Mặc dù hệ số tài sản

so với vốn chủ sở hữu tăng lên nhưng mức tăng thấp hơn so với mức giảm của ROS và

SOA của công ty. Đến năm 2013, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tăng mạnh đạt

0,2136 đồng nếu đem 1 đồng VCSH đầu tư. Điều đó chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn

chủ sở hữu đã nâng cao. Việc tăng đó là do ba nhân tố:

- Tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần năm 2013 tăng cao so với năm 2012 từ

0,11 lên tới 0,82 tăng 651,42%. Chứng tỏ công ty đã mở rộng thị phần, kiểm soát chi

phí tốt, đây là nhân tố tích cực cần phát huy.

- Số vòng quay của tài sản (SOA) giảm nhẹ nhưng mức giảm rất thấp lên ít ảnh

hưởng đến tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu chỉ giảm mức 5,67% so với năm 2012

- Đòn bẩy tài chính năm 2013 tăng từ 45,88 lên 48,78 tương ứng với mức tăng

5,94% so với năm 2012. Điều đó chứng tỏ doanh nghiệp đã có sự gia tăng nguồn vốn

vay trong năm 2013 để đầu tư vào tài sản khi đó làm cho độ lớn của đòn bẩy tài chính

cao, đã giúp cho ROE tăng lên.

- Từ ba nhân tố trên đã làm tăng ROE trong năm 2013 lên mức cao hơn đạt 21,36

so với năm 2011 là 7,16 và 2012 chỉ đạt 2,83. Điều đó chứng tỏ trong năm 2013 doanh

nghiệp sử dụng tài sản tốt hơn đem lại lợi suất cao hơn so với các năm trước.

2.4. Đánh giá tình hình tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất

thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh

Có thể nhận xét tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty tốt lên vào năm 2011 nhưng sau đó lại có dấu hiệu xấu đi trong năm 2012 và năm

2013 lại tốt trở lại. Qua thời gian đi sâu tìm hiểu thực tế hoạt động tài chính (năm 2011-2013) tại công ty, tôi xin rút ra một số nhận xét khái quát chung về tình hình tài chính của công ty trong giai đoạn 2011-2013 như sau:

56

2.4.1. Kết quả đạt được

Hơn 10 năm là một khoảng thời gian dài đối với sự phát triển của một công ty.

Nhưng bằng sự quyết tâm, nỗ lực không ngừng của mỗi thành viên cũng như sự đoàn

kết, đồng lòng trong nội bộ mà công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu

Việt Anh đã tự khẳng định được vai trò và vị thế của mình trên thị trường máy lọc

nước. Điều này được thể hiện khá rõ qua số lượng đơn đặt hàng ngày càng nhiều, quy

mô công ty ngày càng lớn mạnh, công ty ngày một khang trang và to đẹp hơn.

Song song với sự phát triển và mở rộng về quy mô sản xuất thì việc coi trọng

chữ tín, không ngừng đổi mới và hoàn thiện nhằm nâng cao công tác quản lý sao cho

phù hợp với sự thay đổi của nên kinh tế thị trường luôn là bí quyết tạo nên sự thành

công của công ty.

Trong sự thành công này của công ty không thể không kể đến sự đóng góp rất

lớn của công tác lập và phân tích tình hình tài chính trong công ty. Đó chính là tiền đề

quan trọng giúp Ban giám đốc hiểu rõ những điểm mạnh – điểm yếu của công ty, từ đó

vạch ra những có những quyết sách trong việc vận hành bộ máy của công ty.

Nhìn chung việc sắp xếp, bố trí nhân sự tại Phòng Kế toán của công ty là tương

đối tốt, đội ngũ kế toán của công ty có đầy đủ năng lực, kinh nghiệm và làm việc với

tinh thần trách nhiệm cao. Phần mềm kế toán mà công ty đang áp dụng khá hoàn thiện

và Công ty đã vượt lên sự khó khăn của nền kinh tế khi mà hàng loạt các doanh nghiệp

phải đóng cửa. Lợi nhuận của công ty trong giai đoạn 2011-2013 vẫn ở mức thấp

nhưng có sự tăng trưởng trong năm 2013 tăng 858,32% so với năm 2012. Điều đó cho

thấy công ty đang có hướng đi đúng đắn gia tăng lợi nhuận của mình.

Công ty có xu hướng không ngừng mở rộng quy mô kinh doanh, thể hiện ở

tổng tài sản và tổng nguồn vốn tăng cao qua các năm, trong năm 2012 tăng 52,32% so

với năm 2011 và năm 2013 tăng 35,19% so với năm 2012. Tổng tài sản tăng lên chủ

yếu do tà sản ngắn hạn tăng. Tổng nguồn vốn tăng lên chủ yếu do công ty tăng cường

sử dụng nợ phải trả tăng cao.

Bộ máy quản lý của công ty ngày càng hoàn thiện với 4 cấp và bộ phân ban

giảm đốc được sự tham mưu của các phòng ban chức năng, đáp ứng kịp thời các thông

tin số liệu từ cấp dưới cho tới cấp lãnh đạo cao nhất của công ty. Các chính sách đãi

ngộ, lương thưởng được công ty hết sức chú trọng, tạo niềm tin cho cán bộ công nhân

viên an tâm công tác, phát huy hết năng lực sẵn có.

57

Tỷ suất sinh lời tài sản dài hạn ở mức cao. Nhưng trong những năm gần đây hệ

số này đang tăng lên trong năm 2013 đạt 19,57% điều này chứng tỏ rằng hiệu quả sử

dụng tài sản dài hạn của công ty ngày càng tốt hơn điều này cho thấy công ty đã có sự

chú trọng trong công tác quản lý tài sản dài hạn để gia tăng mức sinh lợi của nó

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của công ty luôn ở mức cao điều đó cho thấy

công ty sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu hợp lý đem lại hiệu quả kinh tế cao. Điển hình

là sang đến năm 2013, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đã tăng mạnh lên 0,2136

đồng nếu đem 1 đồng nguồn vốn chủ sở hữu được sử dụng đầu tư. Điều đó cho thấy,

trong năm 2013 công ty đã có những biện pháp sử dụng nguồn vốn phù hợp đem lại

hiệu quả kinh tế cao. Nhưng so với trung bình ngành thương mại thì công ty cần phải

có các chính sách cố gắng hơn nữa vì xét với trung bình ngành công ty vẫn đang ở

mức thấp hơn mức 0,03.

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân

Tuy hoạt động kinh doanh mang lại hiệu quả và có xu hướng tăng dần nhưng

hiệu quả kinh doanh vẫn còn thấp, việc quản lý chi phí bán hàng chưa tốt nên tổng chi

phí vẫn còn cao, cơ cấu vốn và nguồn vốn vẫn chưa hợp lý, số tài sản mà công ty đầu

tương ứng lớn hơn vốn chủ sở hữu mà công ty huy động cho nên công ty phải đi vay

và chiếm dụng vốn từ bên ngoài.

Hàng tồn kho tăng cao gây ứ đọng hàng hóa trong kho với mức tăng qua các

năm ngày càng cao. Đồng thời các khoản phải thu của công ty cũng tăng lên qua

các năm cụ thể năm 2012 đã tăng 131,66% so với năm 2011 và năm 2013 tăng

42,12 so với năm 2012 điều này đã gây khó khăn cho việc thanh toán các khoản nợ,

nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm công ty mất khả năng thanh toán ngay các khoản

nợ ngắn hạn và khi nhu cầu vốn lưu động tăng cao công ty sẽ gặp khó khăn trong

vấn đề huy động vốn.

Tình hình thanh toán nợ của công ty vẫn ở mức thấp trong 2 năm 2012 và 2013.

Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, thanh toán nhanh còn kém ở mức rất thấp đặc biệt

là năm 2012 chỉ đạt 0,04 lần. Mặc dù bước sang năm 2013 tất cả các chỉ tiêu thanh

toán của công ty đã có xu hướng tăng nhẹ nhưng nếu so sánh với trung bình ngành

thương mại thì có thể thấy rằng vẫn ở mức thấp hơn.

Những hạn chế trên là do việc quản lý vấn đề tài chính của công ty c̣n chưa tốt.

Để phát triển kinh doanh công ty phải vay mượn để tài trợ cho hoạt động của mình

nhưng việc huy động lại mất cân đối dẫn đến khả năng thanh toán ngắn hạn của công

ty gặp khó khăn.

58

Về cơ cấu nguồn vốn: Công ty đã tích cực huy động nhiều nguồn vốn để bổ

sung vốn kinh doanh trong điều kiện vốn chủ sở hữu còn hạn hẹp như: chiếm dụng

vốn của nhà cung cấp, vay ngắn hạn.. Tuy nhiên công ty chưa đa dạng hóa được các

kênh huy động vốn khác ví dụ như thuê tài chính, vay dài hạn.... Hơn nữa, hệ số nợ

của công ty còn quá cao và chưa thấy xu hướng giảm xuống và chủ yếu trong nguồn

vốn nợ là nguồn vốn ngắn hạn. Như vậy, nguồn vốn của công ty chủ yếu được hình

thành từ nguồn tài trợ bên ngoài và vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ

trong tổng nguồn vốn do đó áp lực thanh toán cao, công ty thường xuyên phải đối mặt

với các khoản nợ đến hạn. Việc vay nợ nhiều cũng làm cho chi phí lãi vay của công ty

cao hơn và gây khó khăn nhất định trong việc huy động thêm vốn trong thời gian tới...

Mặt khác với vốn chủ hữu nhỏ đã làm giảm đi tính tự chủ trong việc tổ chức nguồn

vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh cho

công ty. Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do thực tế công ty chưa niêm yết

trên thị trường chứng khoán nên khó tăng vốn chủ sở hữu được và huy động vốn vay

dài hạn bằng cách phát hành trái phiếu.

Về cơ cấu tài sản: Hiện nay tài sản ngắn hạn đang chiếm tỷ trọng chủ yếu trên

90%, trong khi tài sản cố định chưa được đầu tư đúng mức. Tài sản ngắn hạn luôn

chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong tổng tài sản, trong đó chủ yếu là hai khoản phải

thu của khách hàng và hàng tồn kho. Cơ cấu về tài sản của công ty chưa hợp lý luôn ở

mức cao như vậy công ty cần giảm tỷ trọng đầu tư vào tài sản ngắn hạn và tăng đầu tư

vào tài sản dài hạn vì nguồn vốn ngắn hạn quá cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh

toán cũng như tính tự chủ của công ty.

Về quản lý khoản phải thu: Chiếm tỷ trọng chủ yếu trong các khoản phải thu là

khoản phải thu khách hàng. Trong những năm qua, khoản phải thu khách hàng của

công ty có xu hướng tăng, mặt khác lại chiếm tỷ trọng rất lớn. Điều này tác động xấu

tới công ty, giảm khả năng thanh toán, mất cân đối tài chính hoặc nếu không quản lý

tốt có thể chuyển thành nợ quá hạn khó đòi, nguy cơ tổn thất vốn rất cao.

Về khả năng thanh toán: Quản lý khả năng thanh toán kém, mất cân đối giữa

doanh thu và chi phí cùng hiệu suất hoạt động không cao dẫn đến hiệu quả hoạt động

kinh doanh của công ty giảm dần và so với các doanh nghiệp cùng ngành ở mức thấp

nguyên nhân là do các khoản hàng tồn kho và các khoản phải thu quá cao lại tăng dần

qua các năm.

59

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Qua những phân tích, đánh giá trên cho thấy quy mô và hiệu quả hoạt động của

công ty đã có cải thiện, tuy nhiên còn tồn tại một số hạn chế. Dù gặp không ít khó

khăn xuất phát từ thị trường nhiều biến động, nhưng với sự nỗ lực của tập thể cán bộ

công nhân viên công ty, công ty vẫn duy trì, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trong chương 2, đề tài đã phân tích, đánh giá và làm rõ tình hình tài chính cũng

như kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Từ đó rút ra những thành tích đạt được

và hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó, làm cơ sở đề ra một số

biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty trong thời gian tới.

60

CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH

CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI

XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT ANH

3.1 Định hướng phát triển của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại

xuất nhập khẩu Việt Anh

Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt ở cả trong và ngoài nước như hiện nay, để

đứng vững và phát triển mỗi doanh nghiệp phải tự tìm cho mình một hướng đi phù hợp

trong từng giai đoạn dựa trên tình hình thực tế của mỗi doanh nghiệp cũng như ảnh

hưởng của môi trường vĩ mô và tình hình kinh tế thế giới.

Công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh là một doanh

nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh luôn hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận

và tối thiểu hóa chi phí mà vẫn đảm bảo đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp.

Để mục tiêu của công ty đạt hiệu quả cao nhất thì cần phải xác định phương hướng

sử dụng các nguồn lực sẵn có sao cho tốt nhất. Sau đây là một số chiến lược phát

triển dài hạn của công ty. Công ty có những định hướng hoạt động cho mục tiêu

của mấy năm sau như sau:

Giữ vững và phát triển thị trường, tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm.

Công ty đẩy mạnh mục tiêu xây dựng và chiếm lĩnh thị trường: xây dựng thêm

các cửa hàng trên các địa điểm thuận lợi không chỉ cho công ty mà cho cả khách hàng,

giảm bớt tiền công vận chuyển cho khách hàng, giúp thỏa mãn tối đa nhu cầu của

khách hàng.

Tăng cường công tác quản lý, hoàn thiện bộ máy quản lý điều hành, lập thêm

phòng quản lý sản xuất, xuất nhập khẩu để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của

công ty.

Nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp tục đầu tư vào dây chuyền sản xuất của công

ty, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bởi nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng để

làm nên được thành công và tạo ra vị thế của công ty trên thương trường.

Với mong muốn cung cấp cho khách hàng những sản phẩm chất lượng cao phù

hợp với thị hiếu của khách hàng. Công ty chủ trương định hướng phát triển hoạt động

tiêu thụ sản phẩm theo ba hướng: Tuyển chọn, xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ

nhân viên thực sự có năng lực, có khả năng nắm bắt thị trường, lựa chọn các sản phẩm

61

chất lượng và quan trọng nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ kĩ thuật có kinh nghiệm cao

đáp ứng tốt dịch vụ trước và sau bán hàng của công ty đối với khách hàng.

Tăng thị phần của công ty lên 0.5% thị trường miền Bắc hay đòi hỏi mỗi năm

số đại lý cần phải tăng lên 2 đại lý và duy trì được lượng khách hàng bán lẻ trực

tiếp qua công ty như hiện nay. Giữ vững mối quan hệ tốt với các đại lý: Hiện tại các

đại lý của công ty hoạt động tương đối có hiệu quả, chính vì vậy càng cần phải củng

cố mối quan hệ với các đại lý này thông qua việc điều chỉnh, cập nhật hàng tháng các

chính sách giá, chính sách chiết khấu, chính sách khuyến mại và hỗ trợ từ phía công

ty cho các đại lý. Trong kinh tế thị trường cạnh tranh là một việc không thể tránh

khỏi, việc tạo ra được các mối quan hệ tốt với các đại lý sẽ là một lợi thế lớn

cho công ty trong việc cạnh tranh. Khi quy mô của các đối thủ cạnh tranh được

mở rộng , tất yếu họ sẽ tìm cách mở rộng hệ thống kênh phân phối và các đại lý

của công ty chắc chắn sẽ là một trong những mục tiêu để họ lôi kéo. Vì vậy

việc giữ vững mối quan hệ tốt với các đại lý là hết sức quan trọng.

Lựa chọn kỹ lưỡng, tiến tới hợp tác toàn diện với các nhà sản xuất hàng đầu

trên thế giới nhằm mang đến cho khách hàng những sản phẩm chính hãng và nhiều

chủng loại hàng hóa khác nhau. Mở rộng hệ thống các đại lý đến tận các tỉnh thành

đồng thời thu hút những khách hàng lớn như là bệnh viện, trường học...

Công ty cần ban hành các quy chế cụ thể về tài chính: Quy chế này cần được

xây dựng trên quy chế tài chính của Bộ công thương, có tính đến những đặc thù riêng

của công ty. Đối với tài chính công ty cần có những chiến lược sử dụng tài sản và

nguồn vốn hợp lý và cân đối, đáp ứng tối đa nhu cầu phát triển hoạt động sản xuất

kinh doanh của công ty. Đối với nhà xưởng, văn phòng…công ty chỉ rõ quyền, trách

nhiệm rõ ràng trong việc sử dụng tài sản cố định. Việc phân quyền quyết định sử dụng

tài sản ngắn hạn và dài hạn sẽ tạo điều kiện cho mỗi bộ phận hoạt động linh hoạt

hơn.Và nâng cao trách nhiệm trong việc bảo vệ tài sản hơn.

3.2. Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty trách nhiệm

hữu hạn sản xuất thương mại Việt Anh

Trên đây, ta đã phân tích từng nét chung, riêng tình hình tài chính của công ty

TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh. Từ sự phân tích đó, phần nào

thấy được mặt tích cực và hạn chế còn tồn tại. Đối với những mặt tích cực, doanh

62

nghiệp nên tiếp tục phát huy hơn nữa, còn những mặt còn hạn chế nên phấn đấu tìm

biện pháp khắc phục.

Trong những mặt hạn chế tại doanh nghiệp, có những vấn đề thuộc về những

nguyên nhân khách quan mà mọi doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường

đều gặp phải: sự cạnh tranh khốc liệt cả trong và ngoài nước khiến hoạt đông kinh

doanh ngày càng khó khăn; chính sách chế độ của Nhà nước trong các lĩnh vực; những

thay đổi trong quan điểm của người tiêu dùng. Những mặt khách quan này đòi hỏi

doanh nghiệp phải linh động, uyển chuyển để thích nghi và khắc phục, chính những

điều đó sẽ giúp gạn lọc những doanh nghiệp có khả năng thích nghi thì tồn tại, nếu

không sẽ bị phá sản.

Để tồn tại đã khó, để đứng vững càng khó khăn hơn. Lúc này, vấn đề của

doanh nghiệp là khắc phục những khó khăn chủ quan phát sinh trong nội bộ doanh

nghiệp. Những khó khăn này là cản trở trên con đường phát triển của doanh nghiệp.

Từ những nhận định đó, cộng thêm sự hiểu biết về tình hình thực tế doanh

nghiệp, em mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị với mong muốn đóng góp phần nhỏ bé

vào sự phát triển chung của cả doanh nghiệp.

3.2.1. Tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu, giảm tỷ trọng các khoản nợ

Trong 3 năm qua nợ phải trả luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn.

Nguyên nhân là do hiệu quả kinh doanh thấp, lợi nhuận làm ra ít nên vốn dùng để bổ

sung ít, trong khi nhu cầu lại tăng cao, hệ quả là doanh nghiệp phải đi vay bên ngoài

hoặc đi chiếm dụng của các đối tượng khác. Do đó công ty cần chú ý gia tăng tỷ lệ vốn

tự có bằng cách tăng quỹ phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện khả năng thanh toán.

Công ty nên lập kế hoạch nguồn vốn lưu động để so sánh nguồn vốn hiện có với số

vốn thường xuyên cần thiết tối thiểu để xem vốn lưu động thừa hay thiếu nhằm xử lý

số thừa, tổ chức huy động nguồn đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh bằng

cách huy động các nguồn vốn dư thừa của các cán bộ công nhân viên trong công ty

đây là một nguồn có chi phí lãi thấp để mở rộng sản xuất kinh doanh, góp vốn liên

doanh... Nếu thiếu phải tìm nguồn tài trợ, trước hết là nguồn bên trong (quỹ phát triển

sản xuất kinh doanh...) Những bất lợi từ sự sụt giảm của kinh tế thế giới, đã tác động

không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động trong

công ty. Mặc dù thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm giảm

thiểu do tác động xấu của nền kinh tế thế giới đối với nền kinh tế trong nước, như kiềm

63

chế lạm phát, hạn chế nhập siêu, điều chỉnh lãi suất…đã có tác dụng, nhưng khó khăn

vẫn đang hiện hữu đối với nền kinh tế thể hiện tốc độ tăng trưởng GDP giảm, nợ xấu

khó kiểm soát, tăng trưởng tín dụng thấp, số lượng doanh nghiệp đóng cửa và tỷ lệ

hàng tồn kho cao…đối tượng bị tác động nặng nề nhất rơi vào nhóm các doanh nghiệp

nhỏ và vừa ( vốn ít, chủ yếu là nguồn vay từ ngân hàng, sản xuất manh muốn, sức

cạnh tranh thấp, quản trị doanh nghiệp còn nhiều bất cập…) Chính vì vậy công ty cần

gia tăng vốn tự có của công ty nên cao rồi mới tới nguồn bên ngoài (vay ngân hàng,

vay cá nhân...)

3.2.2. Tăng cường quản lý các khoản nợ và phải thu

Đối với các khoản phải thu: Việc các khoản phải thu tăng có thể làm chậm tốc

độ luân chuyển tài sản lưu động, nhưng đôi khi các khoản phải thu tăng cũng sẽ có lợi

cho công ty, vì công ty đã có nhiều khách hàng, bán được sản phẩm, từ đó làm tăng

doanh thu lên. Tuy nhiên, công ty cũng cần có một số biện pháp để có thể giảm bớt các

khoản phải thu như: khi ký hợp đồng với khách hàng, công ty nên đưa vào một số ràng

buộc trong điều khoản thanh toán hoặc một số ưu đãi nếu khách hàng trả tiền sớm như

cho khách hàng hưởng điều khoản 3/10 net 30 để có thể hạn chế các khoản phải thu có

thời hạn quá dài. Thực hiện các chương trình khuyến mại đi kèm, hay giảm giá, cho

hưởng chiết khấu khi mua với số lượng lớn và thực hiện thanh toán luôn. Như vậy vừa

giúp khách hàng sớm thanh toán nợ cho công ty lại vừa là hình thức khuyến mãi giúp

giữ chân khách hàng lại với công ty.

- Đối với khoản tạm ứng cho công nhân viên:

Khoản tạm ứng là một khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người

nhận tạm ứng để thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh hoặc giải quyết một công

việc nào đó đã được phê duyệt. Người nhận tạm ứng phải là công nhân viên chức hoặc

người lao động làm việc tại doanh nghiệp. Đối với người nhận tạm ứng thường xuyên

(thuộc các bộ phận cung ứng vật tư, hành chính quản trị…) phải được giám đốc doanh

nghiệp chỉ định bằng văn bản.

Người nhận tạm ứng (có tư cách cá nhân hay tập thể) phải chịu trách nhiệm với

doanh nghiệp về số đã nhận tạm ứng và chỉ được sử dụng tạm ứng theo đúng mục đích

và nội dung công việc đã được phê duyệt.

Khi hoàn thành, kết thúc công việc được giao, người nhận tạm ứng phải quyết

toán toàn bộ, dứt điểm (theo từng lần, từng khoản) khoản đã tạm ứng trên bảng thanh

64

toán tạm ứng: Số tạm ứng đã nhận, khoản tạm ứng đã sử dụng (kèm theo chứng từ gốc

chứng minh), khoản chênh lệch giữa số đã tạm ứng và số đã sử dụng (nếu có). Khoản

tạm ứng sử dụng không hết phải nộp lại quỹ hoặc tính trừ vào lương của người nhận

tạm ứng.

Kế toán phải mở sổ kế toán chi tiết theo dõi cho từng đối tượng nhận tạm ứng

ghi chép đầy đủ tình hình nhận, thanh toán tạm ứng theo từng lần tạm ứng.

Trong trường hợp thanh toán các khoản tạm ứng không kịp thời, không đầy

đủ… sẽ làm sai lệch kết quả kinh doanh, bởi vì có rất nhiều khoản tạm ứng khi thanh

toán sẽ được phân bổ hoặc hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất, kinh doanh.

Qua tìm hiểu và trực tiếp tham gia đoàn kiểm tra tại một số chi nhánh và cửa

hàng phân phối tôi nhận thấy: Hầu hết các cửa hàng trong hệ thống đã ban hành quy

định về quản lý, thanh toán trong đó có quy định về quản lý, thanh toán các khoản tạm

ứng và tổ chức thực hiện theo đúng quy định. Tuy nhiên, trong quản lý, thanh toán các

khoản tạm ứng vẫn còn có những thiếu sót, cụ thể:

Một là, đối với những người nhận tạm ứng thường xuyên tại một số cửa hàng

chưa có văn bản chỉ định của giám đốc;

Hai là, việc quản lý các khoản tạm ứng đôi lúc chưa được coi trọng đúng mức,

tâm lý coi các khoản tạm ứng là khoản cho mượn dẫn tới tình trạng nhiều khi tạm ứng

không đúng người, số tiền tạm ứng không sát thực tế…

Ba là, một số cửa hàng chưa quy định thời hạn hoàn trả nên không có chế tài xử

phạt người chậm chễ.

Bốn là, một số cửa hàng thực hiện tách rời giữa tạm ứng và thanh toán làm

doanh số thu, chi tiền mặt tăng một cách giả tạo, các bút toán không phản ánh đúng

bản chất, thực tế sử dụng các khoản tạm ứng…Để nâng cao trách nhiệm của người

quản lý tạm ứng và của người nhận tạm ứng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, hạn chế

đến mức thấp nhất tài sản có không sinh lời đồng thời củng cố tính pháp lý cho người

nhận tạm ứng thường xuyên, theo tôi các đơn vị cần làm tốt những nội dung sau:

1. Rà soát lại những người thuộc diện nhận tạm ứng thường xuyên nếu chưa có

quyết định hay văn bản chỉ định của giám đốc phải bổ sung;

2. Quy định chế tài xử phạt cả với người được phân công quản lý cũng như với

người nhận tạm ứng. Trường hợp để tạm ứng quá hạn do lỗi của người được giao quản

lý, hay của người nhận tạm ứng ngoài vấn đề xem xét, đánh giá hiệu quả công tác

người và người nhận tạm ứng còn phải trả lãi đối với khoản tạm ứng theo lãi suất quá

65

hạn cho vay cán bộ công nhân viên.

3. Tổ chức theo dõi quản lý tốt từng khoản tạm ứng, gắn liền giữa tạm ứng và

thanh toán tạm ứng theo quy định đảm bảo phản ánh đúng số tiền mặt thực tế thu, chi

là cơ sở đánh giá đúng năng suất lao động. Hoàn thiện tính pháp lý và nâng cao hiệu

quả sử dụng các khoản tạm ứng góp phần làm minh bạch tình hình tài chính. Nâng cao

hiệu quả sử dụng các khoản tạm ứng là một trong những biện pháp khai thác nội lực vì

mục tiêu an toàn hiệu quản. ông ty cần nhắc nhở nhân viên làm tốt việc hoàn ứng sau

mỗi đợt công tác hoặc mua hàng, nếu chậm trễ sẽ cắt khen thưởng, cắt danh hiệu thi

đua. Đặt ra thời hạn tạm ứng trong phạm vi từ 3-5 ngày sau khi kết thúc thời gian công

tác để đảm bảo công ty có thể theo dõi các khoản tiền này đồng thời hạn chế bị thất

thoát các khoản tạm ứng.

- Đối với các khoản phải trả: theo dõi cụ thể từng khoản nợ ứng với từng chủ

nợ, xác định khoản nào có thể chiếm dụng hợp lý, khoản nào đã đến hạn cần thanh

toán nhằm nâng cao uy tín của doanh nghiệp, tăng sự tin cậy của các bạn hàng. Công

ty cần chú trọng thanh toán các khoản công nợ với ngân sách nhằm thực hiện tốt nghĩa

vụ với Nhà nước.

Để quản lý tốt các khoản này, công ty có thể áp dụng một số biện pháp sau:

Một là: Quy định rõ các nội dung của hợp đồng công ty chuẩn bị ký kết, bao

gồm: giá trị tiền mà khách hàng phải trả trước, thời hạn thanh toán, phương thức

thanh toán, các điều khoản phạt vi phạm hợp đồng….Nếu bên nào vi phạm hợp

đồng thì phải chịu trách nhiệm bồi thường và thực hiện đầy đủ các điều khoản đã

cam kết trong hợp đồng. Các nội dung này phải được phòng kinh tế - kế hoạch

nghiên cứu kỹ lưỡng, đảm bảo cân đối được giữa các yếu tố chi phí, lợi nhuận và

tình hình tài chính của khách hàng.

Hai là: Thực hiện chính sách chiết khấu hợp lý đối với những hợp đồng có giá

trị lớn, các khách hàng thường xuyên, chiết khấu thanh toán đối với các khách hàng

thanh toán tiền sớm. Việc đưa ra ưu đãi cho khách hàng sẽ kích thích khách hàng

thanh toán sớm, giảm bớt thời gian bị chiếm dụng vốn, tăng nhanh vòng quay của

VLĐ cũng như tổng vốn.

Ba là: Theo dõi chặt chẽ các khoản phải thu và lập kế hoạch cụ thể cho việc thu

hồi các khoản phải thu này:

+ Thiết lập một bộ phận chuyên trách về quản lý và theo dõi tất cả các khoản nợ

66

phải thu. Mở sổ theo dõi chi tiết các khoản, đặc biệt là khoản phải thu của khách hàng

và chủ đầu tư. Đồng thời, công ty cũng cần phải tiến hành phân loại nợ phải thu theo

từng đối tượng nợ, khả năng trả nợ, tuổi nợ kết hợp với thời hạn đã thỏa thuận trước đó

để chủ động đôn đốc khách hàng thanh toán cho đúng hạn.

+ Thực hiện chính sách thu tiền linh hoạt, mềm dẻo nhằm mục đích vừa không

làm mất thị trường vừa thu hồi được các khoản nợ khó đòi.

3.2.3. Tăng cường quản lý hàng tồn kho

Hiện tại, công ty chưa áp dụng một mô hình hay phương pháp quản lý việc

cung cấp hay dự trữ máy lọc nước cụ thể nào mà chỉ quản lý theo kinh nghiệm, việc

đặt hàng với khối lượng như thế nào, lượng dự trữ trong kho bao nhiêu chưa được

quản lý một cách khoa học và bài bản. Vì vậy, công ty cần nghiên cứu, lựa chọn

phương pháp quản lý tồn kho một cách thích hợp.

- Công tác mua sắm

Trên cơ sở kế hoạch nhu cầu về máy lọc nước của thị trường, bộ phận vật tư sẽ

nghiên cứu, lựa chọn nhà cung cấp, đàm phán, ký kết hợp đồng, quản lý việc cung cấp

và kiểm tra chất lượng. Yêu cầu trong quá trình mua sắm hàng hóa này là phải tăng

cường quản lý nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng tiêu cực. Với nguồn

cung ứng ngày càng đa dạng, công ty cần luôn cập nhật thông tin về thị trường để lựa

chọn được nguồn cung cấp với chi phí thấp nhất, chất lượng cao nhằm nâng cao hiệu

quả sử dụng tài sản của công ty.

- Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải căn cứ vào sự đánh giá cả thực tế của

hàng hóa là máy lọc nước trên thị trường.

Để hoạt động quản lý hàng tồn kho đạt hiệu quả đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt

chẽ, đồng bộ giữa các bộ phận trọng công ty. Bộ phận lập kế hoạch sử dụng phải sát

với nhu cầu thực tế, xác định lượng dự trữ an toàn, chính xác. Bộ phận cung ứng phải

cung cấp, đúng, đủ và kịp thời đồng thời quản lý chặt chẽ, kiểm kê thường xuyên.

Như vậy, quản lý chặt chẽ việc mua sắm, sử dụng cũng như dự trữ hợp lý hàng

tồn kho sẽ giúp công ty giảm được chi phí tồn kho, tránh tình trạng ứ đọng vốn, góp

phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.

3.2.4. Nâng cao khả năng thanh toán

Chỉ tiêu khả năng thanh toán là chỉ tiêu quan trọng trong phân tích tài chính

67

doanh nghiệp bởi lẽ đó là thước đo cơ bản để đánh giá mức độ rủi ro cũng như an toàn

về mặt tài chính của doanh nghiệp. Qua quá trình phân tích, có thể thấy trong thời gian

qua, công ty phát sinh các khoản nợ quá hạn quá nhiều nên khả năng thanh toán chưa được

đảm bảo. Khả năng thanh toán còn thấp và giảm nhanh. Cụ thể, qua 2 năm 2011-2012,

khả năng thanh toán nhanh của Công ty vào thời điểm cuối năm trung bình là 0,5.

Nguyên nhân của việc khả năng thanh toán của Công ty bị giảm sút là do công tác

quản lý hàng tồn kho còn yếu kém và sử dụng vay nợ không hiệu quả. Do đó, trong

thời gian tới, để cải thiện khả năng thanh toán và giảm thiểu rủi ro tài chính, Công ty

cần đặt trọng tâm quản lý vào các vấn đề sau:

Một là, Chủ động quản lý chặt chẽ hàng tồn kho, cố gắng giảm thiểu tối đa

lượng vốn bị ứ đọng bằng cách nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tính toán mức

dự trữ kho an toàn để tránh tình trạng ứ đọng hàng tồn kho.

Hai là, Dựa trên nhu cầu vốn, hạn chế tối đa các khoản vay ngắn hạn, có thể

xem xét thay thế bằng nguồn vốn chủ dài hạn, vừa đảm bảo chuyển dịch cơ cấu nguồn

vốn theo hướng hợp lý, vừa giảm áp lực thanh toán lãi vay. Bên cạnh đó, công ty cũng

có thể xem xét tranh thủ các mối quan hệ lâu năm với bạn hàng để khai thác các nguồn

vốn vay lãi suất thấp hoặc nguồn vốn chiếm dụng trong thanh toán.

Ngoài ra, công ty cũng cần phải xác định mức dự trữ vốn bằng tiền hợp lý, cân

đối giữa nhu cầu chi tiêu của doanh nghiệp và lượng tiền dự trữ, vừa đảm bảo cho nhu

cầu thanh toán, vừa đảm bảo nguồn để trả các khoản nợ đến hạn.

3.2.5. Thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm tăng doanh thu và lợi nhuận

Doanh thu, lợi nhuận là những mục tiêu cơ bản mà mối doanh nghiệp đều

hướng đến. Trong bối cảnh khó khăn như hiện nay, việc gia tăng lợi nhuận gặp phải rất

nhiều khó khăn. Có thể thấy điều này khi phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của

công ty trong giai đoạn 3 năm vừa qua biến động rất lớn, mặc dù năm 2013 lợi nhuận

sau thuế của công ty tăng cao, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro trong tương lai.

Chính vì thế cần quan tâm đến các biện pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm tăng doanh

thu và lợi nhuận. Trên cơ sở nắm vững nhu cầu thị hiếu khách hàng, doanh nghiệp nên

đa dạng hoá mặt hàng, phát huy những sản phẩm được khách hàng ưa chuộng. Phấn

đấu đáp ứng nhu cầu của khách hàng với giá cả hợp lý và chất lượng đảm bảo. Là

công ty xuất nhập khẩu với sản phẩm chính nhập nguyên chiếc máy lọc từ Hàn Quốc

đồng thời phân phối đi trong và ngoài nước, muốn thúc đẩy việc tiêu thụ và tăng con

68

số doanh thu, công ty cần cân nhắc trong việc đa dạng hóa sản phẩm như nhập thêm

các sản phẩm: máy lọc không khí, máy điều hòa nóng lạnh, máy khử trùng không

khí...với chất lượng tốt, bình ổn ban đầu về giá để thu hút khách hàng và khiến họ có

nhiều sự lựa chọn hơn khi mua hàng, gia tăng cạnh tranh với đối thủ cùng ngành khác.

3.2.6. Tăng cường công tác quảng cáo

Quảng cáo là một trong những công cụ quan trọng nhất của hoạt động chiêu thị.

Do đó để nâng cao hiệu quả kinh doanh máy lọc nước và khẳng định vị trí của công ty

trên thương trường, công ty nên có kế hoạch cho chi phí quảng cáo khoảng 10% trên

doanh thu. Thiết lập một số quảng cáo thật tốt, phù hợp với đặc điểm tình hình của sản

phẩm máy lọc nước, tổ chức khuyến mãi cho khách hàng mua với số lượng lớn để thu

hút khách hàng. Công ty phải xây dựng một đội ngũ marketing có trình độ và nghiệp

vụ cao để tìm hiểu thị trường. Chú ý đến thị hiếu của khách hàng, chú trọng đến thị

trường trong nước chứ không chỉ quan tâm đến thị trường nước ngoài.

Công tác nghiên cứu thị trường là một công tác hết sức khó khăn, phức tạp,

đòi hỏi nghiên cứu phải thật am hiểu sâu sắc, nhìn nhận một cách đúng đắn về thị

trường. Vì vậy, việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường là mục tiêu mà công ty

hướng tới. Hiệu quả của công tác này được nâng cao có nghĩa là công ty càng mở rộng

được nhiều thị trường tiêu thụ sản phẩm góp phần thu được nhiều lợi nhuận, nâng cao

hiệu quả kinh doanh của công ty. Do tầm quan trọng của việc nghiên cứu thị trường

nên trong giai đoạn hiện nay công ty phải xây dựng cho mình một chiến lược cụ thể về

nghiên cứu thị trường.

Công ty hiện tại chưa có phòng riêng biệt đứng ra đảm trách về hoạt động

Marketing, công tác nghiên cứu thị trường chưa mang tính hệ thống. Vì vậy, biện pháp

thành lập phòng Marketing, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường là vấn đề cần

thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm mở rộng thị trường

của công ty. Đối với biện pháp này công ty phải thành lập phòng Marketing trước sau

đó xây dựng các chiến lược nghiên cứu thị trường.

Thành lập phòng Marketing: Để công tác nghiên cứu thị trường được tổ chức có

hệ thống, có hiệu quả thì công ty phải thành lập phòng Marketing. Việc tổ chức phòng

Marketing phải đơn giản về mặt hành chính. Với mỗi mảng đều có nhân viên phụ trách

song để hoạt động có hiệu quả thì cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa những

người phụ trách các mảng khác nhau. Chính vì vậy nhân viên phải có trình độ hiểu biết

69

về nghiên cứu thị trường. Cụ thể nhân sự tại phòng này phải là những cán bộ có kinh

nghiệm trong công tác thâm niên trong nghề nghiệp và đặc biệt phải nhiệt tình và

nhanh chóng thâm nhập, nắm bắt nhu cầu của người sử dụng.

Nhiệm vụ của phòng Marketing:

- Thu thập và điều tra các thông tin về thị trường cụ thể là về các đối thủ

cạnh tranh, khách hàng...

- Đưa ra các dự báo liên quan đến tình hình thị trường.

- Nghiên cứu khai thác mọi tiềm năng của thị trường.

- Cơ cấu phòng Marketing: Gồm 3 trưởng phòng: Chịu trách nhiệm trước ban

giám đốc về toàn bộ mảng Marketing tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng nói

riêng cũng như thị trường nói chung. Nhân viên: Chịu trách nhiệm trước trưởng phòng

về công việc được phân công. Sau khi đã thống nhất những chiến lược Marketing cụ

thể, rõ ràng, phối hợp linh hoạt để áp dụng đưa chiến lược ra thị trường.

3.2.7. Tăng cường các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh

Trong điều kiện thị trường hiện nay, việc kinh doanh có thể gặp phải những rủi

ro không lường trước được. Nếu thị trường đầu vào, đầu ra hay thị trường tài chính có

sự biến động lớn thì tình hình tài chính của công ty sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, công ty

cần phải chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro như:

- Công ty cần phải lập kế hoạch sản xuất. Quy trình để lập một kế hoạch sản

xuất trong kinh doanh được mô tả sơ lược như sau:

+ Xác định các căn cứ để xây dựng kế hoạch.

+ Xây dựng kế hoạch sản xuất dự kiến cho năm kế hoạch.

+ Trình lên hội đồng quản trị và ban giám đốc phê duyệt và chỉnh sửa nếu chưa

đạt yêu cầu.

+ Sau khi nhận được hợp đồng với đối tác, công ty lập kế hoạch chỉ đạo sản

xuất cho cả năm kế hoạch và tháng kế hoạch rồi trình lên hội đồng quản trị và ban

giám đốc phê duyệt để chỉnh sửa nếu chưa đạt yêu cầu.

+ Với kế hoạch chỉ đạo sản xuất, tổ chức phổ biến kế hoạch với các bộ phận,

phòng ban trong công ty để thu thập ý kiến, đề xuất của các đơn vị để hoàn thiện.

+ Bộ phận kế hoạch (phòng kỹ thuật) tiếp nhận phản hồi của các đơn vị và thực

hiện điều chỉnh kế hoạch chỉ đạo sản xuất nếu cần thiết. Sau đó thống nhất kế hoạch

cho kỳ sản xuất rồi tình lên ban lãnh đạo.

70

+ Tố chức phổ biến kế hoạch tới các đơn vị liên quan. Sau đó, tổ chức thực hiện

kế hoạch và giám sát thực hiện kế hoạch.

- Dự tính công tác tiêu thụ sản phẩm trong năm, qua các tháng sẽ có khả năng

tiêu thụ bao nhiêu sản phẩm, doanh thu đạt được như thế nào? Từ đó có thể ảnh hưởng

đến quyết định ký hợp đồng lâu dài với nhà cung cấp để hạn chế ảnh hưởng khi giá cả

trên thị trường tăng cao.

- Đầu tư thêm thiết bị, công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động, giảm bớt

vốn hàng tồn kho.

- Công ty cần mua bảo hiểm cho tài sản để khắc phục những thiệt hại khi

rủi ro xảy ra, đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên

tục. Hiện tại, công ty đã mua bảo hiểm cho toàn bộ kho hàng (cho máy lọc nước,

máy lọc tinh khiết, các lõi lọc để thay khi lõi lọc của khách hàng hết hạn dùng...)

là bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt (cháy nổ, thiên tai,...) với số tiền bảo

hiểm là 1233 triệu. Việc mua bảo hiểm vẫn cần được duy trì thường xuyên để đề

phòng những rủi ro ngoài ý muốn.

3.2.8. Tăng cường công tác phân tích tài chính tại công ty

Thực hiện công tác phân tích tài chính sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện và sâu sắc

về thực trạng tài chính của công ty, các mặt mạnh, mặt yếu, các thành tựu cũng như

các hạn chế còn tồn tại. Trong thời gian tới công ty nên có bộ phận chuyên trách để

thực hiện công việc này. Để công tác phân tích tình hình tài chính đạt hiệu quả cao,

công ty cần chú trọng các biện pháp:

- Hoàn thiện quy trình phân tích: gồm các giai đoạn như chuẩn bị và lập kế

hoạch phân tích, tiến hành phân tích, lập báo cáo phân tích. Trong mỗi một giai đoạn

lại có những công việc cụ thể khác nhau, đòi hỏi người phân tích phải có hiểu biết đầy

đủ về tình hình thực tế của công ty.

- Hoàn thiện các phương pháp phân tích thực trạng tài chính trong công ty như:

xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phân tích, phân tích tài chính thông qua bảng cân đối

kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh, phân tích tài chính thông qua điểm hòa vốn,

đánh giá rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính qua các mô hình tài trợ; đánh giá tình

hình tài chính qua khả năng thanh toán, các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, hiệu quả

quản lý cũng như khả năng tăng trưởng của công ty.

71

- Kết hợp công tác hạch toán kế toán, kiểm toán với công tác phân tích tài chính

trong quản trị tài chính công ty. Muốn vậy, cần có sự chuyên môn hóa phòng tài chính,

đào tạo cán bộ có chuyên môn và năng lực về tài chính doanh nghiệp, cung cấp thông

tin đầy đủ.

3.3. Một số kiến nghị đối với công ty

- Một khó khăn đối với công ty là vốn thiếu. Do đó công ty cần phải gia tăng tỷ

lệ tích lũy vốn bằng cách tăng quỹ đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng cường

mối quan hệ tốt đối với các công ty, các tổ chức tài chính, ngân hàng để có thể tìm

được các khoản tín dụng với lãi suất ưu đãi.

- Quản lý tài sản lưu động: xác định nhu cầu tài sản cần thiết cho từng kỳ sản

xuất nhằm huy động hợp lý các nguồn vốn bổ sung. Nếu không tính đúng nhu cầu tài

sản lưu động công ty hoặc sẽ gặp khó khăn trong thanh toán, sản xuất bị ngừng trệ

hoặc sẽ dẫn đến lãng phí và làm chậm tốc độ luân chuyển tài sản lưu động.

- Quản lý tài sản cố định: bố trí dây chuyền sản xuất hợp lý, khai thác hết công

suất và nâng cao hiệu suất hoạt động của máy móc thiết bị, xử lý dứt điểm những tài

sản cố định không cần dùng, lỗi thời không còn phù hợp với quy mô sản xuất nhằm

thu hồi vốn cố định, đầu tư thêm máy móc thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng sản

phẩm. Hoặc đưa vào luân chuyển, bổ sung vào tài sản lưu động cho sản xuất kinh

doanh nhiều hơn.

- Công ty phải từng bước hiện đại hóa phương pháp quản lý, cập nhật nhanh

thông tin, giữ nghiêm tính kỷ luật của chế độ báo cáo thường xuyên và định kỳ để làm

cơ sở ra quyết định nhanh chóng, chính xác. Đối với thị trường nước ngoài, việc thu

thập thông tin qua mạng lưới thông tin Quốc tế và trao đổi giao dịch qua fax, telex...là

cần thiết và phù hợp với qui mô công ty hiện nay.

- Công ty cần có đường lối chủ trương chính sách kinh doanh đúng đắn, triển

khai công việc kịp thời đồng bộ. Về quản lý, giao quyền cho các phòng ban trực thuộc

công ty, cho người quản lý điều hành, quản lý, bảo toàn, phát triển và trực tiếp chịu

trách nhiệm, có chế độ thưởng phạt rõ ràng. Mạnh dạn đào tạo cán bộ đủ năng lực và

trình độ nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong thời gian tới.

72

KÊT LUẬN CHƯƠNG 3

Trên đây là một số giải pháp tài chính chủ yếu nhằm cải thiện tình hình tài

chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh

được đưa ra dựa trên tình hình thực tế của công ty. Một điều cần lưu ý là cải thiện tình

hình tài chính là một bài toán tổng hợp, đòi hỏi sự kết hợp của nhiều biện pháp khác

nhau cũng như vai trò quyết định của nhà quản trị. Vì thế, trong thời gian tới, công ty

cần thực hiện đa dạng, đồng bộ nhiều giải pháp và có những kế hoạch cụ thể để mở

rộng quy mô hoạt động, đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp.

73

KẾT LUẬN

Trong nền kinh tế thị trường đầy biến động như hiện nay, bất kỳ doanh nghiệp

nào muốn tồn tại và phát triển thì đều phải không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất

kinh doanh, và để thực hiện được điều đó, các nhà quản trị cần nắm bắt được thực

trạng hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là tình hình tài chính. Tuy nhiên, việc phân

tích, đánh giá đúng đắn tình hình tài chính để đưa ra những quyết định, chiến lược

kinh doanh trong giai đoạn khủng hoảng là một công việc không hề đơn giản với nhà

quản trị.

Trên cơ sở những kiến thức đã được học tại Đại Học Thăng Long, kết hợp với

việc đi sâu tìm hiểu thực tế tại công ty, em đã tiến hành phân tích và đánh giá tình hình

tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt

Anh trong những năm vừa qua. Từ đó, mạnh dạn đề xuất một số giải pháp để góp phần

cải thiện tình hình tài chính của công ty trong thời gian tới. Em hy vọng những ý kiến

đóng góp này có thể giúp ích cho ban lãnh đạo công ty trong thời gian tới.

Do còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu, thời gian thực tập chưa được

lâu, nên trong quá trình phân tích, khóa luận không tránh khỏi có những nhận định

chưa chuẩn xác và hợp lý. Em rất mong nhận được sự góp ý từ quý thầy cô, ban lãnh

đạo công ty để khóa luận được hoàn thiện hơn.

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn cô giáo Tiến sĩ Nguyễn Thị Thúy và các

cô chú, anh chị trong phòng tài chính kế toán của công ty đã hướng dẫn và giúp đỡ em

hoàn thành khóa luận này.

Hà Nội, ngày 30 tháng 06 năm 2014

Sinh viên

Lê Thu Hà

74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lưu Thị Hương (1998), “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, NXB Giáo

dục

2. Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”, NXB

Đại học Kinh Tế Quốc Dân

3. Bùi Văn Vấn (2000), “Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp”, NXB

Học Viện Tài chính

4. Và các website:

http://www.cophieu68.vn

http://text.123doc.vn

75