BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT
THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT ANH
SINH VIÊN THỰC HIỆN
: LÊ THU HÀ
MÃ SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH
: A16277 : TÀI CHÍNH
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT ANH
Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Thị Thúy
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên
: Lê Thu Hà : A16277
Chuyên ngành
: Tài Chính
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên
hướng dẫn Tiến sỹ Nguyễn Thị Thúy, đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong suốt quá
trình viết khóa luận tốt nghiệp.
Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong Khoa Kinh tế - Quản lý, trường Đại
Học Thăng Long đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm qua em được học
tại trường. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng
cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời
một cách vững chắc và tự tin.
Cuối cùng em kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự
nghiệp cao quý. Đồng kính chúc các cô, chú, anh, chị trong công ty TNHH Việt Anh
luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công trong công việc.
Em xin trân trọng cảm ơn !
Sinh viên thực hiện
Lê Thu Hà
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ
trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người
khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng khóa Khóa luận là có nguồn gốc và được
trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Lê Thu Hà
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP ........................................................................................................1
1.1 Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp ..................................................1
1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp......................................................1
1.1.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp ....................................................1
1.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp.........................................................4
1.2.1. Tài liệu phân tích ................................................................................................4
1.2.2. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp ................................................6
1.3. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp ....................................................... 10
1.3.1. Phân tích tình hình cơ cấu Tài sản – Nguồn vốn ............................................. 10
1.3.2. Phân tích mỗi quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn............................................ 11
1.3.3. Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ........................................... 12
1.3.4. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán ............................................ 12
1.3.5. Phân tích chỉ tiêu khả năng quản lý tài sản ..................................................... 14
1.3.6. Phân tích chỉ tiêu khả năng sinh lời ................................................................. 18
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp ........................ 21
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CÔNG
TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP
KHẨU VIỆT ANH ..................................................................................................... 24
2.1 Khái quát chung về công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất Thương mại
Xuất nhập khẩu Việt Anh .................................................................................... 24
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triền công ty ........................................................... 24
2.1.2. Ngành nghề kinh doanh ................................................................................... 25
2.1.3 Cơ cấu tổ chức công ty ....................................................................................... 25
2.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ...................................... 30
2.1.5. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn
sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh .................................................... 31
2.2. Thực trạng tính hình tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất
thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh ...................................................................... 36
2.2.1. Phân tích tình hình cơ cấu tài sản – nguồn vốn ............................................... 36
2.2.2. Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn............................................ 44
2.2.3. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán ............................................ 45
2.2.4. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản ..................................... 48
2.2.5. Phân tích một số chỉ tiêu đánh giá các bộ phân cấu thành tổng tài sản .......... 50
2.2.6. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời ................................................. 51
2.2.7. Phân tích khả năng sinh lời theo Dupont ......................................................... 53
2.4. Đánh giá tình hình tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất
thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh .............................................................. 56
2.4.1. Kết quả đạt được ............................................................................................... 57
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân ................................................................................... 58
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI XUẤT
NHẬP KHẨU VIỆT ANH ......................................................................................... 61
3.1 Định hướng phát triển của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương
mại xuất nhập khẩu Việt Anh ........................................................................... 61
3.2. Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty trách
nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại Việt Anh ................................................ 62
3.2.1. Tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu, giảm tỷ trọng các khoản nợ ............................. 63
3.2.2. Tăng cường quản lý các khoản nợ và phải thu................................................. 64
3.2.3. Tăng cường quản lý hàng tồn kho .................................................................... 67
3.2.4. Nâng cao khả năng thanh toán ......................................................................... 67
3.2.5. Thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm tăng doanh thu và lợi nhuận ............................... 68
3.2.6. Tăng cường công tác quảng cáo ....................................................................... 69
3.2.7. Tăng cường các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh..................... 70
3.2.8. Tăng cường công tác phân tích tài chính tại công ty ........................................ 71
3.3. Một số kiến nghị đối với công ty ......................................................................... 72
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 75
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh
DTT Doanh thu thuần
GVHB Giá vốn hàng bán
SXKD Sản xuất kinh doanh
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TSCĐ Tài sản cố định
TSDH Tài sản dài hạn
TSNH Tài sản ngắn hạn
VCSH Vốn chủ sở hữu
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất
thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh ..................................................... 32
Bảng 2.2. Tình hình tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại
xuất nhập khẩu Việt Anh ........................................................................ 38
Bảng 2.3. Cơ cấu nguồn vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương
mại xuất nhập khẩu Việt Anh ................................................................. 42
Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu phân tích mối quan hệ tài sản – nguồn vốn của công ty .. 44
Bảng 2.5. Chỉ tiêu khả năng thanh toán của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất
thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh ..................................................... 46
Bảng 2.6. Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản ............................................. 48
Bảng 2.7. Chỉ tiêu đánh giá các bộ phân cấu thành tổng tài sản .............................. 50
Bảng 2.8. Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của công ty trách nhiệm hữu hạn
sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh ....................................... 51
Bảng 2.9. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn sản
xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh thông qua mô hình tài chính
Dupont ................................................................................................... 53
Bảng 2.10. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu thông qua mô hình tài
chính dupont .......................................................................................... 55
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp ................ 21
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty trách nhiệm hữu hạn xuất nhập khẩu Việt Anh .. 25
Sơ đồ 2.2. Sơ đồ tổ chức phòng kế toán .................................................................. 29
Sơ đồ 2.3 Quy trình lọc nước tinh khiết năm 2011 – 2013...................................... 32
Biểu đồ 1.1. Mô hình phân tích Dupont ........................................................................ 9
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại
xuất nhập khẩu Việt Anh ........................................................................ 36
Biểu đồ 2.2. Cơ cấu nguồn vốn của công ty sản xuất thương mại xuất nhập khẩu
Việt Anh ................................................................................................ 41
Biểu đồ 2.3. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) ........................................... 55
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thế giới, các doanh
nghiệp Việt Nam luôn phải đứng trước nhiều thách thức để có thể tồn tại và phát triển.
Nhằm giúp các doanh nghiệp có thể vượt qua cơn khủng hoảng này, công tác quản trị
tài chính doanh nghiệp, đặc biệt là hoạt động phân tích tài chính đòi hỏi phải được
quan tâm đúng mức nhằm giúp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc áp dụng các công cụ và kỹ thuật phân
tích thích hợp nhằm cung cấp chính xác và đầy đủ cho các nhà quản trị doanh nghiệp
thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp nhà quản trị thấy được nguyên
nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính công ty. Qua đó, đề
xuất những biện pháp hữu hiệu nhằm cải thiện tình hình tài chính, thiết lập các dự báo,
kế hoạch tài chính phù hợp giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong giai đoạn
khó khăn. Phân tích tài chính doanh nghiệp không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân doanh
nghiệp, mà còn cần thiết cho các chủ thể quản lý khác có liên quan đến doanh nghiệp.
Việc này sẽ giúp cho quản trị doanh nghiệp khắc phục được những thiếu sót, phát huy
những mặt tích cực và dự đoán được tình hình phát triển của doanh nghiệp trong tương
lai. Trên cơ sở đó, nhà quản trị doanh nghiệp sẽ đề ra được những giải pháp hữu hiệu
nhằm lựa chọn quyết định phương án tối ưu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng to lớn của việc phân tích, đánh giá tình hình tài
chính doanh nghiệp, bằng vốn kiến thức được tích lũy trong thời gian học tập và
nghiên cứu tại trường kết hợp với những hiểu biết thực tế trong thời gian thực tập
tại công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh, em
quyết định đi sâu nghiên cứu tình hình tài chính của công ty với đề tài: “Phân tích
tình hình tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập
khẩu Việt Anh”.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản
xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh.
Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của
công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh qua các
năm 2011, năm 2012, năm 2013. Dựa trên Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh
doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính để phân tích, đánh
giá về các hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
3. Mục đích nghiên cứu
Là nhằm làm rõ thực trạng tài chính tại doanh nghiệp để từ đó chỉ ra những điểm
mạnh cũng như điểm yếu của doanh nghiệp. Đồng thời giúp doanh nghiệp nhìn thấy
những biến động tình hình tài chính trong tương lai của mình để có những biện pháp đối
phó thích hợp. Bài khóa luận bao gồm 3 mục đích chính sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về tài chính doanh nghiệp và phân
tích tài chính doanh nghiệp.
- Phân tích thực trạng tình hình tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản
xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh.
- Để xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty trách
nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp xử lý số liệu gồm có: Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích
tỷ lệ, phương pháp liên hệ cân đối, phương pháp phân tích Dupont.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương được bố cục như sau:
Chương 1: Lý luận chung về phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp.
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn sản
xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh.
Chương 3: Giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công ty trách nhiệm
hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh.
Để hoàn thành khóa luận này, em xin được trân trọng cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Thị Thúy đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành tốt bài khóa luận trong suốt thời gian vừa qua.
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên thực hiện
Lê Thu Hà
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp (TCDN) là một phạm trù kinh tế xã hội, phát sinh và
tồn tại cùng với sự tồn tại của nhà nước và nền sản xuất hàng hóa. Khái niệm và quan
điểm về tài chính cũng luôn thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, từng chế độ chính trị.
Do vậy, xem xét các quan điểm về tài chính cũng luôn thay đổi theo từng giai đoạn
lịch sử, từng chế độ chính trị, do vậy xem xét các quan điểm về tài chính là rất cần
thiết đối với các nhà phân tích tài chính. Để phân tích được tài chính doanh nghiệp một
cách chính xác và hiệu quả, trước tiên cần phải hiểu được phân tích tài chính doanh
nghiệp là gì. Có nhiều khái niệm khác nhau, dưới đây là một vài khái niệm về tài chính
doanh nghiệp hiện nay.
Phân tích TCDN là tổng thể các phương pháp sử dụng để thu thập và xử lý các
thông tin kế toán, tài chính,... nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng phát triển
của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định quản trị phù
hợp. Phân tích TCDN bao gồm các bước chủ yếu sau: thu thập thông tin; xử lý thông
tin; dự đoán và quyết định [1,tr.12]
Phân tích TCDN được dùng để xác định giá trị kinh tế, đánh giá các mặt mạnh
yếu của doanh nghiệp cũng như các cơ hội và thách thức đặt ra với điều kiện hiện tại
của doanh nghiệp. Từ đó, đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm duy trì và cải thiện tình
hình tài chính doanh nghiệp. Ngoài ra, phân tích TCDN còn là tiền đề của việc lập dự
báo và lập kế hoạch tài chính, xây dựng mục tiêu kinh doanh [1,tr.12]
“Phân tích tài chính của doanh nghiệp là việc xem xét đánh giá kết quả của việc
quản lí và điều hành tài chính của doanh nghiệp thông qua các số liệu trên báo cáo tài
chính, phân tích những điểm đã làm được và những gì chưa làm được, kết quả đạt
được ra sao. Những điểm mạnh của doanh nghiệp cần phát huy và những điểm yếu
còn tồn tại để có biện pháp khắc phục kịp thời” [1,tr.12]
1.1.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính cung cấp những thông tin hữu ích giúp kiểm tra, phân tích
một cách tổng hợp, toàn diện, có hệ thống về tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình
1
thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Những người quản lý tài chính khi phân tích
tài chính cần cân nhắc tính toán tới mức độ rủi ro và tác động của nó tới doanh nghiệp
mà biểu hiện chính là khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động
cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tiếp tục
nghiên cứu và đưa ra các dự đoán về kết quả hoạt động kinh doanh nói chung, mức
doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai. Ngoài ra, phân tích tài chính còn
cung cấp thông tin, số liệu để kiểm tra giám sát tình hình hạch toán kinh doanh, tình
hình chấp hành các chính sách chế độ kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Cùng với sự
phát triển của xã hội thì việc phân tích tài chính càng trở nên quan trọng bởi công tác
phân tích tài chính ngày càng cho thấy sự cần thiết của nó đối với sự phát triển doanh
nghiệp. Phân tích tài chính cho thấy khả năng và tiềm năng kinh tế tài chính của doanh
nghiệp, do đó sẽ giúp cho công tác dự báo, lập kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn,
dễ dàng đưa ra các chính sách tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động.
Trước đây, việc phân tích tài chính chỉ để phục vụ nhu cầu cho các nhà đầu tư
và ngân hàng. Hiện nay, việc phân tích tài chính được rất nhiều đối tượng quan tâm,
tùy theo mục đích khác nhau của người sử dụng mà phân tích tài chính doanh nghiệp
sẽ có vai trò khác nhau:
Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Phân tích tài chính cung cấp các thông tin
về toàn bộ tình hình tài chính của doanh nghiệp. Các nhà quản lý doanh nghiệp cần các
thông tin để kiểm soát và chỉ đạo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình làm cơ
sở cho các dự báo tài chính, quyết định đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận. Bên cạnh
đó, nhà quản trị cần biết tất cả các thông tin bên trong cũng như bên ngoài của doanh
nghiệp. Họ cần chú ý đến lĩnh vực nào của doanh nghiệp là thành công nhất, lĩnh vực
nào chưa thành công; những điểm mạnh cũng như hạn chế về tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Việc phân tích tài chính sẽ đem lại cái nhìn rõ ràng tại các mục cụ thể.
Đó là cơ sở để định hướng các quyết định của ban giám đốc về dự báo tài chính, kế
hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát các hoạt động quản lý. Căn cứ vào báo cáo phân
tích tài chính, các nhà quản lý sẽ dự đoán về tình hình tài chính của doanh nghiệp
trong tương lai từ đó thực hiện các chính sách điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh
doanh cho phù hợp với tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp [2,tr.15]
Đối với các nhà đầu tư: Các nhà đầu tư là các doanh nghiệp và cá nhân quan tâm
trực tiếp đến các giá trị của doanh nghiệp vì họ là người đã giao vốn cho doanh nghiệp
2
và có thể phải chịu rủi ro. Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức
sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và sự rủi ro. Vì thế, họ cần thông tin về điều kiện tài
chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanh nghiệp.
Các nhà đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động công tác quản lý. Những
điều đó tạo ra sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư. Nhà đầu tư phân tích tình
hình thu nhập của chủ sở hữu, biểu hiện là lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn
đầu tư. Hai yếu tố này ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp. Các nhà
đầu tư thường tiến hành đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp với câu hỏi trọng
tâm: lợi nhuận bình quân cổ phiếu của công ty sẽ là bao nhiêu? Dự kiến lợi nhuận sẽ
được nghiên cứu đầy đủ trong chính sách phân chia lợi tức cổ phần và trong nghiên
cứu rủi ro hướng các lựa chọn vào những cổ phiếu phù hợp nhất. Họ quan tâm tới phân
tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Để bảo vệ tài sản của
mình, các cổ đông phải thường xuyên phân tích tình hình tài chính và kết quả kinh
doanh để quyết định có tiếp tục nắm giữ cố phiếu của doanh nghiệp mà mình đang đầu
tư nữa hay không [2,tr.15]
Đối với các nhà cho vay: Như ngân hàng, công ty tài chính,…thì họ quan tâm
đến vấn đề doanh nghiệp có khả năng trả nợ vay hay không. Vì thế họ muốn biết khả
năng thanh toán và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Đối với các khoản vay ngắn
hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp có
nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với những khoản nợ đến hạn trả. Đối
với các khoản vay dài hạn, ngoài khả năng thanh toán, họ còn quan tâm đến khả năng
sinh lời vì việc hoàn vốn và lãi sẽ phụ thuộc vào khả năng sinh lời này. Các nhà đầu tư
tín dụng sẽ hạn chế hoặc từ chối cho các doanh nghiệp vay khi doanh nghiệp có dấu
hiệu có thể không thanh toán được các khoản nợ đến hạn [2,tr.16]
Đối với cơ quan Nhà nước: Các cơ quan quản lý của nhà nước cần các thông tin từ
phân tích báo cáo tài chính để kiểm tra tình hình tài chính, kiểm tra tình hình sản xuất của
doanh nghiệp và xây dựng các kế hoạch quản lý vĩ mô. Cơ quan thuế cần các thông tin từ
phân tích báo cáo tài chính để xác định số thuế mà doanh nghiệp phải nộp [2,tr17]
Đối với những người lao động trong doanh nghiệp: Lợi ích của những người
hưởng lương trong doanh nghiệp gắn liền với hoạt động tài chính của công ty. Họ
quan tâm đến các thông tin và số liệu tài chính để đánh giá, xem xét triển vọng của nó
trong tương lai.
3
Như vậy phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được
dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm
ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra
được những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm [2,tr.16]
Những nhà phân tích tài chính nghiên cứu và đưa ra các dự đoán về kết quả hoạt
động nói chung và mức doanh lợi nói riêng trong tương lai. Phân tích tài chính là cơ sở
để dự đoán tài chính. Ngoài ra, phân tích tài chính được ứng dụng theo nhiều hướng
khác nhau như với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ) và với mục
đích thông tin (trong hoặc ngoài doanh nghiệp). Việc thường xuyên tiến hành phân
tích tình hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụng thấy được thực trạng hoạt động tài
chính, từ đó xác định được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng đến từng hoạt động
kinh doanh. Trên cơ sở đó có những biện pháp hữu hiệu và ra các quyết định cần thiết
để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh.
Hiện nay, với sự phát triển lớn mạnh của doanh nghiệp cùng với quá trình cạnh
tranh khốc liệt thì phải có chiến lược kinh doanh cụ thể, hợp lý và chính xác, phân tích
tài chính sẽ có tác dụng to lớn trong việc thực hiện điều đó [2,tr17]
1.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Tài liệu phân tích
Hệ thống báo cáo tài chính
Để có thể đánh giá một cách chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp thì
phân tích tài chính đòi hỏi phải có một lượng cơ sở thông tin đầy đủ và khách quan.
Đó là tổng hợp các thông tin bên trong của doanh nghiệp ví dụ như là: thông tin về bản
thân doanh nghiệp, các thông tin khác liên quan đến doanh nghiệp và quan trọng nhất
là thông tin tài chính chủ yếu được lấy từ các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Còn
các thông tin bên ngoài của doanh nghiệp thì có các thông tin về tình hình nền kinh tế,
đối tác, đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp và các công ty có liên quan.
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất bao gồm hệ thống 4 báo cáo
chính: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
và Thuyết minh báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính cho biết tình hình tài sản, nguồn
vốn cũng như kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và khả năng sinh lời
trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin chủ yếu sử dụng
4
trong việc phân tích, đánh giá và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán (BCĐKT): là một báo cáo tài chính tổng hợp dùng để khái
quát toàn bộ tài sản và nguồn hình thành tài sản đó tại một thời điểm nhất định. Các
chỉ tiêu trong BCĐKT được phản ánh dưới hình thức giá trị và theo nguyên tắc cân
đối: tổng tài sản bằng tổng nguồn vốn [2,tr.23]
Báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD): là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh
tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm các chỉ
tiêu về doanh thu, chi phí, lợi nhuận của hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và
hoạt động khác [2,tr.23]
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT): là một báo cáo tài chính thể hiện dòng
tiền ra và dòng tiền vào của một tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định (tháng,
quý, năm hay năm tài chính), báo cáo này là một công cụ giúp nhà quản lý tổ chức
kiểm soát dòng tiền của tổ chức [2,tr25]
Thuyết minh báo cáo tài chính (BCTT): được lập để giải thích và bổ sung thông
tin về tình hình hoạt động sản xuất – kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể
trình bày rõ ràng và chi tiết. Qua đó, nhà đầu tư hiểu rõ và chính xác hơn về tình hình
hoạt động thực tế của doanh nghiệp [2,tr.26]
Cơ sở dữ liệu khác
Sự tồn tại, phát triển cũng như quá trình suy thoái của doanh nghiệp phụ thuộc
vào nhiều yếu tố: Có yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài; Có yếu tố chủ quan và yếu
tố khách quan. Điều đó tuỳ thuộc vào tiêu thức phân loại các yếu tố ảnh hưởng.
Các yếu tố bên trong: Các yếu tố bên trong là những yếu tố thuộc về tổ chức
doanh nghiệp; trình độ quản lý; ngành nghề; sản phẩm; hàng hóa; dịch vụ mà doanh
nghiệp kinh doanh; quy trình công nghệ; năng lực của lao động...
Các yếu tố bên ngoài: Các yếu tố bên ngoài là những yếu tố mang tính khách
quan như: chế độ chính trị xã hội; tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế; tiến bộ khoa
học kỹ thuật; chính sách tài chính tiền tệ; chính sách thuế.... Cụ thể là:
Các thông tin chung: Thông tin chung là những thông tin về tình hình kinh tế
5
chính trị, môi trường pháp lý, kinh tế có liên quan đến cơ hội kinh tế, cơ hội đầu tư, cơ
hội về kỹ thuật công nghệ... Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tác động
mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Những thông tin về các cuộc thăm
dò thị trường, triển vọng phát triển trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ thương mại...
ảnh hưởng lớn đến chiến lược và sách lược kinh doanh trong từng thời kỳ.
Các thông tin theo ngành kinh tế: Thông tin theo ngành kinh tế là những thông
tin mà kết quả hoạt động của doanh nghiệp mang tính chất của ngành kinh tế như đặc
điểm của ngành kinh tế liên quan đến thực thể của sản phẩm, tiến trình kỹ thuật cần
tiến hành, cơ cấu sản xuất có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn, nhịp độ
phát triển của các chu kỳ kinh tế, độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển...
Các thông tin của bản thân doanh nghiệp: Thông tin về bản thân doanh nghiệp là
những thông tin về chiến lược, sách lược kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời
kỳ, thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình tạo lập,
phân phối và sử dụng vốn, tình hình và khả năng thanh toán... Những thông tin này
được thể hiện qua những giải trình của các nhà quản lý, qua Báo cáo tài chính, báo cáo
kế toán quản trị, báo cáo thống kê, hạch toán nghiệp vụ [2, tr.30]
1.2.2. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1. Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu
hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Vì vậy, để tiến hành so sánh phải giải
quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể so sánh
được các chỉ tiêu tài chính như sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dụng, tính
chất và đơn vị tính toán.
- Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian.
- Kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch
- Giá trị so sánh có thể được chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số
bình quân.
- Nội dung so sánh bao gồm:
+ So sánh giữa các số hiện thực kỳ này với số hiện thực kỳ trước để thấy rõ xu
6
hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ So sánh giữa số liệu doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành, số liệu của các
doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp tốt hay xấu.
+ So sánh giữa số thực hiện so với kế hoạch để thấy mức phấn đấu của
doanh nghiệp.
+ So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng tổng số ở mỗi bản báo cáo và qua
đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các khoản mục tạo điều kiện cho việc so sánh.
+ So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và tương
đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp (Nguồn: Nguyễn Năng
Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc
Dân, tr.27-tr.30)
- Điều kiện so sánh:
+ Phải xác định rõ gốc so sánh và kỳ phân tích
+ Các chỉ tiêu so sánh (các trị số của chỉ tiêu so sánh) phải đảm bảo tính chất có
thể so sánh được với nhau. Muốn vậy, chúng ta phải thống nhất về nội dung kinh tế,
phương pháp tính toán và thời gian tính toán.
1.2.2.2. Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa trên
ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính.
Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu cần xác định được các ngưỡng, các
định mức để nhận xét, đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở
so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu.
Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng và bổ sung
càng hoàn thiện hơn vì: nguồn thông tin tài chính và kế toán được cải tiến và cung cấp
đầy đủ hơn là cơ sở để hình thành những tham chiếu đáng tin cậy nhằm đánh giá
những tỷ lệ của doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp. Việc áp dụng tin học cho
phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanh qúa trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ như:
- Tỷ lệ về khả năng thanh toán: được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các
khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
7
- Tỷ lệ về khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: qua chỉ tiêu này
phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính.
- Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh: đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho
việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp.
- Tỷ lệ về khả năng sinh lời: phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp.
(Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”,
NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.32-tr.36)
1.2.2.3. Phương pháp Dupont
Trong phân tích tài chính, người ta thường vận dụng mô hình Dupont để phân
tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Nhờ sự phân tích mối liên hệ giữa các chỉ
tiêu mà người ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tich
theo một trình tự logic chặt chẽ. Chẳng hạn, vận dụng mô hinh Dupont phân tích hiệu
quả kinh doanh trong mối liên hệ giữa các yếu tố đầu vào và kết quả đầu ra của doanh
nghiệp trong một kỳ kinh doanh nhất định.
Chi phí đầu vào của doanh nghiệp có thể là tổng tài sản, tổng chi phí sản xuất
kinh doanh chi ra trong kì, vốn ngắn hạn, vốn dài hạn, vốn chủ sở hữu,...
Kết quả đầu ra của doanh nghiệp có thể là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ, doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận thuần từ hoạt động
kinh doanh hoặc tổng lợi nhuận sau thuế doanh nghiệp,...
Mô hình Dupont thường được vận dụng trong mô hình tài chính có dạng:
Lợi nhuận thuần Lợi nhuận thuần Doanh thu thuần Tỷ suất sinh = = X lời của tài sản Tổng tài sản Doanh thu thuần Tổng tài sản
Từ mô hình phân tích trên cho thấy, để nâng cao khả năng sinh lời của một đồng
tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng, quản trị doanh nghiệp phải nghiên cứu xem xét
có những biện pháp gì cho việc nâng cao không ngừng khả năng sinh lời cảu quá trình
sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
8
Biểu đồ 1.1. Mô hình phân tích Dupont
(Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “ Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”,
NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.42-tr.46)
Từ mô hình phân tích Dupont ở trên cho thấy, số vòng quay của tài sản càng cao,
điều đó chứng tỏ rằng sức sản xuất tài sản của doanh nghiệp càng lớn. Do vậy, làm cho
tỷ lệ sinh lời của tài sản cang lớn. Để nâng cao số vòng quay của tài sản, một mặt phải
tăng quy mô về doanh thu thuần mặt khác phải sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu
tổng tài sản. Như vậy tổng doanh thu thuần và tổng tài sản bình quân có quan hệ mật
thiết với nhau, thông thường chúng có quan hệ cùng chiều. Nghĩa là tổng tài sản tăng thì
tổng doanh thu thuần cũng tăng
Từ mô hình phân tích trên cho thấy, tỷ lệ lãi theo doanh thu thuần lại phụ thuộc vào
hai nhân tố cơ bản. Đó là tổng lợi nhuận thuần và doanh thu thuần. Hai nhân tố này có quan
hệ cùng chiều. Nghia là nếu doanh thu thuần tăng thì cũng làm cho lợi nhuần tăng.
Phân tích báo cáo tài chính dựa vào mô hình Dupont có ý nghĩa rất lớn đối với
quản trị doanh nghiệp. Điều đó không chỉ biểu hiện ở chỗ: có thể đánh giá hiệu quả kinh
9
doanh một cách sâu sắc và toàn diện. Đồng thời đanh giá đầy đủ và khách quan đến
những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó đề ra được
hệ thống các biện pháp tỷ mỉ và xác thực nhằm tăng cường công tác cải tiến tổ chức
quản lý doanh nghiệp, góp phần không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp ở các kì kinh doanh tiếp theo.
1.3 . Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Phân tích tình hình cơ cấu Tài sản – Nguồn vốn
Cơ cấu tài sản
Cơ cấu tài sản thể hiện khi doanh nghiệp sử dụng một đồng vốn kinh doanh thì
dành ra bao nhiêu để hình thành tài sản lưu động còn bao nhiêu để đầu tư vào tài sản cố
định và được phản ánh bởi tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn và tỷ suất đầu tư vào tài sản
ngắn hạn.
Giá trị tài sản ngắn hạn (dài hạn) x 100% Tỷ suất tài sản ngắn hạn (dài hạn) = Tổng giá trị tài sản
Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn (ngắn hạn) càng lớn càng thể hiện mức độ
quan trọng của tài sản dài hạn (ngắn hạn) trong tổng tài sản mà doanh nghiệp đang sử
dụng vào kinh doanh, tình trạng cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất cũng như xu
hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
Hai tỷ suất này phản ánh trong một đồng tổng tài sản mà doanh nghiệp bỏ ra thì
có bao nhiêu đồng được dùng để hình thành nên TSDH và TSNH. Tỷ suất đầu tư vào
TSDH thể hiện mức độ đầu tư vào TSCĐ và tình hình trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ
thuật, năng lực sản xuất hiện có và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp trong
tương lai [2,tr.140]
Cơ cấu nguồn vốn
Cơ cấu nguồn vốn: là chỉ tiêu phản ánh bình quân trong một đồng vốn kinh doanh hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vay nợ, có mấy đồng là vốn
chủ sở hữu. Hệ số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu: là hai tỷ số quan trọng nhất phản ánh cơ cấu nguồn vốn của công ty.
Giá trị nợ phải trả ( VCSH) Tỷ suất nợ phải trả (VCSH) = Tổng giá trị nguồn vốn
Để tiến hành phân tích cơ cấu nguồn vốn ta lập bảng: Phân tích cơ cấu nguồn
vốn. Đối với nguồn hình thành tài sản cần xem xét tỷ trọng của từng loại chiếm trong
10
tổng số cũng như xu hướng biến động của chúng. Nếu nguồn vốn chủ sở hữu
chiếm tỷ trọng cao trong tổng số thì doanh nghiệp có đủ khả năng tự đảm bảo
về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với c hủ nợ là cao.
Ngược lại, nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng số thì khả năng tự
đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp. Điều này dễ thấy thông
qua chỉ tiêu tỷ suất tài trợ.
Tỷ suất nợ phải trả cho biết số nợ mà doanh nghiệp phải trả cho các doanh
nghiệp hoặc cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh tỷ suất này càng nhỏ càng
tốt. Nó thể hiện khả năng tự chủ về vốn của doanh nghiệp.
Trong khi đó, tỷ suất vốn chủ sở hữu (hay tỷ suất tự tài trợ) lại cho biết số vốn
tự có để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh. Tỷ suất này càng cao càng
thể hiện khả năng độc lập cao về mặt tài chính hay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp
càng tốt bởi vì hầu hết tài sản mà doanh nghiệp hiện có đều được đầu tư bằng số vốn
của mình [2,tr.147]
1.3.2 Phân tích mỗi quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Để phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, các nhà phân tích thường
tính ra và so sánh các chỉ tiêu sau:
+ Hệ số nợ trên tài sản
Giá trị nợ phải trả Hệ số nợ trên tài sản = Tổng giá trị tài sản
Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng các
khoản nợ. Trị số của hệ số nợ cao chứng tỏ mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào
chủ nợ càng lớn, mức độ độc lập về tài chính càng thấp. Do vậy doanh nghiệp càng ít
cơ hội và khả năng tiếp nhận các khoản vay do các nhà đầu tư tín dụng không mấy
mặn mà với các doanh nghiệp có hệ số nợ so với tài sản cao. Hệ số nợ trên tài sản còn
có thể được biến đổi bằng cách:
+ Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu:
Giá trị tồng tài sản Hệ số tài sản trên = vốn chủ sở hữu Giá trị vốn chủ sở hữu
11
Có thể viết lại chỉ tiêu này theo cách khác như sau:
Giá trị nợ phải trả Hệ số tài sản trên Giá trị vốn chủ sở hữu + giá trị nợ phải trả = = 1 + vốn chủ sở hữu Giá trị vốn chủ sở hữu Giá trị vốn chủ sở hữu
+ Qua việc xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu qua nhiều kỳ kinh doanh, gắn
với điều kiện kinh doanh cụ thể, các nhà quản lý sẽ có quyết định huy động nguồn vốn
nào với mức độ bao nhiêu là hợp lý, bảo đảm hiệu quả kinh doanh cao nhất và an ninh
tài chính bền vững nhất ( Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích
báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.154)
1.3.3 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp qua BCKQKD. Thông tin
trên BCKQKD là thông tin về doanh thu, chi phí, lợi nhuận trước và sau thuế của
doanh nghiệp thu được từ các hoạt động trong năm và số thuế thu nhập doanh nghiệp
phải đóng vào NSNN. Việc so sánh các chỉ tiêu trên BCKQKD năm nay so với năm
trước sẽ giúp xác định xu hướng biến động của các chỉ tiêu đó và là cơ sở dự đoán chỉ
tiêu đó trong tương lai, cụ thể:
Xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu trên BCKQKD giữa kỳ này với kỳ
trước bằng việc so sánh về số tuyệt đối, tương đối. Qua đó, thấy được tính hiệu quả
trong từng hoạt động (hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động khác).
Phân tích các chỉ tiêu tỉ lệ GVHB trên DTT, chi phí bán hàng trên DTT, chi phí
quản lí doanh nghiệp trên DTT và so sánh với năm trước để khái quát tình hình quản lí
và sử dụng chi phí SXKD năm nay tốt hay kém hơn năm trước.
1.3.4 Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
+ Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn
Tổng giá trị tài sản ngắn hạn bình quân Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn = Tổng giá trị nợ ngắn hạn
+ Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn: Thể hiện khả năng doanh nghiệp có đủ tài
sản ngắn hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không. Nếu hệ số khả năng thanh
toán ngắn hạn nhỏ hơn 1, chứng tỏ rằng tài sản ngắn hạn không đủ để đảm bảo thanh
toán khoản nợ ngắn hạn, trong trường hợp này nếu công ty cân đối dòng tiền không tốt
sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán, ảnh hưởng đến uy tín tài chính của công ty. Tuy
12
nhiên, hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn cao cũng không tốt vì sẽ ảnh hưởng đến
khả năng sinh lời của công ty (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân
tích báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.185-186).
Trong hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn bao hàm một loại tài sản khó chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng đó là hàng tồn kho, vì vậy để xem xét chính xác hơn
khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty, nhà phân tích sử dụng chỉ tiêu bổ sung
là khả năng thanh toán nhanh, cụ thể:
+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Trị giá tiền và các khoản tương đương tiền Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tổng giá trị nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nhanh của tiền và các khoản tương
đương tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này cao quá , kéo dài chứng tỏ khả
năng thanh toán nhanh tốt, tuy nhiên chỉ tiêu này quqs cao có thể dẫn tới hiệu quả sử
dụng vốn giảm. Chỉ tiêu này thấp quá, kéo dài chứng tỏ doanh nghiệp không đủ khả
năng thanh toán các khoản nợ công ngắn hạn, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy
cơ phá sản có thể xảy ra. Ta có thể tham khảo hệ số thanh toán nhanh (Kí hiệu: K), qua
thực tế nghiên cứu tất cả các doanh nghiệp:
K< 0,5 thấp
0,5 ≤ K ≤ 1 trung bình
K > 1 cao (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài
chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.184-185)
+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh bình thường
Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho được gọi là tài sản dễ chuyển đổi thành tiền.
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nhanh của các tài sản có thể chuyển đổi
thành tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn,
Tổng giá trị tài sản ngắn hạn - Giá trị hàng tồn kho Hệ số khả năng thanh toán = bình thường Tổng giá trị nợ ngắn hạn
Nếu hệ số khả năng thanh toán bình thường quá cao, kéo dài cũng không tốt, có
thể dẫn tới hiệu quả sử dụng vốn giảm. Chỉ tiêu này thấp quá, ké dài càng không tốt có
thể dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản có thể xảy ra. Ta có thể tham
khảo hệ số thanh toán nhanh bình thường (k), qua thực tế nghiên cứu của trung bình
các doanh nghiêp với các lĩnh vực chủ yếu trên thị trường như sau:
13
K < 0,75 thấp
0,75 ≤ K ≤ 2 trung bình
K > 2 cao (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài
chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.186)
+ Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Tổng giá trị lợi nhuận trước lãi vay và thuế Hệ số thanh toán lãi vay =
Tổng lãi vay phải trả + Lãi vay phải trả là khoản chi phí sử dụng vốn nợ vay mà doanh nghiệp phải trả
cho nhà cung cấp vốn và nguồn trả nợ là từ lợi nhuận trước lãi vay và thuế. Hệ số này
cho biết khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh nghiệp, đồng thời phản ánh mức
độ rủi ro có thể gặp phải của các chủ nợ. Nó cho biết số vốn đi vay đã được doanh
nghiệp sử dụng như thế nào, đem lại mức lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi tiền
vay hay không. Hệ số này càng cao phản ánh công ty làm ăn càng hiệu quả, mức sinh
lời của đồng vốn cao đủ để đảm bảo thanh toán lãi vay đúng hạn và ngược lại (Nguồn:
Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”, NXB Đại học
Kinh Tế Quốc Dân, tr.186).
1.3.5 Phân tích chỉ tiêu khả năng quản lý tài sản
+ Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
ơ
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn = Trị giá tài sản ngắn hạn bình quân
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn thể hiện một đồng tài sản ngắn hạn của công
ty tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao,
khả năng quản lý tài sản ngắn hạn của công ty càng tốt, tài sản ngắn hạn đóng góp vào
việc tạo ra doanh thu thuần lớn và tăng khả năng sinh lời của công ty. Hiệu quả sử
dụng tài sản ngắn hạn là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá chất
lượng công tác quản lý và sử dụng tài sản kinh doanh nói chung của doanh nghiệp.
Thông qua chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho phép các nhà quản
lý tài chính của doanh nghiệp đề ra các biện pháp, các chính sách quyết định đúng đắn,
phù hợp để quản lý tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng ngày càng có hiệu
quả trong tương lai, từ đó nâng cao lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài
chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.209).
14
+ Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn (TSDH) phản ánh một đồng giá trị tài sản dài
hạn làm ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn được thể
hiện qua chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu này nêu lên các đặc điểm, tính chất, cơ cấu, trình
độ phổ biến, đặc trưng cơ bản của hiện tượng nghiên cứu. Chỉ tiêu chất lượng này
được thể hiện dưới hình thức giá trị về tình hình và sử dụng tài sản dài hạn trong một
thời gian nhất định. Trong sản xuất kinh doanh thì chỉ tiêu này là quan hệ so sánh giữa
giá trị sản lượng đã được tạo ra với giá trị tài sản cố định sử dụng bình quân trong kỳ;
hoặc là quan hệ so sánh giữa lợi nhuận thực hiện với giá trị tài sản dài hạn sử dụng
bình quân.
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn = Giá trị tài sản dài hạn bình quân
Một đồng tài sản dài hạn tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này cao
chứng tỏ hiệu quả quản lý tài sản dài hạn của công ty tốt, mức đầu tư và khai thác tài
sản dài hạn hợp lý, điều này làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh trong công ty. Do
đó, để nâng cao chỉ tiêu này, đồng thời với việc tăng lượng sản phẩm bán ra, doanh
nghiệp phải giảm tuyệt đối những tài sản dài hạn thừa không cần dùng vào sản xuất,
bảo đảm tỷ lệ cân đối giữ tài sản dài hạn tích cực và không tích cực, phát huy và khai
thác tối đa năng lực sản xuất hiện có của tài sản dài hạn (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc
(2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân,
tr.212)
+ Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp mong muốn tài sản vận
động không ngừng để đẩy mạnh tăng doanh thu, từ đó là nhân tố góp phần tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản có thể xác định bằng công
thức như sau:
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Giá trị bình quân tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiêu
vòng hay 1 đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng
15
cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện để
nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ các tài sản vận
động chậm, có thể hàng tồn kho, hàng dở dang nhiều, có thể tài sản cố định chưa hoạt
động hết công suất làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm. Tuy nhiên, cần lưu ý
rằng khi phân tích chỉ tiêu này cần xem xét đặc điểm ngành nghề kinh doanh và đặc
điểm tài sản mà doanh nghiệp hoạt động, để có kết luận chính xác và đưa ra biện pháp
hợp lý để tăng tốc độ quay vòng của tài sản (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013),
“Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.212)
Vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn đánh giá doanh nghiệp sử dụng
hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào. Phản ánh số vòng quay hàng hoá tồn kho bình quân trong kỳ hay là thời gian hàng hoá nằm trong kho, trước khi bán ra.
Giá vốn hàng bán Số vòng quay hàng tồn kho = Giá trị hàng tồn kho bình quân
Vòng quay hàng tồn kho lớn thì thời gian quay vòng nhanh hay hàng tồn kho lưu
trong kho ngắn hơn, công ty thu hồi vốn từ hàng tồn kho nhanh hơn (bán hàng nhanh
hơn), từ đó tiết kiệm được các chi phí liên quan đến hàng tồn kho như chi phí cơ hội,
chi phí đầu tư, chi phí lưu kho...tăng khả năng sinh lời của công ty. Khi phân tích về
vòng quay hàng tồn kho nhà phân tích cần xem xét các tác động của nhân tố ngành và
tình hình nền kinh tế. Với những ngành sản xuất hoặc những ngành mà hàng hóa là tư
liệu sản xuất thì thời gian lưu kho trung bình của hàng tồn kho sẽ lớn hơn so với ngành
thương mại hoặc hàng hóa là tư liệu tiêu dùng. Mặt khác, khi nền kinh tế trong trạng
thái phát triển vòng quay hàng tồn kho của các công ty sẽ có xu hướng tốt hơn trong
nền kinh tế khủng hoảng (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích
báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.300).
+ Vòng quay khoản phải thu
Khoản phải thu là những hoá đơn bán hàng chưa thu tiền về do doanh nghiệp
thực hiện chính sách bán chịu, các khoản tạm ứng chưa thanh toán, khoản trả trước
ơ
cho người bán, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, phải thu nội bộ.
Doanh thu thuần Số vòng quay các khoản phải thu = Số bình quân các khoản phải thu
16
Vòng quay khoản phải thu thấp thì thời gian quay vòng khoản phải thu dài hay 1
đồng mà công ty bán chịu sẽ thu hồi chậm, dẫn đến số vốn bị khách hàng chiếm dụng
lớn. Điều này sẽ dẫn đến tăng các khoản chi phí quản lý phải thu như chi phí đòi nợ,
chi phí nợ xấu, chi phí cơ hội, chi phí chiết khấu...Tuy nhiên vòng quay khoản phải thu
trong công ty chịu ảnh hưởng nhiều bởi chính sách bán chịu vì nếu công ty nới lỏng
chính sách bán chịu như thời gian bán chịu kéo dài ra, hay tiêu chuẩn bán chịu thấp
hơn sẽ khiến cho vòng quay khoản phải thu giảm và thời gian thu nợ cũng tăng lên. Do
đó, khi phân tích về quản lý khoản phải thu cần xem xét toàn bộ chính sách bán chịu
của công ty (Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài
chính”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr.305).
+ Thời gian quay vòng của tiền
Vòng quay tiền phản ánh thời gian quay vòng của tiền trong chu kì kinh doanh của
doanh nghiệp. Vòng quay tiền và thời gian quay vòng tiền được xác định như sau:
Doanh thu thuần
Vòng quay tiền = Giá trị iền và chứng khoán ngắn hạn
360
Thời gian quay vòng tiền =
Vòng quay tiền
Tiền là khoản mục có tính lỏng cao nhất trong tổng tài sản của doanh nghiệp.
Vòng quay tiền càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh daonh của doanh nghiệp càng tốt.
Việc giữ tiền và các tài sản tương đương tiền đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi thế
như chủ động trong kinh doanh, mua hàng trả tiền ngay được hưởng chiết khấu, ngoài
ra khi vật tư hàng hóa rẻ doanh nghiệp có thể dự trữ với lượng lớn tạo điều kiện giảm
chi phí sản xuất. Tuy nhiên, tiền được dự trữ ở mức không hợp lí có thể gây ra nhiều
bất lợi. Thứ nhất điều kiện thiếu vốn ở các doanh nghiệp đang khá phổ biến, việc giữ
quá nhiều tiền sẽ gây ứ đọng vốn, hạn chế khả năng đầu tư vào tài sản khác, do đó lợi
nhuận của doanh nghiệp có thể bị giảm. Thứ hai, do giá trị theo thời gian và do tác
động của lạm phát đồng tiền sẽ giảm giá trị. Vì vậy cản quan tâm tới tốc độ vòng quay
tiền sao cho đem lại khả năng sinh lợi cao nhất cho doanh nghiệp (Nguồn: Nguyễn
Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh Tế
Quốc Dân, tr.310).
17
1.3.6 Phân tích chỉ tiêu khả năng sinh lời
+ Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
Tỷ suất lợi nhuân trên doanh thu phản ánh trong một đồng doanh thu mà doanh
nghiệp thực hiện trong kỳ có mấy đồng lợi nhuận. Tỷ suất này càng cao chứng tỏ
doanh nghiệp làm ăn càng có lãi.
Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = x100% Doanh thu thuần
+ Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả việc sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh
của công ty và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo
công ty.
Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản = x100% Tổng giá trị tài sản
Hệ số này có ý nghĩa là với 1 đồng tài sản của công ty thì sẽ mang lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Một công ty đầu tư tài sản ít nhưng thu được lợi nhuận cao sẽ là tốt
hơn so với công ty đầu tư nhiều vào tài sản mà lợi nhuận thu được lại thấp. Hệ số ROA
thường có sự chênh lệch giữa các ngành. Những ngành đòi hỏi phải có đầu tư tài sản
lớn vào dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ như các ngành vận tải, xây
dựng, sản xuất kim loại… thường có ROA nhỏ hơn so với các ngành không cần phải
đầu tư nhiều vào tài sản như ngành dịch vụ, quảng cáo, phần mềm…
+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Các nhà đầu tư thường quan tâm đến chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
vì họ quan tâm đến khả năng thu được lợi nhuận từ đồng vốn mà họ bỏ ra để đầu tư,
hơn nữa chỉ tiêu này cũng giúp các nhà quản trị tăng cường kiểm soát và bảo toàn vốn
góp cho doanh nghiệp tăng trưởng bền vững. Chỉ tiêu này được xác định bằng công
thức sau:
Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = x100% Tổng giá trị vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư thì tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao, càng
18
biểu hiện xu hướng tích cực vì sẽ giúp cho các nhà quản trị có thể huy động vốn trên
thị trường tài chính để tài trợ cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp, ngược lại chỉ tiêu
này nhỏ thì hiệu quả kinh doanh thấp, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc huy
động vốn, tuy nhiên sức sinh lời của vốn chủ sở hữu cao không phải lúc nào cũng
thuận lợi do ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính, khi đó mức độ mạo hiểm và rủi ro cao,
vì vậy khi phân tích phải tùy thuộc đặc điểm của ngành nghề kinh doanh.
Phân tích khả năng sinh lời thông qua mô hình tài chính Dupont:
Phân tích theo phương pháp Dupont:
Để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên VCSH (ROE) của một công ty, bao gồm xu hướng theo thời gian và kết quả hoạt động so với các đối thủ
cạnh tranh, các nhà phân tích thường “phân tích thành phần” của ROE thành một tích số
của một chuỗi các tỷ số. Mỗi tỷ số thành phần đều có ý nghĩa riêng, và quá trình này
nhằm tập trung sự chú ý của nhà phân tích vào các yếu tố riêng biệt ảnh hưởng đến kết
quả hoạt động. Kiểu phân tích thành phần ROE này được gọi là phân tích DuPont.
Dupont là tên một nhà quản trị người Pháp tham gia kinh doanh ở Mỹ. Dupont
đã chỉ ra được mỗi quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí
và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn.
Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của
doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupont tích
hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán. Trong phân tích tài
chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mỗi liên hệ giữa chỉ tiêu tài
chính. Chính nhờ sự phân tích liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thấy phát
hiên ra những nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phântích theo một trình tự nhất định.
Dưới góc độ nhà đầu tư, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là tỷ suất lợi
nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Do vốn chủ sở hữu là phần của tổng nguồn vốn hình
thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản. Mối quan
hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:
Lợi nhuận ròng Lợi nhuận ròng Tổng giá trị tài sản x =
Tổng giá trị vốn chủ sở hữu Tổng giá trị tài sản Tổng giá trị vốn chủ sở hữu
Vì vậy, mô hình Dupont có thể tiếp tục được triển khai chi tiết thành:
Tổng tài sản
Lợi nhuận ròng Lợi nhuận ròng Doanh thu = X x
Vốn chủ sở hữu Doanh thu Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
19
Hay, ROE = hệ số lợi nhuận ròng x hiệu suất sử dụng tổng tài sản x đò bẩy tài chính
Như vậy qua khai triển chỉ tiêu ROE chúng ta có thể thấy chỉ tiêu này được cấu
thành bởi ba yếu tố chính là lợi nhuận ròng, hiệu suất sử dụng tài sản và đòn bẩy tài
chính có nghĩa là để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh ( tức là gia tăng ROE) doanh
nghiệp có 3 sự lựa chọn cơ bản là tăng một trong ba yếu tố trên.
Thứ nhất doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng cạnh tranh nhằm nâng cao
doanh thu và đồng thời tiết giảm chi phí nhằm gia tăng lợi nhuận ròng biên.
Thứ hai doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách sử dụng
tốt hơn các tài sản sẵn có của mình nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Hay
nói một cách dễ hiểu hơn là doanh nghiệp cần tạo ra nhiều doanh thu hơn từ những tài
sản sẵn có. Một ví dụ đơn giản và khá thú vị có thể minh chứng cho điều này là giả sử
bạn có một cửa hàng mặt phố nhỏ ban sáng bạn bán đồ ăn sáng, buổi trưa bạn bán cơm
bình dân cho dân văn phòng và buổi tối bạn bán cà phê. Như vậy với cùng một tài sản là
cửa hàng bạn đã gia tăng được doanh thu nhờ biết bán những thứ cần thiết vào thời gian
thích hợp.
Thứ ba doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao
đòn bẩy tài chính hay nói cách khác là vay nợ thêm vốn để đầu tư. Nếu mức lợi nhuận
trên tổng tài san cua doanh nghiệp cao hơn mức lãi suất cho vay thì việc vay tiền để đầu
tư của doanh nghiệp là hiệu quả.
Khi áp dụng công thức Dupont vào phân tích các nhà phân tích nên tiến hành so
sánh chỉ tiêu ROE của doanh nghiệp qua các năm. Sau đó phân tích xem sự tăng trưởng
hoặc tụt giảm của chỉ số nay qua các năm bắt nguồn từ nguyên nhân nào trong ba
nguyên nhân kể trên từ đó đưa ra nhận định và dự đoán xu hướng của ROE trong các
năm sau. Ví dụ nhà phân tích nhận thấy chỉ tiêu ROE tăng vọt qua các năm xuất phát từ
việc doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính ngày càng tăng thì nhà phân tích cần tự hỏi
xem liệu xu hướng này có tiếp tục được hay không? Lãi suất trong các năm tới có cho
phép doanh nghiệp tiếp tục sử dụng chiến lược này không? Khả năng tài chính của
doanh nghiệp có còn đảm bảo an toàn không? Nếu sự gia tăng ROE đến từ việc gia tăng
biên lợi nhuận hoặc vòng quay tổng tài sản thì đây là một dấu hiệu tích cực tuy nhiên
các nhà phân tích cần phân tích sâu hơn. Liệu sự tiết giảm chi phí của doanh nghiệp có
thể tiếp tục diễn ra không và nó bắt nguồn từ đâu? Doanh thu có tiếp tục tăng không với
cơ cấu sản phẩm của công ty như hiện nay và sẽ tăng ở mức nào?
20
1.4 . Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính có ý nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng khác nhau, ảnh
hưởng đến các quyết định đầu tư, tài trợ. Tuy nhiên, phân tích tài chính chỉ thực sự
phát huy tác dụng khi nó phản anh một cách trung thực tài chính doanh nghiệp, vị thế
của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong ngành. Các yếu tố ảnh hưởng
đến phân tích tài chính doanh nghiệp được thể hiên trong sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp
( Nguồn: Nguyễn Năng Phúc, (2013), “Giáo trình phân tích báo cáo tài chính”, NXB Đại Học KTQD, tr.490)
Chất lượng thông tin sử dụng
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng phân tích tài chính,
bời một khi thông tin không chính xác, không phù hợp thì kết quả mà phân tích tài
chính đem lại chỉ là hình thức, không có ý nghĩa gì. Vì vậy, có thể nói thông tin sử
dụng trong phân tích tài chính là nền tảng của phân tích tài chính.
Từ những thông tin bên trong trực tiếp phản ánh tài chính doanh nghiệp đến
những thông tin bên ngoài liên quan đến mội trường hoạt động của doanh nghiệp,
người phân tích có thể thấy tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và
dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai.
Tình hình nền kinh tế trong nước và ngoài nước không ngừng biến động, tác
động hàng ngày đến điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp. Hơn nữa, tiền lại có giá
trị theo thời gian, một đồng tiền hôm nay có giá trị khác đồng tiền trong tương lại. Do
21
đó, tính kịp thời, giá trị dự đoán là đặc điểm cần thiết làm nên sự phù hợp của thông
tin. Thiếu đi sự phù hợp và chính xác, thông tin không còn độ tin cậy và điều này tất
yếu ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp.
Trình độ cán bộ phân tích
Có được thông tin phù hợp và chính xác nhưng tập hợp và xử lý thông tin đó
như thế nào để đưa lại kết quả phân tích tài chính có chất lượng cao lại là điều không
đơn giản. Nó phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của cán bộ thực hiện phân tích. Từ các
thông tin thu nhập được, các cán bộ phân tích phải tính toàn các chỉ tiêu, thiết lập các
bảng biểu. Tuy nhiên, đó chỉ là những con số và nếu chúng đứng riêng lẻ thì tự chúng
sẽ không nói lên điều gì. Nhiệm vụ của người phân tích là phải gắn kết, tạo lâp mối
liên hệ giức các chỉ tiêu, kết hợp với các thông tin và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của
doanh nghiệp để lý giải tình hình tài chính của doanh nghiệp, xác định thế mạnh, điểm
yếu cũng như nguyên nhân dẫn đến điểm yếu trên. Hay nói cách khác, cán bộ phân
tích là người làm cho các con số “biết nói”. Chính tầm quan trọng và sự phức tạp của
phân tích tài chính đòi hỏi cán bộ phân tích phải có trình độ chuyên môn cao.
Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành
Phân tích tài chính sẽ trở nên đầy đủ và có ý nghĩa hơn nếu có sự tồn tại của hệ
thống chỉ tiêu trung bình ngành. Đây là cơ sở tham chiếu quan trọng khi tiến hành
phân tích. Người ta chỉ có thể nói các tỷ lệ tài chính của doanh nghiệp là cao hay thấp,
tốt hay xấu khi đem so sánh với các tỷ lệ tài chính của một doanh nghiệp khác có đặc
điểm và điều kiện sản xuất kinh doanh tương tự mà đại diện ở đây là chỉ tiêu trung
bình ngành. Thông qua đối chiếu với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, nhà quản lý
tài chính biết được vị thế của doanh nghiệp từ đó đánh giá được thực trạng tài chính
doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.
22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Phân tích tình hình tài chính là một vấn đề hết sức phức tạp, trong giới hạn cho
phép, đề tài không thể chỉ ra hết được những lý luận về phân tích tài chính doanh
nghiệp mà chỉ có thể nêu lên những nhận định chung nhất. Phân tích tài chính bao hàm
rất nhiều nội dung, khía cạnh khác nhau, đòi hỏi nhà quản trị phải tìm hiểu và có hiểu
biết sâu rộng về tài chính doanh nghiệp hiện đại, cũng như nắm bắt kịp thời những
biến động về tình hình kinh tế - xã hội có ảnh hưởng tới doanh nghiệp. Trong chương
1, đề tài đã nêu khái quát những nội dung lý luận cơ bản, quan trọng nhất của hoạt
động phân tích tài chính và mối quan hệ giữa phân tích tài chính doanh nghiệp với việc
nâng cao tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để cụ thể hóa những nội
dung đó, chương 2 sẽ đi sâu phân tích tình hình tài chính thực tế tại “Công ty trách
nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh”.
23
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI
XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT ANH
2.1 Khái quát chung về công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất Thương mại Xuất
nhập khẩu Việt Anh
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triền công ty
Tên Công ty : CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT THƯƠNG
MẠI XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT ANH.
Tên viết tắt : VIỆT ANH CO.,LTD
Điện thoại : (04)66756742
Fax : (04)35378171
Email : info@hyundaiwater.com
Website : http://www.hyundaiwater.com.vn
Mã số thuế : 0101777723
Hình thức sở hữu : Công ty TNHH 2 thành viên
Địa chỉ trụ sở chính: số 59/126 phố Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa,
thành phố Hà Nội.
Vốn điều lệ (năm 2002) là: 2.000.000.000 VNĐ. (Bằng chữ: Hai tỷ Việt Nam đồng)
Công ty TNHH Việt Anh được thành lập ngày 15/05/2002 theo Giấy phép
thành lập 906/GP-UB do uỷ ban thành phố Hà Nội cấp ngày 15/05/2002, giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh số 0101777723 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày
16/9/2005 được sửa đổi lần 2 ngày 15/3/2012. Vốn điều lệ ban đầu khi mới thành lập
là 2.000.000.000 VND.
Công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh là nhà xuất khẩu
và phân phối độc quyền tại Việt Nam các sản phẩm lọc nước mang thuơng hiệu
Huyndai wacortec.
Được thành lập tháng 09 năm 2005 trên cơ sở mở rộng ngành nghề sản xuất
kinh doanh của TNC Group (thành lập tháng 06 năm 2003) đến nay công ty Việt Anh
đã trở thành một trong những nhà cung cấp chuyên nghiệp về các sản phẩm thiết bị lọc
nước cao cấp tại Việt nam. Sản phẩm mang thương hiệu HYUNDAI - Hàn quốc đã có
mặt tại hầu hết thị trường trên cả nước.
Trong suốt quá trình hoạt động, công ty ngày càng được nhiều người biết đến
và cũng đã nhận được rất nhiều đơn đặt hàng từ các hộ gia đình, đến các đại lý lớn
nhỏ, hay các siêu thị lớn trên toàn quốc. Cho đến ngày 31/12/2005 vốn điều lệ của
24
công ty là 2.600.000.000 VNĐ. Điều này cho thấy công ty luôn hoạt động có hiệu quả
và ngày càng trở nên uy tín. Cứ như vậy, công ty hoạt động và phát triển cũng như mở
rộng ngành nghề kinh doanh, đa dạng hóa sản phẩm, phát huy thế mạnh của công ty.
2.1.2. Ngành nghề kinh doanh
Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty TNHH sản xuât thương mại xuất
nhập khẩu Việt Anh là: lắp ráp máy làm nguyên liệu nước uống, nhập khẩu trực tiếp
và phân phối độc quyền tại Việt Nam các sản phẩm lọc nước mang thương hiệu
hyundai bao gồm: thiết bị lọc nước RO Hyundai gia đình, RO Hyundai công nghiệp,
máy làm nóng lạnh nước uống Hyundai.
Ngoài ra, công ty còn cung cấp các dòng sản phẩm khác như: máy lọc không
khí gia đình, máy lọc nước uống nóng lạnh Hyundai sử dụng cho gia đình và cơ quan
công sở, các thiết bị làm mềm nước…
Bên cạnh việc bán các dòng sản phẩm độc quyền Hyundai Hàn Quốc tại Việt
Nam, công ty TNHH Việt Anh còn nhận lắp đặt hệ thống xử lý nước sinh hoạt, nước
tinh khiết. Kí kết các hợp đồng buôn bán với các doanh nghiệp cần sử dụng dịch vụ
máy lọc nước.
2.1.3 Cơ cấu tổ chức công ty Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty trách nhiệm hữu hạn xuất nhập khẩu Việt Anh
Ban Giám Đốc
Phó Giám Giám Đốc
Đốc
Phòng kinh Phòng kỹ thuật- Phòng quảng Phòng tài Phòng nhân
chất lượng cáo chính kế toán sự & quản lý doanh
Showroom Kho
( Nguồn : Phòng nhân sự và quản lý )
Ghi chú : Mối quan hệ trực tuyến
25
Mối quan hệ phối hợp
Bộ máy nghiệp vụ và nhiệm vụ của các phòng
Cơ cấu tổ chức mà công ty áp dụng có nhiều ưu điểm lớn. Theo cơ cấu này thì
giám đốc được sự tham mưu của các phòng ban chức năng, các chuyên gia hội đồng tư
vấn trong việc suy nghĩ, nghiên cứu bàn bạc tìm ra những biện pháp tối ưu cho các vấn
đề cần quyết định. Cũng theo cơ cấu tổ chức này đã đáp ứng kịp thời các thông tin số
liệu từ cấp dưới cho tới cấp lãnh đạo cao nhất của công ty.
Giám đốc
Đứng đầu bộ phận quản lý của công ty, chịu trách nhiệm toàn bộ mọi hoạt động
kinh doanh của công ty theo giấy phép kinh doanh hành nghề cho phép. Đồng thời là
người đại diện cho quyền lợi và nghĩa vụ của toàn công ty, chịu trách nhiệm trước nhà
nước, cơ quan chủ quản và công ty về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Giám
đốc có những quyền và nghĩa vụ:
- Quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hàng ngày
của công ty.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư xuất nhập khẩu
của công ty.
- Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty.
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý của công ty.
Phó Giám Đốc
- Là người giúp việc cho giám đốc đồng thời thường xuyên phối hợp với giám
đốc kiểm tra, đôn đốc các cán bộ, công nhân viên trong công ty, thực hiện thắng lợi chỉ
tiêu của công ty. Nhiệm vụ của phó giám đốc là tham mưu giúp việc cho giám đốc
những biện pháp cụ thể trong kinh doanh, quản lý để sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
- Phó giám đốc được giám đốc công ty phân công công việc cụ thể và
được ủy quyền giải quyết một số công việc, có trách nhiệm thực hiện tốt nhiệm
vụ đuợc phân công trong kinh doanh, quản lý để sản xuất kinh doanh có hiệu
quả. Thường xuyên báo cáo giám đốc tình hình thực hiện công việc. Phó giám
đốc khi đi công tác có trách nhiệm tổ chức điều hành công việc trong thời gian
được ủy nhiệm, ủy quyền và phải báo cáo kết quả công việc trong thời gian phụ
trách với giám đốc khi đi công tác về.
26
27
Bộ phận kinh doanh
- Có nhiệm vụ nắm bắt, xây dựng và tổ chức các phương án kinh doanh trong
nước và xuất khẩu hiệu quả, đảm bảo các nguồn hàng hóa có chất lượng tốt, phù hợp
với thị hiếu người tiêu dùng.
- Thực hiện các công việc về thương mại nhằm tiêu thụ tối đa lượng sản phẩm
của công ty sản xuất ra.
- Thực hiện công tác nghiên cứu thị trường và đề ra các chiến lược cho công ty.
- Phối hợp với các đơn vị của công ty để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh của công ty.
- Thiết lập và quản lý mạng lưới phân phối, đề xuất các phương án, mạng lưới
bán hàng, các hình thức quảng cáo, khuyến mại nhằm đẩy mạnh lượng tiêu thụ.
Thủ kho
- Là người chịu trách nhiệm theo dõi việc nhập xuất kho hàng hoá đồng thời có
trách nhiệm bảo quản hàng hoá trong kho.
Showroom
- Thực hiện việc bán hàng, nộp tiền hàng ở đơn vị cho thủ quỹ, thủ quỹ vào sổ
quỹ tiền mặt hàng ngày, kế toán lấy số liệu vào sổ sau đó báo cáo cho lãnh đạo để xem
xét hàng tồn kho nhiều hay ít.
- Tùy theo từng lĩnh vực mình phụ trách, các phòng ban có những kế hoạch,
chiến lược cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả quản lý công việc.
Bộ phận kỹ thuật chất lượng
- Tham mưu giúp cho giám đốc trong các lĩnh vực về máy móc, lắp ráp nguyên
vật liệu.
- Xây dựng các chỉ tiêu kỹ thuật, chất lượng hàng hoá đảm bảo đúng chất lượng
theo yêu cầu của khách hàng. Kiểm tra chất lượng hàng hóa.
Bộ phận quảng cáo
- Thực hiện quản lý khối lượng, chất lượng, tiến độ công trình, quản lý công tác
an toàn, thực hiện các công việc bảo hành, bảo dưỡng sản phẩm mà công ty cung cấp
cho khách hàng.
28
- Tập hợp, báo cáo cho giám đốc ý kiến phản hồi của khách hàng về sản phẩm
và dịch vụ mà công ty cung ứng, qua đó ban lãnh đạo công ty sẽ nghiên cứu những
chiến lược cụ thể để cung cấp cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ hoàn hảo,
tin cậy nhất.
Bộ phận kế toán tài vụ
- Đứng đầu là kế toán trưởng: kiêm chức vụ thủ quỹ của công ty, thực hiện
quản lý kế toán tài chính của đơn vị theo đúng quy định của nhà nước, mở và ghi chép
các loại sổ sách kế toán của đơn vị, cùng bộ phận kinh doanh lên kế hoạch tài chính
cho các hoạt động của đơn vị, hàng tháng phải báo cáo kết quả thu chi tài chính cho
giám đốc quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn của đơn vị cũng như của công ty, không để
thất thoát thua lỗ, thực hiện nghiêm túc chế độ kế toán thống kê.
- Kế toán thanh toán nội địa: thu nhập báo cáo chi tiết, tập hợp chi phí giá thành
nguyên vật liệu đầu vào, theo dõi tình hình mua bán sản phẩm trong nước, ghi chép
kịp thời chính xác các số lượng, chất lượng, giá cả vật tư trong việc nhập và xuất kho.
- Kế toán xuất khẩu: thanh toán và hạch toán chính xác các nghiệp vụ liên quan
đến xuất khẩu và thanh toán quốc tế, kiểm tra tính pháp lý của các chứng từ thanh toán
quốc tế, theo dõi thanh toán ngoại tệ giữa hai bên và với ngân hàng.
Sơ đồ 2.2. Sơ đồ tổ chức phòng kế toán
Kế toán trưởng
Kế toán xuất khẩu Kế toán thanh
toán nội địa
( Nguồn: Phòng tài chính kế toán )
Các thông tin khác
Hình thức kế toán: nhật kí chung.
Năm tài chính: các niên độ kế toán bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào
31 tháng 12 hàng năm. Chế độ kế toán đang áp dụng: công ty áp dụng chế độ kế toán
29
Doanh nghiệp Việt Nam ban hành theo quyết định số 48/2006/QĐ ngày 20 tháng 3
năm 2006 của bộ trưởng bộ tài chính.
Nguyên tắc ghi nhận tiền và các khoản tương đương tiền: Phương pháp chuyển
các đồng tiền khác theo tỷ giá của ngân hàng nhà nước Việt Nam tại thời điểm ghi sổ.
2.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Thị trường kinh doanh: Việc mở cửa hội nhập với nền kinh tế đồng nghĩa với việc
tăng sức mạnh cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên doanh thu nội địa của công ty TNHH
Việt Anh dù không có những cú tăng đột biến nhưng vẫn tăng đều hàng năm. Sau gần 10
năm hoạt động, công ty TNHH Việt Anh dần đứng vững và nắm được vị thế nhất định
trong việc sản xuất kinh doanh máy lọc nước. Các cửa hảng, đại lý, phòng trưng bày sản
phẩm lớn nhỏ cũng được trải dài rộng khắp các tỉnh, thành phố Bắc Trung Nam.
Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh
Lĩnh vực sản xuất kinh doanh là nhập khẩu trực tiếp dòng sản phẩm máy lọc nước
Hyundai Hàn Quốc dùng cho gia đình, cho các cơ quan…Không những thế, công ty đã bắt
đầu khai thác và đưa ra các dạng sản phẩm khác nhằm đa dạng hoá sản phẩm như: máy lọc
không khí, máy làm nóng lạnh nước… giúp người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn.
Quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn
sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh
Công ty TNHH Việt Anh là công ty chuyên nhập khẩu nguyên chiếc các sản phẩm
máy lọc nước Hyundai Hàn Quốc tuy nhiên, với các dòng sản phẩm trong nước, cũng có
trình tự và bước thực hiện nhất định.
Các bước để lọc nước tinh khiết của máy lọc nước Hyundai:
Sơ đồ 2.3.Quy trình lọc nước tinh khiết
Tái lọc Lọc thô
Lọc than hoạt tính
Lọc RO Lọc mềm để sử dụng
( Nguồn: Phòng kỹ thuật – chất lượng )
30
Diễn giải quy trình:
Bước 1: Nguồn nước cấp dùng cho máy sẽ là nguồn nước sinh hoạt trực tiếp từ
mỗi hộ gia đình. Nước sẽ được đưa qua lõi lọc số 1 là lọc thô.
Bước 2: Nước được đưa qua dơle áp thấp-> van điện từ-> bơm-> ống lọc số 2 là
lọc than hoạt tính ( nhằm loạ bỏ chất độc hại: thuốc trừ sâu, đioxin..).
Bước 3: Sau khi lọc qua cục lọc số 2, nước được chuyển qua cục lọc số 3 vừa
lọc lại các chất còn bám ở cục lọc số 1 và làm mới chất ở cục lọc số 2.
Bước 4: Chuyển sang cục lọc số 4, lọc RO là bước quyết định nước tinh khiết, ở
đây nước chia làm 2 đường. Đường thứ 1 loại bỏ chất độc hại lơ lửng ra ngoài và 1 đường
qua van điều phối của dơle áp cao để lên lõi tạo khoáng và cân bằng pH ( bổ sung vi
lượng cần thiết cho cơ thể ) ở mức trung tính từ 6.5 -> 8.5 đảm bảo nước có vị ngọt.
Bước 5: Nước chuyển lên lõi lọc số 5 là lõi lọc làm mềm nước và ra vòi
để sử dụng.
2.1.5. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn sản
xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh
Bất kỳ doanh nghiệp nào trong quá trình sản xuất kinh doanh đều đặt ra mục
tiêu cuối cùng là đạt được doanh thu cao nhất với mức chi phí thấp nhất. Để đánh giá
được lợi nhuận của công ty các nhà phân tích cần nhìn nhận vào các thông số từ khoản
mục: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, các khoản làm giảm trừ doanh thu, các
khoản chi phí từ bán hàng và cung cấp dịch vụ, để từ đó đánh giá được công ty có lãi
hay lỗ. Sau đó là các khoản thuế phải nộp cho nhà nước, doanh nghiệp có thể thu được
cho mình bao nhiêu, để thấy được doanh nghiệp có đang sử dụng một cách hiệu quả
đồng vốn của mình hay không. Thông qua việc phân tích các chỉ tiêu ta có thể đánh
giá được quy mô, hiệu quả kinh doanh của công ty. Kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của triển Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Xuất nhập khẩu Việt Anh được
thể hiện thông qua bảng sau.
31
Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh năm 2011 – 2013 (ĐVT: triệu đồng)
Năm Chênh lệch
2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu 2011 2012 2013 (+/-) % (+/-) %
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịnh vụ 7.940,17 7.408,37 9.448,24 -531,80 -6.70 2.039,87 27,53
2. Các khoản giảm trừ doanh thu - - - - - - -
3. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ 7.940,17 7.408,37 9.448,24 -531,80 - 6,70 2.039,87 27,53
6.837,02 5.445,41 7.318,98 -1.391,61 -20,35 1.873,57 34,41 4. Giá vốn hàng bán
1.103,16 1.962,96 2.129,26 859,80 77,94 166,30 8,47 5. Lợi nhuận gộp
6. Doanh thu hoạt động tài chính - 4,36 0,72 4,36 - -3,64 -83,49
341,85 705,21 536,06 363,36 106,29 -169,15 -23,99 7. Chi phí tài chính
341,85 - -341,85 -100,00 Trong đó: Chi phí lãi vay -
9. Chi phí quản lý doanh nghiệp 741,41 1.253,99 1.532,21 512,58 69,14 278,22 22,19
10. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 19,90 8,11 61,72 -11,79 -59,25 53,61 661,04
11. Thu nhập khác - 16,00 - - 16,00 - -
12. Chi phí khác - - - - - - -
13. Lợi nhuận khác - 16,00 - - 16,00 - -
14. Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 19,90 8,11 77,72 -11,79 -59,25 69,61 858,32
15. Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 19,90 8,11 77,72 -11,79 59,25 69,61 858,32
( Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
32
Nhận xét
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ của công ty giảm trong năm 2012 nhưng phục hồi và tăng vào năm 2013. Cụ
thể, doanh thu năm 2012 là 7.408,37 triệu đồng, của năm 2011 là 7.940,17 triệu đồng,
bị sụt giảm 531,80 triệu đồng, giảm tương ứng với 6,70%. Đến năm 2013, doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty tăng mạnh so với cả 2 năm trước đó là
9.448,24 triệu đồng, tăng 2.039,87 triệu đồng tương ứng với mức tăng 27,53% so với
năm 2012. Nguyên nhân chủ yếu khiến cho năm 2012 tình hình kinh doanh của công
ty không hiệu quả như năm 2011 là do năm 2012, nền kinh tế của Việt Nam lâm vào
tình trạng suy thoái. Theo đánh giá của Tổng cục thống kê, mức tăng trưởng năm 2012
thấp hơn mức tăng 5,89% của 2011. Trong bối cảnh kinh tế gặp khó khăn, cả nước
thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô người dân có xu
hướng thắt chặt chi tiêu làm giảm lượng tiêu thụ về doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ của công ty xuống, mặc dù tình hình kinh doanh của công ty giảm trong năm
2012 nhưng mức giảm tương đối thấp là 6,70%, đặc biệt sang năm 2013 đã tăng trở lại
và tăng vượt bậc lên thêm 27,53% so với năm 2013, đây là một tín hiệu đáng mừng.
Nguyên nhân chủ yếu năm 2013, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng trở lại
là do sản phẩm mới được đưa ra thị trường và được nhiều người tiêu dùng đón nhận.
Sản phẩm có sự khác biệt hóa rõ rệt so với các đối thủ cạnh tranh về vật liệu nhựa cao
cấp, đồ bền cao hơn, làm tăng hàm lượng khoáng, vi lượng cho cơ thể, đồng thời
Chính phủ Việt Nam thực hiện nhiều gói kích cầu trên, gói cứu trợ bất động sản và
nhiều dự án mới đã khiến thị trường khởi sắc hơn so với năm 2012, từ đó gián tiếp làm
tăng nguốn doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty.
Các khoản giảm trừ doanh thu: Trong cả ba năm 2011, 2012 và 2013, công
ty đều không phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu. Tuy doanh thu năm 2012 của
công ty bị giảm nhưng những mặt hàng công ty cung ứng ra ngoài thị trường đều đảm
bảo chất lượng. Do không có sự cố về máy móc hay những lỗi cơ bản về thiết bị nên
hàng bán ra không phải giảm giá và cũng không bị khách hàng trả lại. Chính vì không
có các khoản giảm trừ doanh thu nên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chính là
doanh thu thuần của công ty.
Giá vốn hàng bán: Giá vốn hàng bán của công ty biến động theo doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ, năm 2012 là 5.445,41 triệu đồng, năm 2011 là 6.837,02
33
triệu đồng, bị sụt giảm 1.391.61 triệu đồng, giảm tương ứng với 20,35%. Công ty
TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh là công ty chuyên sản xuất
thương mại và xuất nhập khẩu, năm 2012 công ty kinh doanh kém hơn năm 2011
nguyên nhân nhập khẩu ít máy lọc từ phía liên doanh với nước ngoài và cung ứng các
sản phẩm sản xuất trong nước cũng ít hơn nên giá vốn hàng bán cũng giảm đi theo
đúng tình hình biến động của doanh thu, tuy nhiên doanh thu bán hàng năm 2012 giảm
6,70% trong khi đó giá vốn hàng bán giảm 20,35%, điều đó cho thấy mặc dù doanh
thu giảm đi nhưng mức giảm của doanh thu lại nhỏ hơn mức giảm của giá vốn hàng
bán, do đó chúng ta có thể thấy rằng doanh nghiệp đã có những biện pháp làm giảm
chi phí giá vốn hợp lý, tìm được nhà cung cấp với giá thấp, tiết kiệm được các chi phí
pháp sinh khi vận chuyển, mua bán hàng hóa từ đó sẽ làm tăng được lợi nhuận gộp và
cả lợi nhuận sau thuế của công ty. Bước sang năm 2013, giá vốn hàng bán của công ty
tăng lên mức 7.318,98 triệu đồng, tăng 1.873,57 triệu đồng tương ứng với mức tăng
34,41% so với năm 2012. Do trong năm 2013 tình hình tiêu thụ máy lọc nước của
công ty tăng trở lại và có bước đột phá mới về công nghệ máy lọc nước nên đã được
thị trường chào đón đồng thời, sang đến năm 2013 tình hình suy thoái của nền kinh tế
giảm đi, người dân có xu hướng kích thích tiêu dùng trở lại đẩy cho doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ, giá vốn hàng bán của công ty tăng theo.
Doanh thu hoạt động tài chính: Năm 2011 công ty không có doanh thu từ
hoạt động tài chính do công ty không tham gia các hoạt động đầu tư hay góp vốn chỉ
tập trung hoạt động sản xuất kinh doanh chính của mình. Đến năm 2012 doanh thu
hoạt động tài chính của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Viêt Anh
đạt 4,36 triệu đồng. Trong đó chủ đạo là tiền lãi, cổ tức lợi nhuận được chia mà công
ty nhận được khi thực hiện hoạt động đầu tư trên thị trường. Đến năm 2013 doanh thu
hoạt động tài chính của công ty giảm đi chỉ còn 0,72 triệu đồng giảm 3,64 triệu tương
ứng với mức giảm 83,49%. Nguyên nhân giảm chủ yếu là do trong năm 2013 các
khoản tiền lãi, cổ tức, lợi nhuận được chia giảm mạnh do công ty chưa có hướng đầu
tư đúng đắn cũng như kinh nghiệm nhiều. Qua đây ta có thể thấy công ty chưa chú
trọng nhiều vào hoạt động đầu tư tài chính vì doanh thu đến từ khoản mục này chiếm
tỷ trọng nhỏ so với doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Chi phí hoạt động tài chính: Năm 2012 là 705.21 triệu đồng tăng 363.36 triệu
đồng tương ứng với mức tăng 106,29% so với năm 2011. Nguyên nhân chủ yếu là do
34
mục đích mở rộng sản xuất kinh doanh, công ty đã tạo điều kiện cho khách hàng được
giảm chiết khấu do thanh toán sớm để không bị chiếm dụng vốn cho nên chi phí hoạt
động tài chính đã tăng đáng kể đồng thời doanh nghiệp có thực hiện các khoản vốn
vay từ phía ngân hàng thương mại để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Song
công ty cần xem xét chi phí tài chính tăng nhanh và quá cao sẽ ảnh hưởng tới lợi
nhuận. Đến năm 2013, chi phí hoạt động tài chính giảm chỉ còn 536,06 triệu đồng,
giảm 169,15 triệu đồng tương ứng với mức giảm 23,69% so với năm 2012. Đây là một
tín hiệu đáng mừng thể hiện rằng chi phí lãi vay của công ty đã giảm mạnh, các khoản
vay ở các ngân hàng thương mại trong năm 2012 đã được công ty thanh toán 1 phần.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty
năm 2012 là 1.253,99 triệu đồng tăng 512,58 triệu đồng tương ứng với mức tăng
69,14% so với năm 2011, tăng tương ứng 69,14%. Bước sang năm 2013, chi phí quản
lý doanh nghiệp đạt 512,58 triệu đồng tăng 278,22 triệu đồng tương ứng với mức tăng
22,19%. Chi phí này có sự gia tăng khá lớn do công ty tăng mức lương và thưởng cho
cán bộ nhân viên bộ phận quản lý đồng thời chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho bộ
phận quản lý doanh nghiệp như: chi phí điện, nước, điện thoại, fax, chi phí sửa chữa
TSCĐ, tiền thuê nhà làm văn phòng cũng tăng lên. Công tác này cho thấy việc nhận
thức rõ sự quan trọng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Lợi nhuận sau thuế: Lợi nhuận sau thuế năm 2011 đạt 19,90 triệu đồng. Đến
năm 2012 doanh thu sau thuế chỉ còn 8,11 triệu đồng giảm 11,79 triệu đồng so với
năm 2011, giảm tương ứng với 59,25%. Dù trong năm 2012 vẫn có lãi nhưng so với
năm 2011 thì công ty có lợi nhuận giảm đi hơn nửa nguyên nhân chủ yếu là do các chi
phí của doanh nghiệp tăng cao đặc biệt là chi phí quản lý kinh doanh và chi phí tài
chính trong khi đó doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty tăng lên rất ít.
Đồng thời nếu xét nguyên nhân khách quan một phần là do trong năm 2012, nền kinh
tế Việt Nam đang trong giai đoạn suy thoái, người dân thắt chặt chi tiêu đã ảnh hưởng
đến tình hình sản xuất kinh doanh và tiêu thụ của công ty. Đến năm 2013 lợi nhuận sau
thuế của công ty tăng mạnh đạt 77,72 triệu đồng tăng 69,61 triệu đồng tương ứng với
mức tăng mạnh 858,32%. Điều đó cho thấy trong năm 2013 hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty đat hiệu quả cao, cả doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận khác đều tăng mạnh. Vì thế, trong thời gian
tới công ty cần phát huy hơn nữa để từ đó làm tăng lợi nhuận sau thuế của mình
35
2.2. Thực trạng tính hình tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất
thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh
2.2.1. Phân tích tình hình cơ cấu tài sản – nguồn vốn
- Cơ cấu tài sản
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại
xuất nhập khẩu Việt Anh
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất
nhập khẩu Việt Anh)
Nhận xét
Qua biểu đồ cơ cấu tài sản trên ta thấy cơ cấu tài sản của công ty trong 3 năm
có tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng rất cao luôn lớn hơn 90%. Trong khi đó, tài sản dài
hạn của công ty lại rất thấp. Điều này cho thấy, công ty đang tập trung vào tài sản ngắn
hạn là chủ yếu. Năm 2011 tài sản ngắn hạn của công ty chiếm 95% trong tổng tài sản,
năm 2012 tỉ trọng tài sản ngắn hạn tăng lên 97% và đến năm 2013 lại trở về mức 95%.
Trong khi đó tài sản dài hạn của công ty lại chiếm tỷ trọng rất thấp, năm 2011 và 2013
là 5%, năm 2012 giảm xuống chỉ còn 3%. Nguyên nhân của sự thay đổi tỷ trọng tài
sản ngắn hạn và dài hạn của công ty trong 3 năm là do lĩnh vực kinh doanh chủ yếu
của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh là lắp ráp máy làm
nguyên liệu nước uống, nhập khẩu trực tiếp và phân phối độc quyền tại Việt Nam các
sản phẩm lọc nước mang thương hiệu hyundai bao gồm: thiết bị lọc nước RO Hyundai
gia đình, RO Hyundai công nghiệp, máy làm nóng lạnh nước uống Hyundai. Chủ đạo
lĩnh vực hoạt động vẫn là thương mại chủ yếu lên tài sản ngắn hạn chiếm đa số, còn tài
36
sản dài hạn của công ty chủ yếu chỉ là các máy móc, dụng cụ thiết bị lắp đặt sản phẩm
lọc nước. Vì thế cơ cấu tài sản chủ yếu vẫn là tài sản ngắn hạn. Đối với các công ty
thuộc lĩnh vực thương mại việc có cấu tài sản chủ yếu là tài sản ngắn hạn là phổ biến
vì chủ yếu tài sản của công ty là hàng tồn kho và khoản phải thu. Nếu tài sản dài hạn
của các công ty thương mại quá cao sẽ gây bất lợi cho kết quả hoạt động kinh doanh vì
tồn nhiều chi phí huy động vốn.
37
Bảng 2.2. Tình hình tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh
(ĐVT: triệu đồng )
Năm Chênh lệch
Chỉ tiêu 2012/2011 2013/2012 2011 2012 2013 (+/-) % (+/-) %
8.171,41 12.654,60 17.264,70 4.483,19 54,86 4.610,10 36,43 A.Tài sản ngắn hạn
1.800,08 562,99 2.439,05 -1.237,09 - 68,72 1.876,06 333,23 1.Tiền và các khoản tương đương tiền
2.Hàng tồn kho 3.795,33 6.190,29 6.411,49 2.394,96 63,10 221,20 3,57
3.Các khoản phải thu ngắn hạn 2.501,64 5.795,39 8.236,16 3.293,75 131,66 2.440,77 42,12
4.Tài sản ngắn hạn khác 74,36 105,39 177,98 31,03 41,73 72,59 68,88
447,07 473,21 482,69 26,14 5,85 9,48 2,00 B.Tài sản dài hạn
1.Tài sản cố định 447,07 471,99 482,69 24,92 5,57 10,70 2,27
3. Tài sản dài hạn khác 1,22 1,22 -1,22 - 100,00
8.618,49 13.127,30 17.747,40 4.508,81 52,32 4.620,10 35,19 Tổng tài sản
( Nguồn: Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)
38
Tài sản ngắn hạn: Trong 3 năm qua tổng tài sản ngắn hạn của công ty liên tục
tăng qua các năm, và mức tăng khá cao. Năm 2011 tài sản ngắn hạn đạt 8.171,41 triệu
đồng, năm 2012 đạt 12.654,60 triệu đồng tăng 4.483,19 triệu đồng tương ứng với mức
tăng 54,68% so với năm 2011. Đến năm 2013, tài sản ngắn hạn tiếp tục được đầu tư
thêm lên đến 17.264,70 triệu đồng tăng 36,43% so với năm 2012. Nguyên nhân của
việc tài sản ngắn hạn tăng lên là do hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạn tăng
cao đặc biệt công ty còn làm trong lĩnh vực thương mại lên cũng cần một lượng lớn tài
sản ngắn hạn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu là hàng hóa máy
lọc nước. Công ty cần nhập đủ đảm bảo nguồn hàng trong kho để có thể tăng doanh
thu khi có khách hàng đồng thời các khoản phải thu tăng mạnh làm tăng tài sản ngắn
hạn của công ty nên do công ty áp dụng chính sách cấp tín dụng cho khách hàng để
tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Tiền và các khoản tương đương tiền: Năm 2011 tiền và các khoản tương
đương tiền của công ty là 1.800,08 triệu đồng. Năm 2012 tiền và các khoản
tương đương tiền giảm đi chỉ còn 562,99 triệu đồng tương ứng với mức giảm
68,72% so với năm 2011. Nguyên nhân giảm là do lượng tiền mặt dự trữ tại
công ty giảm mạnh được tác động từ phía nền kinh tế đang chịu ảnh hưởng từ
cuộc khủng hoảng kinh tế, hoạt động kinh doanh không được tốt, lượng tiền mặt
dự trữ cũng ít đi. Vì trong giai đoạn này việc giữ nhiều tiền mặt sẽ tạo ra nhiều
chi phí cho công ty như chi phí quản lý tiền mặt. Nhưng đến năm 2013 tiền và
các khoản tương đương tiền của công ty tăng mạnh đạt 2.439,05 triệu đồng tăng
1.876,06 triệu đồng tương ứng với mức tăng 333,23% so với năm 2012. Nguyên
nhân của việc tăng giảm không ổn định này một phần do thị trường bất ổn trong
năm 2012 và một phần do nhu cầu tiền mặt trong năm 2013 của công ty tăng cao
do công ty thực hiện hoạt động mở rộng quy mô kinh doanh nên nhu cầu tiền
mặt cũng tăng cao hơn so với năm 2012.
Hàng tồn kho: Số lượng hàng tồn kho tăng cao trong giai đoạn 2011-2013. Cụ
thể, năm 2011 hàng tồn kho của công ty là 3.795,33 triệu đồng, đến năm 2012 hàng
tồn kho tăng lên 6.190,29 triệu đồng tăng 2.394,49 triệu đồng tương ứng với mức tăng
63,10% so với năm 2011. Bước sang năm 2013, hàng tồn kho của công ty tiếp tục tăng
nhẹ 6.411,49 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 3,57% so với năm 2012. Nguyên
39
nhân là do, năm 2012 lượng hàng hóa và dịch vụ mà công ty cung cấp bán ra thị
trường giảm mạnh do nền kinh tế khó khăn, cạnh trang gay gắt trên thị trường đã đẩy
lượng hàng tồn kho của công ty tăng mạnh gây ứ đọng hàng hóa trong kho. Trong khi
lượng hàng nhập khẩu máy lọc nước từ thị trường nước ngoài về khá lớn từ đó lượng
hàng tồn kho của công ty tăng. Tuy nhiên, mức tăng lượng dự trữ hàng tồn kho qua
các năm cũng giảm dần cụ thể là năm 2013 đã giảm nhẹ do công ty đã tính toán nắm
bắt được thị trường nên mức dự trữ kho được tính toán hợp lý hơn. Tuy nhiên, công ty
cần phải đưa ra các chính sách quản lý hàng tồn kho trong thời gian tới ở một mức phù
hợp. Nếu dự trữ hàng trong kho nhiều quá sẽ tốn chi phí lưu kho của doanh nghiệp
nhưng nếu dự trữ ít quá sẽ ảnh hưởng đến lượng hàng bán.
Các khoản phải thu: Trong 3 năm qua, các khoản phải thu có xu hướng tăng.
Năm 2011 các khoản phải thu đạt 2.501,64 triệu đồng, năm 2012 tăng lên đến 5.795,39
triệu đồng, tăng 3.293,75 triệu đồng tương ứng mức tăng 131,66 triệu đồng. Bước sang
năm 2013, các khoản phải thu của công Ty Việt Anh tăng đạt 8.236,16 triệu đồng tăng
2.440,77 triệu đồng tương ứng với mức tăng 42,12% so với năm 2012. Nguyên nhân là
do nền kinh tế có khủng hoảng, hoạt động kinh doanh của công ty cũng bị ảnh hưởng,
để khuyến khích khách hàng mua hàng và tiêu thụ sản phẩm, công ty đã thực hiện
chính sách tín dụng mở rộng với điều khoản 3/10 net 30 đã làm tăng khoản phải thu
khách hàng. Tuy nhiên thực hiện chính sách tín dụng nới lỏng công ty nên thực hiện
công tác thẩm định khách hàng tốt nhất để hạn chế nợ xấu và nợ khó đòi từ phía
khách hàng.
Tài sản dài hạn: tài sản dài hạn của công ty tăng lên hàng năm nhưng mức
tăng khá thấp do công ty chưa có sự đầu tư và lĩnh vực chủ yếu của công ty là thương
mại xuất nhập khẩu lên tài sản dài hạn của công ty chủ yếu là tài sản cố định như máy
móc, thiết bị, dụng cụ lắp đặt máy lọc nước. Cụ thể năm 2011 tài sản dài hạn của công
ty hay chính là tài sản cố định đạt 447,07 triệu đồng, đến năm 2012, tài sản dài hạn của
công ty tăng lên do tài sản cố định tăng và có thêm tài sản dài hạn khác tăng. Đến năm
2013, tài sản dài hạn cũng tăng nhẹ với mức tăng 2% đạt tới 482,69 triệu đồng cũng do
có sự đầu tư thêm máy móc thiết bị là chủ yếu.
40
- Cơ cấu nguồn vốn
Biểu đồ 2.2. cơ cấu nguồn vốn của công ty sản xuất thương mại xuất nhập khẩu
Việt Anh
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)
Nhận xét
Cơ cấu nguồn vốn của công ty bao gồm nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu.
Trong 3 năm qua, cơ cấu nguồn vốn của công ty ít có sự thay đổi. Nợ phải trả của công
ty chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn. Năm 2011, nợ phải trả chiếm 97%,
năm 2012, 2013 là 98%. Trong khi đó. Vốn chủ sở hữu của công ty chiếm tỷ trọng thấp
và giảm trong 2 năm 2012 và 2013. Nguồn vốn nợ phải trả cao cho thấy chủ đạo vốn
của công ty là nguồn vốn đi vay nợ. Nếu sử dụng nguồn vốn nợ quá cao sẽ ảnh hưởng
rất lớn đến khả năng thanh toán của công ty, uy tín và số tiền phải trả lãi vay của công ty
từ đó có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và lợi nhuận sau thuế của công ty. Vì vậy,
công ty cần có các chính sách huy động và sử dụng nguồn vốn hợp lý hơn để có thể tăng
tính ổn định trong việc trả nợ, tăng tính thanh khoản cho công ty, giảm chi phí phát sinh
khi đi vay và trả lãi tiền vay, tăng uy tín của công ty trên thị trường.
41
Bảng 2.3. Cơ cấu nguồn vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh
(ĐVT: triệu đồng)
Năm Chênh lệch
Chỉ tiêu 2012/2011 2013/2012 2011 2012 2013 Số tiền % Số tiền %
A.Nợ phải trả 8.340,48 12.841,16 17.383,52 4.500,68 53,96 4.542,36 35,37
1.Nợ ngắn hạn 8.340,48 12.841,16 17.383,52 4.500,68 53,96 4.542,36 35,37
1. Vay ngắn hạn 940,78 236,00 295,66 -704,78 -74,91 59,66 25,28
2. Phải trả cho người bán 7.399,70 10.464,64 14.537,85 3.064,94 41,42 4.073,21 38,92
3. Người mua trả tiền trước 2.096,08 2.520,82 2.096,08 424,74 20,26 - -
4. Thuế và các khoản phải nộp 44,44 29,19 44,44 -15,25 -34,32 - - nhà nước
B.Vốn chủ sở hữu 278,00 286,12 363,84 8,12 2,92 77,72 27,16
1.Vốn chủ sở hữu 278,00 286,12 363,84 8,12 2,92 77,72 27,16
Lợi nhuận chưa phân phối 78,00 86,12 163,84 8,12 10,41 77,72 90,25
Tổng nguồn vốn 8.618,49 13.127,28 17.747,36 4.508,79 52,32 4.620,08 35,19
( Nguồn: Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh trong năm 2011-2013)
42
Nhận xét
Nợ phải trả: Năm 2011, nợ phải trả của công ty là 8.340,48 triệu đồng, năm
2012 là 12.841,16 triệu đồng tăng 4.500.68 triệu đồng tương ứng với mức tăng
53,96%. Đến năm 2013, nợ phải trả của công ty tiếp tục tăng lên đến 17.383,52 triệu
đồng tăng 4.542,36 triệu đồng tương ứng với mức tăng 35,37% so với năm 2012. Nợ
phải trả của công ty chủ yếu là vay ngắn hạn, phải trả cho người bán, người mua trả
tiền trước. Để có thể mở rộng hoạt động sản xuất thương mại, nhập khẩu máy lọc nước
công nghệ mới công ty đã sử dụng nguồn tài trợ chủ yếu là đi vay, đồng thời các
khoản vốn chiếm dụng từ các nhà cung cấp lại rất lớn từ đó là làm tăng khoản nợ phải
trả của công ty. Nợ phải trả của công ty tăng cao cũng do nguồn vốn chủ sở hữu vốn
góp hạn chế, để có thể mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, công ty đã
vận dụng các nguồn vốn vay, vốn chiếm dụng từ phía nhà cung cấp của mình.
Phải trả người bán: Trong giai đoạn 2011-2013, các khoản phải trả người bán
của công ty tăng mạnh qua các năm. Đây được coi là một nguồn vốn chiếm dụng của
doanh nghiệp đối với các nhà cung cấp. Khoản phải trả người bán của công ty tăng
cao, cụ thể năm 2011 đạt 7.399,70 triệu đồng, năm 2012 tăng đến 10.464,64 triệu đồng
tăng 3.064,94 triệu đồng tương ứng với mức tăng 41,42% so với năm 2011. Bước sang
năm 2013 khoản phải trả người bán tăng mạnh hơn đạt mức 14.537,85 triệu đồng tăng
tới 4.073,21 triệu đồng tương ứng với mức tăng 38,92% so với cùng kỳ năm 2012.
Nếu xét đây là một khoản vốn không mất phí mà doanh nghiệp có thể tận dụng được
thì việc các khoản phải trả cho người bán tăng cao sẽ là một điều có lợi cho công ty
trong giai đoạn khó khăn như hiện nay nhưng nếu xét về mức độ uy tín và an toàn thì
khoản vốn này quá cao cho thấy công ty sẽ không đảm bảo được khả năng thanh toán
của bản thân mình trong giai đoạn này. Nếu phải trả cho người bán của công ty tăng
cao sẽ làm giảm các chỉ tiêu khả năng thanh toán của công ty đồng thời làm giảm uy
tín, tính tự chủ và mất khoản chiết khấu thanh toán mà các nhà cung cấp cho công ty
được hưởng trong thời gian tới. Vì vậy công ty cần cân đối khoản mục phải trả người
bán với khoản mục phải thu khách hàng để đảm bảo lợi ích đạt được là cao nhất.
Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của công ty chiếm tỷ trọng rất thấp trong cơ
cấu nguốn vốn trong giai đoạn này. Tuy nhiên, vốn chủ sở hữu của công ty cũng đã có
tăng nên. Cụ thể, năm 2011 vốn chủ sở hữu chỉ đạt mức 278,00 triệu đồng, đến năm
2012 tăng lên mức 286,12 triệu đồng tăng 8,12 triệu đồng tương ứng với mức tăng nhẹ
43
là 2,92% so với cùng kỳ năm 2011. Bước sang năm 2013, vốn chủ sở hữu của công ty
tăng mạnh đạt 363,84 triệu đồng tăng 77,72 triệu đồng tương ứng với mức tăng
27,16% so với năm 2012. Tuy vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng việc tăng lên
qua các năm cũng cho thấy doanh nghiệp đang có sự bổ sung vào vốn chủ sở hữu. Vốn
chủ sở hữu cao sẽ đảm bảo khả năng tự chủ, khả năng thanh toán cùa công ty tốt hơn.
Lợi nhuận chưa phân phối: Là nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi
phân bổ cho các quỹ trong công ty. Nguồn lợi nhuận chưa phân phối của công ty
không cao nhưng có chiều hướng tăng lên qua các năm và đặc biệt tăng mạnh nhất
trong năm 2013. Năm 2012, lợi nhuận chưa phân phối của công ty đạt 86,12 triệu đồng
tăng 8,12 triệu đồng tương ứng với mức tăng 10,41% so với năm 2011. Đến năm 2013,
lợi nhuận chưa phân phối của công ty tăng mạnh với tốc độ tăng trưởng đạt 90,25%
tăng lên mức 163,84 triệu đồng so với năm 2012.
2.2.2. Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu phân tích mối quan hệ tài sản – nguồn vốn của công ty (ĐVT: triệu đồng)
Năm
Chênh lệch
Chỉ tiêu
2012/2011
2013/2012
2011
2012
2013
Số tiền %
Số tiền %
Tổng tài sản
8.618,49 13.127,30
17.747,40
4.508,81
52,32 4.620,10 35,19
Nợ phải trả
8.340,48 12.841,16
17.383,52
4.500,68
53,96 4.542,36 35,37
Vốn chủ sở hữu
278,00
286,12
363,84
8,12
2,92
77,72 27,16
Hệ số nợ trên tổng
0,97
0,98
0,98
0,01
1,08
0,00
0,13
tài sản
Hệ số tài sản trên
31,00
45,88
48,78
14,88
47,99
2,90
6,32
vốn chủ sở hữu
( Nguồn: Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất
nhập khẩu Việt Anh)
Nhận xét
Hệ số nợ trên tổng tài sản: của công ty có xu hướng tăng trong năm 2012 và
không đổi trong năm 2013. Cụ thể năm 2012 đạt 0,98 lần tăng 0,01 lần tương ứng với
mức tăng 1,08% so với năm 2011. Đến năm 2013 hệ số nợ trên tổng tài sản của công
44
ty không đổi tại mức 0,98 lần. Năm 2012, hệ số này tăng lên chứng tỏ tài sản của
doanh nghiệp phụ thuộc ngày càng nhiều vào nguồn tài trợ bên ngoài đây cũng là dấu
hiệu cho thấy sự mất độc lập ngày càng gia tăng của công ty TNHH sản xuất thương
mại xuất nhập khẩu trong việc kiểm soát tài sản của mình. Điều này thể hiện rõ ở
khoản mục nợ phải trả của công ty tăng cao do nợ ngắn hạn và phải trả người bán tăng
lên, trong khi đó nguồn vốn chủ sở hữu của công rất thấp và tăng với tốc độ chậm, đã
làm cho khả năng tự chủ về nguồn tài chính của công ty kém
Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu: của công ty có xu hướng gia tăng qua
các năm. Cụ thể, năm 2011 là 31,00 lần, năm 2012 là 45,88 lần tăng 14,88 lần tương
ứng với mức tăng 47,99% so với năm 2011. Bước sang năm 2013, hệ số tài sản trên
vốn chủ sở hữu tiếp tục tăng đến 48,78 lần tương ứng với mức tăng 6,32% so với năm
2012. Điều này chứng tỏ tài sản của doanh nghiệp được ít được tài trợ vững chắc từ
vốn chủ sở hữu do nguồn tài sản của công ty trong năm 2011 gấp 31,00 lần so với
nguồn vốn chủ sở hữu được đem đi tài trợ. Điều này cho thấy có ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động sản xuất kinh doanh vì nguồn vốn tài trợ cho tài sản ngắn hạn chủ yếu là từ
nguồn vốn vay bên ngoài và chiếm dụng từ phía khách hàng và nhà cung cấp, làm tăng
chi phí tài chính của cổng ty từ đó giảm lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp.
2.2.3. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán tốt hay xấu sẽ phản ánh tiềm lực tài chính của công ty
mạnh hay yếu. Thông thường, khả năng thanh toán tốt thể hiện tình hình hoạt động ổn
định hoặc ngược lại, việc mất khả năng thanh toán đồng nghĩa với việc phá sản doanh
nghiệp. Do đó, việc phân tích khả năng thanh toán, đưa ra biện pháp nâng cao khả
năng thanh toán một yêu cầu đối với nhà quản lý tài chính.
45
Bảng 2.5. Chỉ tiêu khả năng thanh toán của công ty trách nhiệm hữu hạn sản
( ĐVT : lần )
xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh
Năm
Chênh lệch
Trung bình
2012/2011
2013/2012
Chỉ tiêu
ngành thương
2011
2012
2013
mại năm
Tương đối
Tuyệt đối
Tương đối
Tuyệt đối
2013
0,98
0,99
0,99
0,01
0,59
0,00
0,00
0,27
Khả năng thanh toán ngắn hạn
0,52
0,50
0,62
-0,02
-4,05
0,12
24,02
1,20
Khả năng thanh toán nhanh bình thường
Khả năng thanh toán
0,22
0,04
0,14
-0,17
-79,69
0,10
220,03
0,72
nhanh
3,23
-
-
-3,23
-100,00
-
-
-
Khả năng thanh toán lãi vay
( Nguồn: Tự tổng hợp)
Nhận xét
Khả năng thanh toán ngắn hạn: Chỉ tiêu này đánh giá khả năng có thể thanh
toán được các khoản nợ ngắn hạn, thể hiện mỗi một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo
bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Tỷ lệ này được tăng lên qua 2 năm 2011 và
2012 với mức tăng là 0,01 lần. Đến năm 2013 thì khả năng thanh toàn ngắn hạn của
công ty không đổi tại mức 0,99 lần. Dù mức tăng thấp trong năm 2012 nhưng cũng
cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty ngày một cải thiện, điều này chứng
tỏ công ty đang có một chu kì kinh doanh khá hiệu quả. Đặc biệt khả năng thanh toán
ngắn hạn của công ty đang gần ở mức 1 cho thấy công ty có khả năng thanh toán khá
tốt trên thị trường và còn cao hơn cả trung bình của ngành thương mại chỉ đạt ở mức
0,27. Điều đó cho thấy so với các công ty thương mại và cùng ngành trên thị trường thì
công ty vẫn được xét là có khả năng thanh toán cao.
Khả năng thanh toán nhanh bình thường: Chỉ tiêu này đo lường khả năng trả
nợ ngắn hạn mà không tính tới các tài sản bị giảm giá hoặc khó bán, thể hiện một đồng
nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Tuy các khoản
thanh toán ngắn hạn tăng nhưng năm 2012 khả năng thanh toán nhanh bình thường bị
46
giảm sút 0,02 lần so với năm 2011 nhưng đã tăng trở lại vào năm 2013. Trong thời
gian này, công ty gặp một chủt khó khăn về việc nhập khẩu máy lọc nên khả năng
thanh toán cũng giảm đồng thời do hàng tồn kho của công ty biến đổi tăng và chiếm tỷ
trọng ngày càng cao trong cơ cấu tài sản. Nếu so sánh khả năng thanh toán nhanh bình
thường của công ty với trung bình của ngành thương mại trên thị trường Việt Nam thì
ta có thể thấy rằng của công ty thấp hơn rất nhiểu so với trung bình ngành đang ở mức
1,20. Điều đó cho thấy công ty so với các công ty cùng lĩnh vực thương mại điều đó
chứng tỏ hệ số khả năng thanh toán nhanh bình thường của công ty chưa đảm bảo an
toàn thanh toán cho công ty. Do đó trong những năm tới, công ty cần phải tiếp tục
nâng dần hệ số này lên bằng cách giảm tỷ trọng hàng tồn kho vì hàng tồn kho được coi
là tài sản có tình thanh khoản thấp nên việc hàng tồn kho giảm sẽ làm hệ số khả năng
thanh toán nhanh bình thường tăng lên.
Khả năng thanh toán nhanh: Ta nhận thấy khả năng thanh toán nhanh của
công ty có xu hướng giảm qua các năm. Hệ số này năm 2011 là 0,22 lần, nghĩa là cứ
một đồng nợ ngắn hạn sẽ được đảm bảo bởi 0,22 đồng tiền và các khoản tương đương
tiền. Đến cuối năm 2012 hệ số này giảm về 0,04 lần ở mức rất thấp. Sang đến năm
2013 hệ số có tăng lên 0,14 lần tăng 0,10 lần tương ứng với mức tăng 220,03% so với
năm 2012. Do khả năng thanh toán nhanh bình thường giảm nên các khoản thanh toán
nhanh cũng giảm đi. Dù con số giảm không nhiều nhưng điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn
tới việc mua bán hàng hoá của công ty, khi không có nhiều khả năng thanh toán nhanh
thì công ty sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán luôn dẫn đến việc khó nhận được các
khoản chiết khấu thanh toán từ người bán. So sánh chỉ tiêu với trung bình ngành
thương mại ta có thể thấy rõ rằng công ty đang mất khả năng thanh toán so với trung
bình ngành đang ở mức 0,72. Vì vậy, công ty cần xây dựng một mức dự trữ tiền mặt
hợp lý, ổn định, đề phòng những biến động thất thường có thể xảy ra.
Khả năng thanh toán lãi vay: Là khoản chi phí sử dụng vốn nợ vay mà doanh
nghiệp phải trả cho nhà cung cấp vốn và nguồn trả nợ là từ lợi nhuận trước lãi vay và
thuế. Công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh chỉ phát sinh lãi
vay trong năm 2011, trong năm 2012 và 2013 công ty không thực hiện các khoản vay
ngân hàng. Cụ thể, năm 2011 khả năng thanh toán lãi vay của công ty khá cao đạt 3,23
lần. Điều đó cho thấy mức sinh lợi của đồng vốn mà doanh nghiêp huy động được khá
cao đủ để đảm bảo thanh toán lãi vay đúng hạn.
47
2.2.4. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản
Bảng 2.6. Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản
Năm Chênh lệch
2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu 2011 2012 2013
Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối
Hiệu suất sử dụng 0,92 0,56 0,53 - 0,36 - 38,74 - 0,03 - 5,67 tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng 0,97 0,59 0,55 - 0,39 - 39,75 - 0,04 - 6,52 tài sản ngắn hạn
Hiệu suất sử dụng 17,76 15,66 19,57 - 2,10 - 11,85 3,92 25,03 tài sản dài hạn
( Nguồn: Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của công ty
TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)
Nhận xét
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: Trong giai đoạn năm 2011-2013 hiệu suất sử
dụng tổng tài sản giảm dần qua các năm. Năm 2012 giảm từ 0,92 lần xuống còn 0,56
lần giảm 0,36 lần tương ứng với mức giảm 38,74% so với năm 2011. Đến năm 2013,
hiêu suất sử dụng tổng tài sản giảm xuống còn 0,53 lần giảm tiếp 0,03 tương ứng với
mức giảm nhẹ 5,67% so với năm 2012. Chỉ tiêu này cho biết một đồng tổng tài sản
được sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân giảm là
do doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty có sự tăng giảm nhẹ
năm 2012 tăng 27,53% trong khi đó tổng tài sản tăng rất cao năm 2011 tăng 52,32%,
năm 2012 tăng 35,19% đã khiến cho hiệu suất sử dụng tổng tài sản giảm xuống do
mẫu số tăng quá mạnh. Nhìn tổng thể qua các năm thì hiệu suất sử dụng tổng tài sản là
một chỉ số nhỏ hơn 1, đây là dấu hiệu không tốt, công ty đã không sử dụng tài sản một
cách hợp lý và hiệu quả. Do vậy, công ty cần có những chiến lược khắc phục như đưa
ra các chính sách quản lý hàng lưu kho, thực hiện các chính sách cấp tín dụng hợp lý
để hạn chế việc hàng tồn kho chất đống trong kho và khoản phải thu khách hàng tăng
cao từ đó nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh.
48
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn: Do hiệu suất sử dụng tổng tài sản giảm
xuống lên hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty cũng có xu hướng giảm theo.
Từ năm 2011 đến năm 2012 nếu một đồng tài sản ngắn hạn được sử dụng trong kỳ thì
tạo ra 0,59 đồng doanh thu giảm 0,39 đồng tương ứng với mức giảm 39,75% so với
năm 2011. Nguyên nhân giảm là do tài sản ngắn hạn của công ty tăng mạnh qua các
năm do hàng tồn kho và các khoản phải thu của công ty tăng lên. Trong khi đó, do tình
hình tiêu thụ doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty lại giảm
mạnh do đó hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty giảm dần. Vì vậy, để cải
thiện tình hình hiệu suất sử dụng tổng tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng,
công ty cần đẩy mạnh hoạt động bán hàng và tiêu thụ sản phẩm máy lọc nước của
mình, hạn chế các khoản hàng tồn kho và các khoản phải thu khách hàng trong thời
gian tới bằng các mô hình quản lý hàng tồn kho, quản lý các khoản phải thu theo mô
hình EOQ.
Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn: Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, các
tài sản dài hạn tạo ra được bao nhiều đồng doanh thu thuần. Năm 2011 là 0,1776 đồng,
đến năm 2012 chỉ còn 0,1566 đồng giảm 0,0210 đồng tương ứng với mức giảm
11,85%. Chỉ tiêu này giảm xuống trong năm 2012 là do tài sản dài hạn có sự đầu tư
thêm trong khi doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty giảm
mạnh. Đến năm 2013, hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn của công ty tăng lên 0,1957
đồng tăng 0,0392 đồng tương ứng với mức tăng 25,03%. Nguyên nhân là do trong
năm 2013 doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty tăng cao làm
cho lợi nhuận ròng của công ty tăng lên, tình hình sản xuất kinh doanh được cải thiện
đáng kể đã đẩy cho hiệu suất sinh lời của tổng tài sản tăng cao. Điều đó cho thấy trong
năm 2013 công ty đã có sự chú trọng trong công tác quản lý tài sản dài hạn để tăng
mức sinh lời của nó. Tuy nhiên công ty cũng cần nên cân nhắc rà soát lại công suất sử
dụng của tài sản cố định để tăng vòng quay của vốn cố định, tăng hiệu quả sản xuất
kinh doanh cho công ty cụ thể: Những tài sản nào quá cũ kỹ và lạc hậu công ty có thể
bán thanh lý, những tài sản nào công ty sử dụng với hiệu suất thấp có thể cho thuê để
tăng thêm thu nhập và tăng công suất sử dụng của máy móc giúp hiệu quả sử dụng tài
sản dài hạn tăng hơn nữa.
49
2.2.5. Phân tích một số chỉ tiêu đánh giá các bộ phân cấu thành tổng tài sản
Bảng 2.7. chỉ tiêu đánh giá các bộ phân cấu thành tổng tài sản
(ĐVT: Vòng)
Năm Chênh lệch
2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu 2011 2012 2013
Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối
Vòng quay hàng tồn kho 0,92 0,56 0,53 -0,36 -38,74 -0,03 -5,67
0,97 0,59 0,55 -0,39 -39,75 -0,04 -6,52 Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay tiền 17,76 15,66 19,57 -2,10 -11,85 3,92 25,03
( Nguồn: Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)
Nhận xét
Vòng quay hàng tồn kho: của công ty rất thấp lại có xu hướng giảm xuống.
Năm 2012 chỉ đạt 0,56 vòng giảm 0,36 vòng tương ứng với mức giảm 38,74% so với
năm 2011. Đến năm 2013, vòng quay hàng tồn kho tiếp tục giảm chỉ còn 0,53 vòng
giảm 0,03 vòng tương ứng với mức giảm 5,67% so với năm 2012. Cả ba năm có xu
hướng giảm như vậy là do sự thu hẹp của thị trường do suy thoái đồng thời công ty
hiện đang gặp khó khăn về nguồn vốn huy động, nợ phải thu tăng cao trong khi khả
năng vay nợ và khả năng tài chính của chủ đầu tư bị hạn chế khiến công ty không có
vốn. Đã khiến hàng lưu kho của công ty ứ đọng, tăng cao khiến tốc độ luân chuyển của
hàng lưu kho giảm đi. Trong thời gian tới công ty nên áp dụng các chính sách quản lý
hàng lưu kho theo mô hình EOQ để có thể xác định được lợi ích đạt được và chi phí bỏ
ra đối với việc lưu kho hàng hóa nhiều hay ít.
Vòng quay các khoản phải thu: nhìn chung cả ba năm hệ số vòng quay các
khoản phải thu của công ty đều giảm và nhỏ hơn mức 1. Cụ thể năm 2011 là 0,97
vòng, năm 2012 là 0,59 vòng giảm 0,39 vòng tương ứng với mức giảm 39,75% so với
năm 2011. Đến năm 2013 tiếp tục giảm xuống mức 0,55 vòng giản 0,04 vòng tương
ứng với mức giảm 6,52% so với năm 2012. Điều đó thể hiện các khoản phải thu của
công ty rất cao đa làm chậm lại vòng quay của các khoản phải thu và chiếm tỷ trọng
50
rất cao trong tổng tài sản của công ty. Công ty đang bị khách hàng chiếm dụng vốn lớn
vì vậy, trong tương lai công ty cần cân nhắc chính sách quản lý các khoản phải thu để
giảm tỷ trọng khoản phải thu, giảm chi phí quản lý nợ, nhưng cũng vẫn cho khách
hàng nợ ở mức nhất định trong điều khoản cho phép như 3/10 net 30 để tránh việc
công ty bị khách hàng chiếm dụng vốn quá nhiều dẫn tới việc thiếu vốn kinh doanh và
áp lực rủi ro nợ khó đòi.
2.2.6. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Bảng 2.8.Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của công ty trách nhiệm hữu hạn
sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh
( ĐVT : % )
Năm
Chênh lệch
Trung bình
2012/2011
2013/2012
Chỉ tiêu
ngành thương
2011
2012
2013
mại năm
Tuyệt đối
Tương đối
Tuyệt đối
Tương đối
2013 (%)
Tỷ suất sinh lời trên
0,25
0,11
0,82
-0,14
-56,32
0,71 651,42
1
doanh thu
0,23
0,06
0,44
-0,17
-0,73
0,38 608,85
1
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Tỷ suất sinh lời trên
7,16
2,83
21,36
- 4,32
-0,60
18,53 653,62
3
vốn chủ sở hữu
( Nguồn: Bảng cân đối kết toán và báo cáo kết quả kinh doanh của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)
Nhận xét
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu: Năm 2012 tỷ suất lợi nhuận ròng trên doanh
thu thuần là 0,11% tức là cứ 1 đồng doanh thu nhận được sẽ tạo ra được 0,0011 đồng
lợi nhuận giảm 0,0014 đồng so với năm 2011 tương ứng với mức giảm 56,32%. Đến
năm 2013, cứ 1 đồng doanh thu nhận được sẽ tạo ra được 0,0082 đồng lợi nhuận ròng.
Nhận thấy trong cả 3 năm thì tỷ suất sinh lời trên doanh thi đều thấp và thấp nhất vào
năm 2012, điều đó cho thấy hiệu quả kinh doanh của công ty thấp. Sự sụt giảm vào
năm 2012 này là do tốc độ giảm của lợi nhuận ròng trong năm 2012 do chi phí của
doanh nghiệp tăng cao trong khi thị trường tiêu thụ giảm do trong tình trang suy thoái,
tăng trường kinh tế trong năm giảm khiến cho các hoạt động sản xuất và đầu tư của
51
doanh nghiệp giảm từ đó làm giảm tỷ suất sinh lời trên doanh thu của doanh nghiệp.
Đặc biệt nếu đem so sánh với trung bình ngành thương mại để có cái nhìn tổng quát
hơn về tỷ suất sinh lời trên doanh thu của công ty ta có thấy rõ ràng là công ty có tỷ
suất sinh lời thấp hơn rất nhiều so với trung bình ngành với mức là 0,18. Điều đó
chứng tỏ công ty cần phải có sự cố gắng rất nhiều trong việc tăng doanh thu cũng như
lợi nhuận sau thuế của mình.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản: Trong năm 2012 tỷ suất là 0,06% được hiểu
là cứ 1 đồng đầu tư cho tài sản tạo ra được 0,0006 đồng lợi nhuận. Tương tự năm 2011
là 0,0023 đồng lợi nhuận trên 1 đồng đầu tư vào tài sản. Năm 2012 giảm 0,17% so với
năm 2011 do lợi nhuận sụt giảm với tốc độ cao hơn ở tử số trong khi mẫu số kà tổng
tài sản của công ty lại tăng cao đã làm cho tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của công ty
giảm xuống. Chỉ tiêu ở cả 2 năm đều ở mức thấp nên việc đẩy nhanh phát triển sản
xuất là điều đáng được quan tâm trong những năm tới. Đến năm 2013, tỷ suất sinh lời
trên tổng tài sản được tăng lên đến 0,0044 đồng nếu dùng 1 đồng tài sản được đưa vào
sử dụng. Đây là một tín hiệu tốt trong năm 2013 vì chỉ tiêu này tăng thể hiện sức sinh
lợi của kinh tế của tài sản càng cao, hiệu quả kinh doanh cao. Tuy tỷ suất sinh lời của
công ty không cao nhưng đến năm 2013 đã có sự tăng mạnh đạt 0,0044 đồng tăng
0,0038 đồng tương ứng với mức tăng 608,85% , điều đó cho thấy trong những năm tới
công ty sẽ có sự đột phá trong việc sinh lời của tài sản. Nhưng cần phải vượt qua được
mức trung bình của ngành thương mại là 1%, có nghĩa là nếu đem 1 đồng đầu tư vào
tài sản sẽ tạo ra được 0,01 đồng trong năm 2013 đối với tủng bình ngành trong khi
công ty chỉ đạt 0,0044 đồng. Vì vậy, trong thời gian tới để tăng được tỷ suất sinh lời
của tài sản công ty cần có các chính sách quản lý tài sản hợp lý đồng thời đẩy mạnh lợi
nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty.
Tỷ suất sinh lời trên vốn CSH: có thể nói biểu hiện rõ nét và cao độ nhất khả
năng sinh lời của doanh nghiệp là khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu, bởi vì mọi
hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành suy cho cùng cũng là nhằm mục địch nâng cao
hiệu quả vốn đầu tư của chủ sở hữu. Trong năm 2011, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở
hữu đạt 0.0716 đồng, chỉ tiêu này trong năm 2012 giảm 4,32% so với năm 2011. Năm
2012 là 2,83% cho biết cứ 1 đồng nguồn vốn CSH bỏ ra mang lại 0.0283 đồng lợi
nhuận ròng. Có sự sụt giảm trong khả năng sinh lời trên vốn CSH là việc quản lý, và
sử dụng chưa tốt về nguồn vốn cũng như năm 2012 hoạt động chưa hiệu quả như năm
52
2011. Công ty cần có những chính sách phát triển hợp lý để tình hình nguồn vốn được
cải thiện hơn. Điển hình là sang đến năm 2013, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đã
tăng mạnh lên 0,2136 đồng nếu đem 1 đồng nguồn vốn chủ sở hữu được sử dụng đầu
tư. Điều đó cho thấy, trong năm 2013 công ty đã có những biện pháp sử dụng nguồn
vốn phù hợp đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nhưng so với trung bình ngành thương mại
thì công ty cần phải có các chính sách cố gắng hơn nữa vì xét với trung bình ngành
công ty vẫn đang ở mức thấp hơn mức 0,03.
2.2.7. Phân tích khả năng sinh lời theo Dupont
Mục đích cảu mô hình Dupont là phân tích khả năng sinh lời của một đồng tài
sản mà doanh nghiệp sử dụng dưới sự ảnh hưởng cụ thể của những bộ phận tài sản, chi
phí, doanh thu nào. Thông qua phân tích, giúp cho các nhà quản trị đưa ra các quyết
định nhằm đạt được khả năng lợi nhuận mong muốn.
Lợi nhuận thuần Lợi nhuận thuần Doanh thu thuần Tỷ suất sinh lời = x = của tài sản (ROA) Tổng tài sản Doanh thu thuần Tổng tài sản
Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS)
= X Số vòng quay của tài sản (SOA)
Bảng 2.9. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh thông qua mô hình tài chính Dupont
(ĐVT: đồng)
Năm Chênh lệch
2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu 2011 2012 2013
Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối
0,92 0,56 0,53 -0,36 -38,74 - 0,03 - 5,67 Số vòng quay của tài sản (SOA)
0,25 0,11 0,82 -0,14 -56,32 0,71 651,42 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
0,23 0,06 0,43 -0,17 -73,22 0,37 85,83 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
( Nguồn: Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)
53
Nhận xét
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): phân tích qua mô hình Dupont cho thấy
ROA của công ty có sự tăng giảm không đồng đều qua các năm. Năm 2011 là 0,0023
đồng lợi nhuận ròng nếu đem một đồng tài sản vào hoạt động. Đến năm 2012 tỷ suất
này giảm xuống mức rất thấp chỉ còn 0,0006 đồng giảm 0,0017 đồng tương ứng với
mức giảm 73,22 so với năm 2011. Nguyên nhân giảm trong năm 2012 là do cả hai
nhân tố là số vòng quay của tài sản (SOA) và tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
giảm mạnh. Đến năm 2013, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản tăng mạnh đến mức
0,0043 đồng tăng 0,0037 đồng tương ứng với mức tăng 85,83% so với năm 2012.
Nguyên nhân tăng là do ảnh hưởng của hai nhân tố:
- Tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần năm 2013 tăng so với năm 2012 tới
651,42%, chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh thương mại trong năm 2013 đạt mức
khá tốt đồng thời chứng tỏ thêm khả nămg kiểm soát chi phí của công ty khá ổn định.
- Số vòng quay của tài sản giảm nhưng mức giảm rất thấp, hầu như ít ảnh hưởng
đến khả năng sinh lời của tổng tài sản chỉ ở mức giảm 5,67% so với năm 2012. Tuy
nhiên công ty cũng lên chú ý vào sức sản xuất của tài sản trong những năm tiếp tiếp
theo vì đây chính là một nhân tố tích cực có thể giúp nhà quản trị tăng ROA nhanh.
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn sản
xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh thông qua mô hình tài chính Dupont
Sau khi dựa vào mô hình tài chính chi tiết trên để nghiên cứu, xem xét các nhân
tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của tài sản ( ROE)
Tỷ suất sinh lời của Lợi nhuận ròng Doanh thu Tổng tài sản
VCSH (ROE) = x x
Doanh thu Tổng tài sản Vố chủ sở hữu
Tỷ suất sinh lời của Tỷ suất sinh lời của Số vòng quay của Hệ số tài sản so = x x VCSH (ROE) doanh thu (ROS) tài sản (SOA) với VCSH (AOE)
54
Bảng 2.10. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu thông qua mô hình tài chính dupont
(ĐVT: đồng)
Năm Chênh lệch
2012/2011 2013/2012 Chỉ tiêu 2011 2012 2013
Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối
Tỷ suất sinh lời trên 0,25 0,11 0,82 -0,14 -56,32 0,71 651,42 doanh thu (ROS)
Số vòng quay của tài 0,92 0,56 0,53 -0,36 -38,74 0,03 5,67 sản (SOA)
Hệ số tài sản so với 31,00 45,88 48,78 14,88 47,99 2,90 5,94 vốn chủ sở hữu (AOE)
Tỷ suất sinh lời trên vốn 7,16 2,83 21,36 - 4,32 -60,00 18,53 653,62 chủ sở hữu (ROE)
( Nguồn: Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh)
Biểu đồ 2.3. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Nhận xét
Nhìn vào trên ta thấy muốn nâng cao khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu có thể
tác động vào ba nhân tố: hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu (đòn bẩy tài chính), số
vòng quay của tài sản và tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần. Tỷ suất sinh lời trên vốn
55
chủ sở hữu của công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh có sự
biến động không đồng đều, giảm trong năm 2012 nhưng tăng mạnh trong năm 2013.
Cụ thể, năm 2011 ROE đạt 0,0716 đồng nếu đem 1 đồng vốn chủ sở hữu vào hoạt
động sản xuất thương mại, đến năm 2012 ROE giảm xuống chỉ còn 0,0283 đồng giảm
0,0432 đồng tương ứng với mức giảm 60,00% so với năm 2011. Nguyên nhân giảm
thứ nhất là do tỷ suất sinh lời trên doanh thu giảm. Nguyên nhân thứ hai là do số vòng
quay của tài sản cũng giảm mạnh do lợi nhuận sau thuế của công ty trong năm 2012
đạt mức rất thấp trong khi tài sản được đưa vào đầu tư tăng lên. Mặc dù hệ số tài sản
so với vốn chủ sở hữu tăng lên nhưng mức tăng thấp hơn so với mức giảm của ROS và
SOA của công ty. Đến năm 2013, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tăng mạnh đạt
0,2136 đồng nếu đem 1 đồng VCSH đầu tư. Điều đó chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn
chủ sở hữu đã nâng cao. Việc tăng đó là do ba nhân tố:
- Tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần năm 2013 tăng cao so với năm 2012 từ
0,11 lên tới 0,82 tăng 651,42%. Chứng tỏ công ty đã mở rộng thị phần, kiểm soát chi
phí tốt, đây là nhân tố tích cực cần phát huy.
- Số vòng quay của tài sản (SOA) giảm nhẹ nhưng mức giảm rất thấp lên ít ảnh
hưởng đến tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu chỉ giảm mức 5,67% so với năm 2012
- Đòn bẩy tài chính năm 2013 tăng từ 45,88 lên 48,78 tương ứng với mức tăng
5,94% so với năm 2012. Điều đó chứng tỏ doanh nghiệp đã có sự gia tăng nguồn vốn
vay trong năm 2013 để đầu tư vào tài sản khi đó làm cho độ lớn của đòn bẩy tài chính
cao, đã giúp cho ROE tăng lên.
- Từ ba nhân tố trên đã làm tăng ROE trong năm 2013 lên mức cao hơn đạt 21,36
so với năm 2011 là 7,16 và 2012 chỉ đạt 2,83. Điều đó chứng tỏ trong năm 2013 doanh
nghiệp sử dụng tài sản tốt hơn đem lại lợi suất cao hơn so với các năm trước.
2.4. Đánh giá tình hình tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất
thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh
Có thể nhận xét tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty tốt lên vào năm 2011 nhưng sau đó lại có dấu hiệu xấu đi trong năm 2012 và năm
2013 lại tốt trở lại. Qua thời gian đi sâu tìm hiểu thực tế hoạt động tài chính (năm 2011-2013) tại công ty, tôi xin rút ra một số nhận xét khái quát chung về tình hình tài chính của công ty trong giai đoạn 2011-2013 như sau:
56
2.4.1. Kết quả đạt được
Hơn 10 năm là một khoảng thời gian dài đối với sự phát triển của một công ty.
Nhưng bằng sự quyết tâm, nỗ lực không ngừng của mỗi thành viên cũng như sự đoàn
kết, đồng lòng trong nội bộ mà công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu
Việt Anh đã tự khẳng định được vai trò và vị thế của mình trên thị trường máy lọc
nước. Điều này được thể hiện khá rõ qua số lượng đơn đặt hàng ngày càng nhiều, quy
mô công ty ngày càng lớn mạnh, công ty ngày một khang trang và to đẹp hơn.
Song song với sự phát triển và mở rộng về quy mô sản xuất thì việc coi trọng
chữ tín, không ngừng đổi mới và hoàn thiện nhằm nâng cao công tác quản lý sao cho
phù hợp với sự thay đổi của nên kinh tế thị trường luôn là bí quyết tạo nên sự thành
công của công ty.
Trong sự thành công này của công ty không thể không kể đến sự đóng góp rất
lớn của công tác lập và phân tích tình hình tài chính trong công ty. Đó chính là tiền đề
quan trọng giúp Ban giám đốc hiểu rõ những điểm mạnh – điểm yếu của công ty, từ đó
vạch ra những có những quyết sách trong việc vận hành bộ máy của công ty.
Nhìn chung việc sắp xếp, bố trí nhân sự tại Phòng Kế toán của công ty là tương
đối tốt, đội ngũ kế toán của công ty có đầy đủ năng lực, kinh nghiệm và làm việc với
tinh thần trách nhiệm cao. Phần mềm kế toán mà công ty đang áp dụng khá hoàn thiện
và Công ty đã vượt lên sự khó khăn của nền kinh tế khi mà hàng loạt các doanh nghiệp
phải đóng cửa. Lợi nhuận của công ty trong giai đoạn 2011-2013 vẫn ở mức thấp
nhưng có sự tăng trưởng trong năm 2013 tăng 858,32% so với năm 2012. Điều đó cho
thấy công ty đang có hướng đi đúng đắn gia tăng lợi nhuận của mình.
Công ty có xu hướng không ngừng mở rộng quy mô kinh doanh, thể hiện ở
tổng tài sản và tổng nguồn vốn tăng cao qua các năm, trong năm 2012 tăng 52,32% so
với năm 2011 và năm 2013 tăng 35,19% so với năm 2012. Tổng tài sản tăng lên chủ
yếu do tà sản ngắn hạn tăng. Tổng nguồn vốn tăng lên chủ yếu do công ty tăng cường
sử dụng nợ phải trả tăng cao.
Bộ máy quản lý của công ty ngày càng hoàn thiện với 4 cấp và bộ phân ban
giảm đốc được sự tham mưu của các phòng ban chức năng, đáp ứng kịp thời các thông
tin số liệu từ cấp dưới cho tới cấp lãnh đạo cao nhất của công ty. Các chính sách đãi
ngộ, lương thưởng được công ty hết sức chú trọng, tạo niềm tin cho cán bộ công nhân
viên an tâm công tác, phát huy hết năng lực sẵn có.
57
Tỷ suất sinh lời tài sản dài hạn ở mức cao. Nhưng trong những năm gần đây hệ
số này đang tăng lên trong năm 2013 đạt 19,57% điều này chứng tỏ rằng hiệu quả sử
dụng tài sản dài hạn của công ty ngày càng tốt hơn điều này cho thấy công ty đã có sự
chú trọng trong công tác quản lý tài sản dài hạn để gia tăng mức sinh lợi của nó
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của công ty luôn ở mức cao điều đó cho thấy
công ty sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu hợp lý đem lại hiệu quả kinh tế cao. Điển hình
là sang đến năm 2013, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đã tăng mạnh lên 0,2136
đồng nếu đem 1 đồng nguồn vốn chủ sở hữu được sử dụng đầu tư. Điều đó cho thấy,
trong năm 2013 công ty đã có những biện pháp sử dụng nguồn vốn phù hợp đem lại
hiệu quả kinh tế cao. Nhưng so với trung bình ngành thương mại thì công ty cần phải
có các chính sách cố gắng hơn nữa vì xét với trung bình ngành công ty vẫn đang ở
mức thấp hơn mức 0,03.
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân
Tuy hoạt động kinh doanh mang lại hiệu quả và có xu hướng tăng dần nhưng
hiệu quả kinh doanh vẫn còn thấp, việc quản lý chi phí bán hàng chưa tốt nên tổng chi
phí vẫn còn cao, cơ cấu vốn và nguồn vốn vẫn chưa hợp lý, số tài sản mà công ty đầu
tương ứng lớn hơn vốn chủ sở hữu mà công ty huy động cho nên công ty phải đi vay
và chiếm dụng vốn từ bên ngoài.
Hàng tồn kho tăng cao gây ứ đọng hàng hóa trong kho với mức tăng qua các
năm ngày càng cao. Đồng thời các khoản phải thu của công ty cũng tăng lên qua
các năm cụ thể năm 2012 đã tăng 131,66% so với năm 2011 và năm 2013 tăng
42,12 so với năm 2012 điều này đã gây khó khăn cho việc thanh toán các khoản nợ,
nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm công ty mất khả năng thanh toán ngay các khoản
nợ ngắn hạn và khi nhu cầu vốn lưu động tăng cao công ty sẽ gặp khó khăn trong
vấn đề huy động vốn.
Tình hình thanh toán nợ của công ty vẫn ở mức thấp trong 2 năm 2012 và 2013.
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, thanh toán nhanh còn kém ở mức rất thấp đặc biệt
là năm 2012 chỉ đạt 0,04 lần. Mặc dù bước sang năm 2013 tất cả các chỉ tiêu thanh
toán của công ty đã có xu hướng tăng nhẹ nhưng nếu so sánh với trung bình ngành
thương mại thì có thể thấy rằng vẫn ở mức thấp hơn.
Những hạn chế trên là do việc quản lý vấn đề tài chính của công ty c̣n chưa tốt.
Để phát triển kinh doanh công ty phải vay mượn để tài trợ cho hoạt động của mình
nhưng việc huy động lại mất cân đối dẫn đến khả năng thanh toán ngắn hạn của công
ty gặp khó khăn.
58
Về cơ cấu nguồn vốn: Công ty đã tích cực huy động nhiều nguồn vốn để bổ
sung vốn kinh doanh trong điều kiện vốn chủ sở hữu còn hạn hẹp như: chiếm dụng
vốn của nhà cung cấp, vay ngắn hạn.. Tuy nhiên công ty chưa đa dạng hóa được các
kênh huy động vốn khác ví dụ như thuê tài chính, vay dài hạn.... Hơn nữa, hệ số nợ
của công ty còn quá cao và chưa thấy xu hướng giảm xuống và chủ yếu trong nguồn
vốn nợ là nguồn vốn ngắn hạn. Như vậy, nguồn vốn của công ty chủ yếu được hình
thành từ nguồn tài trợ bên ngoài và vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ
trong tổng nguồn vốn do đó áp lực thanh toán cao, công ty thường xuyên phải đối mặt
với các khoản nợ đến hạn. Việc vay nợ nhiều cũng làm cho chi phí lãi vay của công ty
cao hơn và gây khó khăn nhất định trong việc huy động thêm vốn trong thời gian tới...
Mặt khác với vốn chủ hữu nhỏ đã làm giảm đi tính tự chủ trong việc tổ chức nguồn
vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh cho
công ty. Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do thực tế công ty chưa niêm yết
trên thị trường chứng khoán nên khó tăng vốn chủ sở hữu được và huy động vốn vay
dài hạn bằng cách phát hành trái phiếu.
Về cơ cấu tài sản: Hiện nay tài sản ngắn hạn đang chiếm tỷ trọng chủ yếu trên
90%, trong khi tài sản cố định chưa được đầu tư đúng mức. Tài sản ngắn hạn luôn
chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong tổng tài sản, trong đó chủ yếu là hai khoản phải
thu của khách hàng và hàng tồn kho. Cơ cấu về tài sản của công ty chưa hợp lý luôn ở
mức cao như vậy công ty cần giảm tỷ trọng đầu tư vào tài sản ngắn hạn và tăng đầu tư
vào tài sản dài hạn vì nguồn vốn ngắn hạn quá cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh
toán cũng như tính tự chủ của công ty.
Về quản lý khoản phải thu: Chiếm tỷ trọng chủ yếu trong các khoản phải thu là
khoản phải thu khách hàng. Trong những năm qua, khoản phải thu khách hàng của
công ty có xu hướng tăng, mặt khác lại chiếm tỷ trọng rất lớn. Điều này tác động xấu
tới công ty, giảm khả năng thanh toán, mất cân đối tài chính hoặc nếu không quản lý
tốt có thể chuyển thành nợ quá hạn khó đòi, nguy cơ tổn thất vốn rất cao.
Về khả năng thanh toán: Quản lý khả năng thanh toán kém, mất cân đối giữa
doanh thu và chi phí cùng hiệu suất hoạt động không cao dẫn đến hiệu quả hoạt động
kinh doanh của công ty giảm dần và so với các doanh nghiệp cùng ngành ở mức thấp
nguyên nhân là do các khoản hàng tồn kho và các khoản phải thu quá cao lại tăng dần
qua các năm.
59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Qua những phân tích, đánh giá trên cho thấy quy mô và hiệu quả hoạt động của
công ty đã có cải thiện, tuy nhiên còn tồn tại một số hạn chế. Dù gặp không ít khó
khăn xuất phát từ thị trường nhiều biến động, nhưng với sự nỗ lực của tập thể cán bộ
công nhân viên công ty, công ty vẫn duy trì, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong chương 2, đề tài đã phân tích, đánh giá và làm rõ tình hình tài chính cũng
như kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Từ đó rút ra những thành tích đạt được
và hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó, làm cơ sở đề ra một số
biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty trong thời gian tới.
60
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI
XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT ANH
3.1 Định hướng phát triển của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại
xuất nhập khẩu Việt Anh
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt ở cả trong và ngoài nước như hiện nay, để
đứng vững và phát triển mỗi doanh nghiệp phải tự tìm cho mình một hướng đi phù hợp
trong từng giai đoạn dựa trên tình hình thực tế của mỗi doanh nghiệp cũng như ảnh
hưởng của môi trường vĩ mô và tình hình kinh tế thế giới.
Công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh là một doanh
nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh luôn hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
và tối thiểu hóa chi phí mà vẫn đảm bảo đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp.
Để mục tiêu của công ty đạt hiệu quả cao nhất thì cần phải xác định phương hướng
sử dụng các nguồn lực sẵn có sao cho tốt nhất. Sau đây là một số chiến lược phát
triển dài hạn của công ty. Công ty có những định hướng hoạt động cho mục tiêu
của mấy năm sau như sau:
Giữ vững và phát triển thị trường, tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
Công ty đẩy mạnh mục tiêu xây dựng và chiếm lĩnh thị trường: xây dựng thêm
các cửa hàng trên các địa điểm thuận lợi không chỉ cho công ty mà cho cả khách hàng,
giảm bớt tiền công vận chuyển cho khách hàng, giúp thỏa mãn tối đa nhu cầu của
khách hàng.
Tăng cường công tác quản lý, hoàn thiện bộ máy quản lý điều hành, lập thêm
phòng quản lý sản xuất, xuất nhập khẩu để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
công ty.
Nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp tục đầu tư vào dây chuyền sản xuất của công
ty, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bởi nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng để
làm nên được thành công và tạo ra vị thế của công ty trên thương trường.
Với mong muốn cung cấp cho khách hàng những sản phẩm chất lượng cao phù
hợp với thị hiếu của khách hàng. Công ty chủ trương định hướng phát triển hoạt động
tiêu thụ sản phẩm theo ba hướng: Tuyển chọn, xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ
nhân viên thực sự có năng lực, có khả năng nắm bắt thị trường, lựa chọn các sản phẩm
61
chất lượng và quan trọng nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ kĩ thuật có kinh nghiệm cao
đáp ứng tốt dịch vụ trước và sau bán hàng của công ty đối với khách hàng.
Tăng thị phần của công ty lên 0.5% thị trường miền Bắc hay đòi hỏi mỗi năm
số đại lý cần phải tăng lên 2 đại lý và duy trì được lượng khách hàng bán lẻ trực
tiếp qua công ty như hiện nay. Giữ vững mối quan hệ tốt với các đại lý: Hiện tại các
đại lý của công ty hoạt động tương đối có hiệu quả, chính vì vậy càng cần phải củng
cố mối quan hệ với các đại lý này thông qua việc điều chỉnh, cập nhật hàng tháng các
chính sách giá, chính sách chiết khấu, chính sách khuyến mại và hỗ trợ từ phía công
ty cho các đại lý. Trong kinh tế thị trường cạnh tranh là một việc không thể tránh
khỏi, việc tạo ra được các mối quan hệ tốt với các đại lý sẽ là một lợi thế lớn
cho công ty trong việc cạnh tranh. Khi quy mô của các đối thủ cạnh tranh được
mở rộng , tất yếu họ sẽ tìm cách mở rộng hệ thống kênh phân phối và các đại lý
của công ty chắc chắn sẽ là một trong những mục tiêu để họ lôi kéo. Vì vậy
việc giữ vững mối quan hệ tốt với các đại lý là hết sức quan trọng.
Lựa chọn kỹ lưỡng, tiến tới hợp tác toàn diện với các nhà sản xuất hàng đầu
trên thế giới nhằm mang đến cho khách hàng những sản phẩm chính hãng và nhiều
chủng loại hàng hóa khác nhau. Mở rộng hệ thống các đại lý đến tận các tỉnh thành
đồng thời thu hút những khách hàng lớn như là bệnh viện, trường học...
Công ty cần ban hành các quy chế cụ thể về tài chính: Quy chế này cần được
xây dựng trên quy chế tài chính của Bộ công thương, có tính đến những đặc thù riêng
của công ty. Đối với tài chính công ty cần có những chiến lược sử dụng tài sản và
nguồn vốn hợp lý và cân đối, đáp ứng tối đa nhu cầu phát triển hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty. Đối với nhà xưởng, văn phòng…công ty chỉ rõ quyền, trách
nhiệm rõ ràng trong việc sử dụng tài sản cố định. Việc phân quyền quyết định sử dụng
tài sản ngắn hạn và dài hạn sẽ tạo điều kiện cho mỗi bộ phận hoạt động linh hoạt
hơn.Và nâng cao trách nhiệm trong việc bảo vệ tài sản hơn.
3.2. Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty trách nhiệm
hữu hạn sản xuất thương mại Việt Anh
Trên đây, ta đã phân tích từng nét chung, riêng tình hình tài chính của công ty
TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh. Từ sự phân tích đó, phần nào
thấy được mặt tích cực và hạn chế còn tồn tại. Đối với những mặt tích cực, doanh
62
nghiệp nên tiếp tục phát huy hơn nữa, còn những mặt còn hạn chế nên phấn đấu tìm
biện pháp khắc phục.
Trong những mặt hạn chế tại doanh nghiệp, có những vấn đề thuộc về những
nguyên nhân khách quan mà mọi doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường
đều gặp phải: sự cạnh tranh khốc liệt cả trong và ngoài nước khiến hoạt đông kinh
doanh ngày càng khó khăn; chính sách chế độ của Nhà nước trong các lĩnh vực; những
thay đổi trong quan điểm của người tiêu dùng. Những mặt khách quan này đòi hỏi
doanh nghiệp phải linh động, uyển chuyển để thích nghi và khắc phục, chính những
điều đó sẽ giúp gạn lọc những doanh nghiệp có khả năng thích nghi thì tồn tại, nếu
không sẽ bị phá sản.
Để tồn tại đã khó, để đứng vững càng khó khăn hơn. Lúc này, vấn đề của
doanh nghiệp là khắc phục những khó khăn chủ quan phát sinh trong nội bộ doanh
nghiệp. Những khó khăn này là cản trở trên con đường phát triển của doanh nghiệp.
Từ những nhận định đó, cộng thêm sự hiểu biết về tình hình thực tế doanh
nghiệp, em mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị với mong muốn đóng góp phần nhỏ bé
vào sự phát triển chung của cả doanh nghiệp.
3.2.1. Tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu, giảm tỷ trọng các khoản nợ
Trong 3 năm qua nợ phải trả luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn.
Nguyên nhân là do hiệu quả kinh doanh thấp, lợi nhuận làm ra ít nên vốn dùng để bổ
sung ít, trong khi nhu cầu lại tăng cao, hệ quả là doanh nghiệp phải đi vay bên ngoài
hoặc đi chiếm dụng của các đối tượng khác. Do đó công ty cần chú ý gia tăng tỷ lệ vốn
tự có bằng cách tăng quỹ phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện khả năng thanh toán.
Công ty nên lập kế hoạch nguồn vốn lưu động để so sánh nguồn vốn hiện có với số
vốn thường xuyên cần thiết tối thiểu để xem vốn lưu động thừa hay thiếu nhằm xử lý
số thừa, tổ chức huy động nguồn đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh bằng
cách huy động các nguồn vốn dư thừa của các cán bộ công nhân viên trong công ty
đây là một nguồn có chi phí lãi thấp để mở rộng sản xuất kinh doanh, góp vốn liên
doanh... Nếu thiếu phải tìm nguồn tài trợ, trước hết là nguồn bên trong (quỹ phát triển
sản xuất kinh doanh...) Những bất lợi từ sự sụt giảm của kinh tế thế giới, đã tác động
không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động trong
công ty. Mặc dù thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm giảm
thiểu do tác động xấu của nền kinh tế thế giới đối với nền kinh tế trong nước, như kiềm
63
chế lạm phát, hạn chế nhập siêu, điều chỉnh lãi suất…đã có tác dụng, nhưng khó khăn
vẫn đang hiện hữu đối với nền kinh tế thể hiện tốc độ tăng trưởng GDP giảm, nợ xấu
khó kiểm soát, tăng trưởng tín dụng thấp, số lượng doanh nghiệp đóng cửa và tỷ lệ
hàng tồn kho cao…đối tượng bị tác động nặng nề nhất rơi vào nhóm các doanh nghiệp
nhỏ và vừa ( vốn ít, chủ yếu là nguồn vay từ ngân hàng, sản xuất manh muốn, sức
cạnh tranh thấp, quản trị doanh nghiệp còn nhiều bất cập…) Chính vì vậy công ty cần
gia tăng vốn tự có của công ty nên cao rồi mới tới nguồn bên ngoài (vay ngân hàng,
vay cá nhân...)
3.2.2. Tăng cường quản lý các khoản nợ và phải thu
Đối với các khoản phải thu: Việc các khoản phải thu tăng có thể làm chậm tốc
độ luân chuyển tài sản lưu động, nhưng đôi khi các khoản phải thu tăng cũng sẽ có lợi
cho công ty, vì công ty đã có nhiều khách hàng, bán được sản phẩm, từ đó làm tăng
doanh thu lên. Tuy nhiên, công ty cũng cần có một số biện pháp để có thể giảm bớt các
khoản phải thu như: khi ký hợp đồng với khách hàng, công ty nên đưa vào một số ràng
buộc trong điều khoản thanh toán hoặc một số ưu đãi nếu khách hàng trả tiền sớm như
cho khách hàng hưởng điều khoản 3/10 net 30 để có thể hạn chế các khoản phải thu có
thời hạn quá dài. Thực hiện các chương trình khuyến mại đi kèm, hay giảm giá, cho
hưởng chiết khấu khi mua với số lượng lớn và thực hiện thanh toán luôn. Như vậy vừa
giúp khách hàng sớm thanh toán nợ cho công ty lại vừa là hình thức khuyến mãi giúp
giữ chân khách hàng lại với công ty.
- Đối với khoản tạm ứng cho công nhân viên:
Khoản tạm ứng là một khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người
nhận tạm ứng để thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh hoặc giải quyết một công
việc nào đó đã được phê duyệt. Người nhận tạm ứng phải là công nhân viên chức hoặc
người lao động làm việc tại doanh nghiệp. Đối với người nhận tạm ứng thường xuyên
(thuộc các bộ phận cung ứng vật tư, hành chính quản trị…) phải được giám đốc doanh
nghiệp chỉ định bằng văn bản.
Người nhận tạm ứng (có tư cách cá nhân hay tập thể) phải chịu trách nhiệm với
doanh nghiệp về số đã nhận tạm ứng và chỉ được sử dụng tạm ứng theo đúng mục đích
và nội dung công việc đã được phê duyệt.
Khi hoàn thành, kết thúc công việc được giao, người nhận tạm ứng phải quyết
toán toàn bộ, dứt điểm (theo từng lần, từng khoản) khoản đã tạm ứng trên bảng thanh
64
toán tạm ứng: Số tạm ứng đã nhận, khoản tạm ứng đã sử dụng (kèm theo chứng từ gốc
chứng minh), khoản chênh lệch giữa số đã tạm ứng và số đã sử dụng (nếu có). Khoản
tạm ứng sử dụng không hết phải nộp lại quỹ hoặc tính trừ vào lương của người nhận
tạm ứng.
Kế toán phải mở sổ kế toán chi tiết theo dõi cho từng đối tượng nhận tạm ứng
ghi chép đầy đủ tình hình nhận, thanh toán tạm ứng theo từng lần tạm ứng.
Trong trường hợp thanh toán các khoản tạm ứng không kịp thời, không đầy
đủ… sẽ làm sai lệch kết quả kinh doanh, bởi vì có rất nhiều khoản tạm ứng khi thanh
toán sẽ được phân bổ hoặc hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất, kinh doanh.
Qua tìm hiểu và trực tiếp tham gia đoàn kiểm tra tại một số chi nhánh và cửa
hàng phân phối tôi nhận thấy: Hầu hết các cửa hàng trong hệ thống đã ban hành quy
định về quản lý, thanh toán trong đó có quy định về quản lý, thanh toán các khoản tạm
ứng và tổ chức thực hiện theo đúng quy định. Tuy nhiên, trong quản lý, thanh toán các
khoản tạm ứng vẫn còn có những thiếu sót, cụ thể:
Một là, đối với những người nhận tạm ứng thường xuyên tại một số cửa hàng
chưa có văn bản chỉ định của giám đốc;
Hai là, việc quản lý các khoản tạm ứng đôi lúc chưa được coi trọng đúng mức,
tâm lý coi các khoản tạm ứng là khoản cho mượn dẫn tới tình trạng nhiều khi tạm ứng
không đúng người, số tiền tạm ứng không sát thực tế…
Ba là, một số cửa hàng chưa quy định thời hạn hoàn trả nên không có chế tài xử
phạt người chậm chễ.
Bốn là, một số cửa hàng thực hiện tách rời giữa tạm ứng và thanh toán làm
doanh số thu, chi tiền mặt tăng một cách giả tạo, các bút toán không phản ánh đúng
bản chất, thực tế sử dụng các khoản tạm ứng…Để nâng cao trách nhiệm của người
quản lý tạm ứng và của người nhận tạm ứng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, hạn chế
đến mức thấp nhất tài sản có không sinh lời đồng thời củng cố tính pháp lý cho người
nhận tạm ứng thường xuyên, theo tôi các đơn vị cần làm tốt những nội dung sau:
1. Rà soát lại những người thuộc diện nhận tạm ứng thường xuyên nếu chưa có
quyết định hay văn bản chỉ định của giám đốc phải bổ sung;
2. Quy định chế tài xử phạt cả với người được phân công quản lý cũng như với
người nhận tạm ứng. Trường hợp để tạm ứng quá hạn do lỗi của người được giao quản
lý, hay của người nhận tạm ứng ngoài vấn đề xem xét, đánh giá hiệu quả công tác
người và người nhận tạm ứng còn phải trả lãi đối với khoản tạm ứng theo lãi suất quá
65
hạn cho vay cán bộ công nhân viên.
3. Tổ chức theo dõi quản lý tốt từng khoản tạm ứng, gắn liền giữa tạm ứng và
thanh toán tạm ứng theo quy định đảm bảo phản ánh đúng số tiền mặt thực tế thu, chi
là cơ sở đánh giá đúng năng suất lao động. Hoàn thiện tính pháp lý và nâng cao hiệu
quả sử dụng các khoản tạm ứng góp phần làm minh bạch tình hình tài chính. Nâng cao
hiệu quả sử dụng các khoản tạm ứng là một trong những biện pháp khai thác nội lực vì
mục tiêu an toàn hiệu quản. ông ty cần nhắc nhở nhân viên làm tốt việc hoàn ứng sau
mỗi đợt công tác hoặc mua hàng, nếu chậm trễ sẽ cắt khen thưởng, cắt danh hiệu thi
đua. Đặt ra thời hạn tạm ứng trong phạm vi từ 3-5 ngày sau khi kết thúc thời gian công
tác để đảm bảo công ty có thể theo dõi các khoản tiền này đồng thời hạn chế bị thất
thoát các khoản tạm ứng.
- Đối với các khoản phải trả: theo dõi cụ thể từng khoản nợ ứng với từng chủ
nợ, xác định khoản nào có thể chiếm dụng hợp lý, khoản nào đã đến hạn cần thanh
toán nhằm nâng cao uy tín của doanh nghiệp, tăng sự tin cậy của các bạn hàng. Công
ty cần chú trọng thanh toán các khoản công nợ với ngân sách nhằm thực hiện tốt nghĩa
vụ với Nhà nước.
Để quản lý tốt các khoản này, công ty có thể áp dụng một số biện pháp sau:
Một là: Quy định rõ các nội dung của hợp đồng công ty chuẩn bị ký kết, bao
gồm: giá trị tiền mà khách hàng phải trả trước, thời hạn thanh toán, phương thức
thanh toán, các điều khoản phạt vi phạm hợp đồng….Nếu bên nào vi phạm hợp
đồng thì phải chịu trách nhiệm bồi thường và thực hiện đầy đủ các điều khoản đã
cam kết trong hợp đồng. Các nội dung này phải được phòng kinh tế - kế hoạch
nghiên cứu kỹ lưỡng, đảm bảo cân đối được giữa các yếu tố chi phí, lợi nhuận và
tình hình tài chính của khách hàng.
Hai là: Thực hiện chính sách chiết khấu hợp lý đối với những hợp đồng có giá
trị lớn, các khách hàng thường xuyên, chiết khấu thanh toán đối với các khách hàng
thanh toán tiền sớm. Việc đưa ra ưu đãi cho khách hàng sẽ kích thích khách hàng
thanh toán sớm, giảm bớt thời gian bị chiếm dụng vốn, tăng nhanh vòng quay của
VLĐ cũng như tổng vốn.
Ba là: Theo dõi chặt chẽ các khoản phải thu và lập kế hoạch cụ thể cho việc thu
hồi các khoản phải thu này:
+ Thiết lập một bộ phận chuyên trách về quản lý và theo dõi tất cả các khoản nợ
66
phải thu. Mở sổ theo dõi chi tiết các khoản, đặc biệt là khoản phải thu của khách hàng
và chủ đầu tư. Đồng thời, công ty cũng cần phải tiến hành phân loại nợ phải thu theo
từng đối tượng nợ, khả năng trả nợ, tuổi nợ kết hợp với thời hạn đã thỏa thuận trước đó
để chủ động đôn đốc khách hàng thanh toán cho đúng hạn.
+ Thực hiện chính sách thu tiền linh hoạt, mềm dẻo nhằm mục đích vừa không
làm mất thị trường vừa thu hồi được các khoản nợ khó đòi.
3.2.3. Tăng cường quản lý hàng tồn kho
Hiện tại, công ty chưa áp dụng một mô hình hay phương pháp quản lý việc
cung cấp hay dự trữ máy lọc nước cụ thể nào mà chỉ quản lý theo kinh nghiệm, việc
đặt hàng với khối lượng như thế nào, lượng dự trữ trong kho bao nhiêu chưa được
quản lý một cách khoa học và bài bản. Vì vậy, công ty cần nghiên cứu, lựa chọn
phương pháp quản lý tồn kho một cách thích hợp.
- Công tác mua sắm
Trên cơ sở kế hoạch nhu cầu về máy lọc nước của thị trường, bộ phận vật tư sẽ
nghiên cứu, lựa chọn nhà cung cấp, đàm phán, ký kết hợp đồng, quản lý việc cung cấp
và kiểm tra chất lượng. Yêu cầu trong quá trình mua sắm hàng hóa này là phải tăng
cường quản lý nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng tiêu cực. Với nguồn
cung ứng ngày càng đa dạng, công ty cần luôn cập nhật thông tin về thị trường để lựa
chọn được nguồn cung cấp với chi phí thấp nhất, chất lượng cao nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng tài sản của công ty.
- Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải căn cứ vào sự đánh giá cả thực tế của
hàng hóa là máy lọc nước trên thị trường.
Để hoạt động quản lý hàng tồn kho đạt hiệu quả đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt
chẽ, đồng bộ giữa các bộ phận trọng công ty. Bộ phận lập kế hoạch sử dụng phải sát
với nhu cầu thực tế, xác định lượng dự trữ an toàn, chính xác. Bộ phận cung ứng phải
cung cấp, đúng, đủ và kịp thời đồng thời quản lý chặt chẽ, kiểm kê thường xuyên.
Như vậy, quản lý chặt chẽ việc mua sắm, sử dụng cũng như dự trữ hợp lý hàng
tồn kho sẽ giúp công ty giảm được chi phí tồn kho, tránh tình trạng ứ đọng vốn, góp
phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.
3.2.4. Nâng cao khả năng thanh toán
Chỉ tiêu khả năng thanh toán là chỉ tiêu quan trọng trong phân tích tài chính
67
doanh nghiệp bởi lẽ đó là thước đo cơ bản để đánh giá mức độ rủi ro cũng như an toàn
về mặt tài chính của doanh nghiệp. Qua quá trình phân tích, có thể thấy trong thời gian
qua, công ty phát sinh các khoản nợ quá hạn quá nhiều nên khả năng thanh toán chưa được
đảm bảo. Khả năng thanh toán còn thấp và giảm nhanh. Cụ thể, qua 2 năm 2011-2012,
khả năng thanh toán nhanh của Công ty vào thời điểm cuối năm trung bình là 0,5.
Nguyên nhân của việc khả năng thanh toán của Công ty bị giảm sút là do công tác
quản lý hàng tồn kho còn yếu kém và sử dụng vay nợ không hiệu quả. Do đó, trong
thời gian tới, để cải thiện khả năng thanh toán và giảm thiểu rủi ro tài chính, Công ty
cần đặt trọng tâm quản lý vào các vấn đề sau:
Một là, Chủ động quản lý chặt chẽ hàng tồn kho, cố gắng giảm thiểu tối đa
lượng vốn bị ứ đọng bằng cách nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tính toán mức
dự trữ kho an toàn để tránh tình trạng ứ đọng hàng tồn kho.
Hai là, Dựa trên nhu cầu vốn, hạn chế tối đa các khoản vay ngắn hạn, có thể
xem xét thay thế bằng nguồn vốn chủ dài hạn, vừa đảm bảo chuyển dịch cơ cấu nguồn
vốn theo hướng hợp lý, vừa giảm áp lực thanh toán lãi vay. Bên cạnh đó, công ty cũng
có thể xem xét tranh thủ các mối quan hệ lâu năm với bạn hàng để khai thác các nguồn
vốn vay lãi suất thấp hoặc nguồn vốn chiếm dụng trong thanh toán.
Ngoài ra, công ty cũng cần phải xác định mức dự trữ vốn bằng tiền hợp lý, cân
đối giữa nhu cầu chi tiêu của doanh nghiệp và lượng tiền dự trữ, vừa đảm bảo cho nhu
cầu thanh toán, vừa đảm bảo nguồn để trả các khoản nợ đến hạn.
3.2.5. Thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm tăng doanh thu và lợi nhuận
Doanh thu, lợi nhuận là những mục tiêu cơ bản mà mối doanh nghiệp đều
hướng đến. Trong bối cảnh khó khăn như hiện nay, việc gia tăng lợi nhuận gặp phải rất
nhiều khó khăn. Có thể thấy điều này khi phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của
công ty trong giai đoạn 3 năm vừa qua biến động rất lớn, mặc dù năm 2013 lợi nhuận
sau thuế của công ty tăng cao, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro trong tương lai.
Chính vì thế cần quan tâm đến các biện pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm tăng doanh
thu và lợi nhuận. Trên cơ sở nắm vững nhu cầu thị hiếu khách hàng, doanh nghiệp nên
đa dạng hoá mặt hàng, phát huy những sản phẩm được khách hàng ưa chuộng. Phấn
đấu đáp ứng nhu cầu của khách hàng với giá cả hợp lý và chất lượng đảm bảo. Là
công ty xuất nhập khẩu với sản phẩm chính nhập nguyên chiếc máy lọc từ Hàn Quốc
đồng thời phân phối đi trong và ngoài nước, muốn thúc đẩy việc tiêu thụ và tăng con
68
số doanh thu, công ty cần cân nhắc trong việc đa dạng hóa sản phẩm như nhập thêm
các sản phẩm: máy lọc không khí, máy điều hòa nóng lạnh, máy khử trùng không
khí...với chất lượng tốt, bình ổn ban đầu về giá để thu hút khách hàng và khiến họ có
nhiều sự lựa chọn hơn khi mua hàng, gia tăng cạnh tranh với đối thủ cùng ngành khác.
3.2.6. Tăng cường công tác quảng cáo
Quảng cáo là một trong những công cụ quan trọng nhất của hoạt động chiêu thị.
Do đó để nâng cao hiệu quả kinh doanh máy lọc nước và khẳng định vị trí của công ty
trên thương trường, công ty nên có kế hoạch cho chi phí quảng cáo khoảng 10% trên
doanh thu. Thiết lập một số quảng cáo thật tốt, phù hợp với đặc điểm tình hình của sản
phẩm máy lọc nước, tổ chức khuyến mãi cho khách hàng mua với số lượng lớn để thu
hút khách hàng. Công ty phải xây dựng một đội ngũ marketing có trình độ và nghiệp
vụ cao để tìm hiểu thị trường. Chú ý đến thị hiếu của khách hàng, chú trọng đến thị
trường trong nước chứ không chỉ quan tâm đến thị trường nước ngoài.
Công tác nghiên cứu thị trường là một công tác hết sức khó khăn, phức tạp,
đòi hỏi nghiên cứu phải thật am hiểu sâu sắc, nhìn nhận một cách đúng đắn về thị
trường. Vì vậy, việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường là mục tiêu mà công ty
hướng tới. Hiệu quả của công tác này được nâng cao có nghĩa là công ty càng mở rộng
được nhiều thị trường tiêu thụ sản phẩm góp phần thu được nhiều lợi nhuận, nâng cao
hiệu quả kinh doanh của công ty. Do tầm quan trọng của việc nghiên cứu thị trường
nên trong giai đoạn hiện nay công ty phải xây dựng cho mình một chiến lược cụ thể về
nghiên cứu thị trường.
Công ty hiện tại chưa có phòng riêng biệt đứng ra đảm trách về hoạt động
Marketing, công tác nghiên cứu thị trường chưa mang tính hệ thống. Vì vậy, biện pháp
thành lập phòng Marketing, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường là vấn đề cần
thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm mở rộng thị trường
của công ty. Đối với biện pháp này công ty phải thành lập phòng Marketing trước sau
đó xây dựng các chiến lược nghiên cứu thị trường.
Thành lập phòng Marketing: Để công tác nghiên cứu thị trường được tổ chức có
hệ thống, có hiệu quả thì công ty phải thành lập phòng Marketing. Việc tổ chức phòng
Marketing phải đơn giản về mặt hành chính. Với mỗi mảng đều có nhân viên phụ trách
song để hoạt động có hiệu quả thì cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa những
người phụ trách các mảng khác nhau. Chính vì vậy nhân viên phải có trình độ hiểu biết
69
về nghiên cứu thị trường. Cụ thể nhân sự tại phòng này phải là những cán bộ có kinh
nghiệm trong công tác thâm niên trong nghề nghiệp và đặc biệt phải nhiệt tình và
nhanh chóng thâm nhập, nắm bắt nhu cầu của người sử dụng.
Nhiệm vụ của phòng Marketing:
- Thu thập và điều tra các thông tin về thị trường cụ thể là về các đối thủ
cạnh tranh, khách hàng...
- Đưa ra các dự báo liên quan đến tình hình thị trường.
- Nghiên cứu khai thác mọi tiềm năng của thị trường.
- Cơ cấu phòng Marketing: Gồm 3 trưởng phòng: Chịu trách nhiệm trước ban
giám đốc về toàn bộ mảng Marketing tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng nói
riêng cũng như thị trường nói chung. Nhân viên: Chịu trách nhiệm trước trưởng phòng
về công việc được phân công. Sau khi đã thống nhất những chiến lược Marketing cụ
thể, rõ ràng, phối hợp linh hoạt để áp dụng đưa chiến lược ra thị trường.
3.2.7. Tăng cường các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh
Trong điều kiện thị trường hiện nay, việc kinh doanh có thể gặp phải những rủi
ro không lường trước được. Nếu thị trường đầu vào, đầu ra hay thị trường tài chính có
sự biến động lớn thì tình hình tài chính của công ty sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, công ty
cần phải chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro như:
- Công ty cần phải lập kế hoạch sản xuất. Quy trình để lập một kế hoạch sản
xuất trong kinh doanh được mô tả sơ lược như sau:
+ Xác định các căn cứ để xây dựng kế hoạch.
+ Xây dựng kế hoạch sản xuất dự kiến cho năm kế hoạch.
+ Trình lên hội đồng quản trị và ban giám đốc phê duyệt và chỉnh sửa nếu chưa
đạt yêu cầu.
+ Sau khi nhận được hợp đồng với đối tác, công ty lập kế hoạch chỉ đạo sản
xuất cho cả năm kế hoạch và tháng kế hoạch rồi trình lên hội đồng quản trị và ban
giám đốc phê duyệt để chỉnh sửa nếu chưa đạt yêu cầu.
+ Với kế hoạch chỉ đạo sản xuất, tổ chức phổ biến kế hoạch với các bộ phận,
phòng ban trong công ty để thu thập ý kiến, đề xuất của các đơn vị để hoàn thiện.
+ Bộ phận kế hoạch (phòng kỹ thuật) tiếp nhận phản hồi của các đơn vị và thực
hiện điều chỉnh kế hoạch chỉ đạo sản xuất nếu cần thiết. Sau đó thống nhất kế hoạch
cho kỳ sản xuất rồi tình lên ban lãnh đạo.
70
+ Tố chức phổ biến kế hoạch tới các đơn vị liên quan. Sau đó, tổ chức thực hiện
kế hoạch và giám sát thực hiện kế hoạch.
- Dự tính công tác tiêu thụ sản phẩm trong năm, qua các tháng sẽ có khả năng
tiêu thụ bao nhiêu sản phẩm, doanh thu đạt được như thế nào? Từ đó có thể ảnh hưởng
đến quyết định ký hợp đồng lâu dài với nhà cung cấp để hạn chế ảnh hưởng khi giá cả
trên thị trường tăng cao.
- Đầu tư thêm thiết bị, công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động, giảm bớt
vốn hàng tồn kho.
- Công ty cần mua bảo hiểm cho tài sản để khắc phục những thiệt hại khi
rủi ro xảy ra, đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên
tục. Hiện tại, công ty đã mua bảo hiểm cho toàn bộ kho hàng (cho máy lọc nước,
máy lọc tinh khiết, các lõi lọc để thay khi lõi lọc của khách hàng hết hạn dùng...)
là bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt (cháy nổ, thiên tai,...) với số tiền bảo
hiểm là 1233 triệu. Việc mua bảo hiểm vẫn cần được duy trì thường xuyên để đề
phòng những rủi ro ngoài ý muốn.
3.2.8. Tăng cường công tác phân tích tài chính tại công ty
Thực hiện công tác phân tích tài chính sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện và sâu sắc
về thực trạng tài chính của công ty, các mặt mạnh, mặt yếu, các thành tựu cũng như
các hạn chế còn tồn tại. Trong thời gian tới công ty nên có bộ phận chuyên trách để
thực hiện công việc này. Để công tác phân tích tình hình tài chính đạt hiệu quả cao,
công ty cần chú trọng các biện pháp:
- Hoàn thiện quy trình phân tích: gồm các giai đoạn như chuẩn bị và lập kế
hoạch phân tích, tiến hành phân tích, lập báo cáo phân tích. Trong mỗi một giai đoạn
lại có những công việc cụ thể khác nhau, đòi hỏi người phân tích phải có hiểu biết đầy
đủ về tình hình thực tế của công ty.
- Hoàn thiện các phương pháp phân tích thực trạng tài chính trong công ty như:
xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phân tích, phân tích tài chính thông qua bảng cân đối
kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh, phân tích tài chính thông qua điểm hòa vốn,
đánh giá rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính qua các mô hình tài trợ; đánh giá tình
hình tài chính qua khả năng thanh toán, các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, hiệu quả
quản lý cũng như khả năng tăng trưởng của công ty.
71
- Kết hợp công tác hạch toán kế toán, kiểm toán với công tác phân tích tài chính
trong quản trị tài chính công ty. Muốn vậy, cần có sự chuyên môn hóa phòng tài chính,
đào tạo cán bộ có chuyên môn và năng lực về tài chính doanh nghiệp, cung cấp thông
tin đầy đủ.
3.3. Một số kiến nghị đối với công ty
- Một khó khăn đối với công ty là vốn thiếu. Do đó công ty cần phải gia tăng tỷ
lệ tích lũy vốn bằng cách tăng quỹ đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng cường
mối quan hệ tốt đối với các công ty, các tổ chức tài chính, ngân hàng để có thể tìm
được các khoản tín dụng với lãi suất ưu đãi.
- Quản lý tài sản lưu động: xác định nhu cầu tài sản cần thiết cho từng kỳ sản
xuất nhằm huy động hợp lý các nguồn vốn bổ sung. Nếu không tính đúng nhu cầu tài
sản lưu động công ty hoặc sẽ gặp khó khăn trong thanh toán, sản xuất bị ngừng trệ
hoặc sẽ dẫn đến lãng phí và làm chậm tốc độ luân chuyển tài sản lưu động.
- Quản lý tài sản cố định: bố trí dây chuyền sản xuất hợp lý, khai thác hết công
suất và nâng cao hiệu suất hoạt động của máy móc thiết bị, xử lý dứt điểm những tài
sản cố định không cần dùng, lỗi thời không còn phù hợp với quy mô sản xuất nhằm
thu hồi vốn cố định, đầu tư thêm máy móc thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng sản
phẩm. Hoặc đưa vào luân chuyển, bổ sung vào tài sản lưu động cho sản xuất kinh
doanh nhiều hơn.
- Công ty phải từng bước hiện đại hóa phương pháp quản lý, cập nhật nhanh
thông tin, giữ nghiêm tính kỷ luật của chế độ báo cáo thường xuyên và định kỳ để làm
cơ sở ra quyết định nhanh chóng, chính xác. Đối với thị trường nước ngoài, việc thu
thập thông tin qua mạng lưới thông tin Quốc tế và trao đổi giao dịch qua fax, telex...là
cần thiết và phù hợp với qui mô công ty hiện nay.
- Công ty cần có đường lối chủ trương chính sách kinh doanh đúng đắn, triển
khai công việc kịp thời đồng bộ. Về quản lý, giao quyền cho các phòng ban trực thuộc
công ty, cho người quản lý điều hành, quản lý, bảo toàn, phát triển và trực tiếp chịu
trách nhiệm, có chế độ thưởng phạt rõ ràng. Mạnh dạn đào tạo cán bộ đủ năng lực và
trình độ nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong thời gian tới.
72
KÊT LUẬN CHƯƠNG 3
Trên đây là một số giải pháp tài chính chủ yếu nhằm cải thiện tình hình tài
chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt Anh
được đưa ra dựa trên tình hình thực tế của công ty. Một điều cần lưu ý là cải thiện tình
hình tài chính là một bài toán tổng hợp, đòi hỏi sự kết hợp của nhiều biện pháp khác
nhau cũng như vai trò quyết định của nhà quản trị. Vì thế, trong thời gian tới, công ty
cần thực hiện đa dạng, đồng bộ nhiều giải pháp và có những kế hoạch cụ thể để mở
rộng quy mô hoạt động, đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp.
73
KẾT LUẬN
Trong nền kinh tế thị trường đầy biến động như hiện nay, bất kỳ doanh nghiệp
nào muốn tồn tại và phát triển thì đều phải không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh, và để thực hiện được điều đó, các nhà quản trị cần nắm bắt được thực
trạng hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là tình hình tài chính. Tuy nhiên, việc phân
tích, đánh giá đúng đắn tình hình tài chính để đưa ra những quyết định, chiến lược
kinh doanh trong giai đoạn khủng hoảng là một công việc không hề đơn giản với nhà
quản trị.
Trên cơ sở những kiến thức đã được học tại Đại Học Thăng Long, kết hợp với
việc đi sâu tìm hiểu thực tế tại công ty, em đã tiến hành phân tích và đánh giá tình hình
tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Việt
Anh trong những năm vừa qua. Từ đó, mạnh dạn đề xuất một số giải pháp để góp phần
cải thiện tình hình tài chính của công ty trong thời gian tới. Em hy vọng những ý kiến
đóng góp này có thể giúp ích cho ban lãnh đạo công ty trong thời gian tới.
Do còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu, thời gian thực tập chưa được
lâu, nên trong quá trình phân tích, khóa luận không tránh khỏi có những nhận định
chưa chuẩn xác và hợp lý. Em rất mong nhận được sự góp ý từ quý thầy cô, ban lãnh
đạo công ty để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn cô giáo Tiến sĩ Nguyễn Thị Thúy và các
cô chú, anh chị trong phòng tài chính kế toán của công ty đã hướng dẫn và giúp đỡ em
hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, ngày 30 tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Lê Thu Hà
74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lưu Thị Hương (1998), “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, NXB Giáo
dục
2. Nguyễn Năng Phúc (2013), “Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính”, NXB
Đại học Kinh Tế Quốc Dân
3. Bùi Văn Vấn (2000), “Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp”, NXB
Học Viện Tài chính
4. Và các website:
http://www.cophieu68.vn
http://text.123doc.vn
75

