
Tiểu luận triết học
TIỂU LUẬN: “Áp dụng nguyên tắc khách quan và
nguyên tắc toàn diện để phân tích các vấn đề còn tồn tại
trong giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay”

Tiểu luận triết học
Lời mở đầu
Từ khi ra đời, giáo dục đại học giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ hệ thống giáo
dục vì nó trực tiếp tác động đến trình độ phát triển của khoa học và công nghệ. Đã có
thời giáo dục phổ thông ở Mỹ bị chê là thua kém nhiều nước phương Tây, nhưng chưa
bao giờ nền đại học Mỹ bị đánh giá thấp. Chỉ cần nhìn quỹ riêng của 5 đại học nổi
tiếng của Mỹ (theo số liệu 2006, đơn vị tỉ USD): Havard 17.2; Yale 10.5, Princeton
8.3; Stanford 7.6; MIT 5.3 – đủ thấy xã hội Mỹ đầu tư cho các đại học như thế nào.
Cái chiến lược lấy giáo dục đại học làm đòn bẩy đã đưa Hoa Kỳ lên vị trí dẫn đầu trên
phần lớn các lĩnh vực khoa học, công nghệ then chốt hiện đại.
Cuộc cách mạng công nghệ và xu thế kinh tế tri thức từ vài thập kỷ lại đây càng
nêu cao vai trò của giáo dục đại học, không chỉ đối với các nước tiền tiến mà cả đối
với các nước khác. Cho nên tuy hiện nay dư luận xã hội đang quan tâm nhiều nhất về
chất lượng giáo dục phổ thông, tôi vẫn nghĩ giáo dục đại học mới là cái đáng lo hơn
cả.
So với thế giới và các nước trong khu vực, giáo dục đại học của ta tụt hậu còn
xa hơn giáo dục phổ thông, mà trước mắt triển vọng cũng chưa có gì sáng sủa. Năm
1996, Nghị quyết Hội nghị TƯ II (khoá VIII) từng xác đinh rất đúng đắn phải thực sự
coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, thế mà từ bấy đến nay, đã 8 năm rồi,
người dân vẫn chưa hết lo lắng về giáo dục. Phải chăng, từ trên xuống dưới, chúng ta
chưa nghiêm chỉnh thực hiện nghị quyết, hay là sức của ta chỉ đến vậy ?.
Xét về tiềm năng so với trình độ thực tế thì tình hình đại học khác phổ thông.
Đối với giáo dục phổ thông tôi tin rằng trình độ của đội ngũ giáo viên, điều kiện tài
chính, phương tiện vật chất không thiếu, nếu quyết tâm lập lại trật tự kỷ cương, loại trừ
mấy “khối u” dị dạng về thi cử, dạy thêm, và sách giáo khoa, đồng thời đổi mới cách
quản lý, thì khả năng đuổi kịp các nước phát triển nhất của khu vực trong thời gian
tương đối ngắn là hoàn toàn hiện thực. Nhưng giáo dục đại học phức tạp hơn. Vì đây,
trình độ đội ngũ giảng viên, điều kiện tài chính, vật chất đều thiếu thốn nghiêm trọng
mà sự đầu tư nhân, tài, vật lực, lại dàn trải, cho nên đổi mới đại học đòi hỏi phải cố
gắng đầu tư vượt bậc để tăng mạnh các nguồn lực, đồng thời thay đổi chiến lược phát

Tiểu luận triết học
triển, phương thức quản lý, thì mới có thể bứt phá lên được. Cũng như trong mọi cải
cách lớn, phải thay đổi tư duy, rà soát lại các quan niệm cơ bản về mục tiêu, nội dung,
phương pháp, và tổ chức, quản lý, kiên quyết hiện đại hoá để hội nhập thế giới. Còn
không, dù có cố gắng đầu tư cũng khó ngăn đại học tiếp tục tụt hậu trong nhiều năm
tới.
Để có một sự nhìn nhận đúng đắn về các vấn đề đang tồn tại trong hệ thống
giáo dục đại học nước ta và đưa ra những biện pháp tốt nhất để phát triển, chúng ta cẩn
phải phân tích một cách khách quan và toàn diện, tránh chủ quan và cục bộ. Đó là lý
do tôi chọn đề tài “Áp dụng nguyên tắc khách quan và nguyên tắc toàn diện để phân
tích các vấn đề còn tồn tại trong giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay “ làm tiểu
luận triết học của mình
Vì thời gian và kiến thức có hạn, tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót,
mong nhận được sự đóng góp của Giảng viên và các bạn. Xin chân thành cảm ơn

Tiểu luận triết học
Nội dung chính
I-Cơ sở lý luận
1- Nguyên tắc toàn diện của sự nhận thức khoa học
1.1- Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện của sự nhận thức khoa học
Thế giới vật chất có muôn ngàn sự vật, hiện tượng. Chúng khác nhau, vừa có
liên hệ biện chứng với nhau , tức là nương tựa vào nhau, làm tiền đề tồn tại và phát
triển cho nhau, quy định và chế ước lẫn nhau. Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại
một cách biệt lập, tách rời. Sự liên hệ đó là khách quan, vốn có của giới tự nhiên và xã
hội, không phụ thuộc vào ý muốn , nguyện vọng chủ quan của bất cứ một tổ chức xã ội
hoặc cá nhân nào
Mỗi sự vật, hiện tượng là một hệ thống có cấu trúc, tức là bao gồm các mặt,
các yếu tố cấu thành nó. Giữa các mặt, các yếu tố đó có liên hệ biện chứng với nhau.
Chính đặc điểm của cấu trúc và mối liên hệ giữa chúng đã quy định tính chất của sự
vật, xu hướng vận động, phát triển của sự vật
Mối liên hệ phổ biến của sự vật không những diễn ra ở trong không gian mà
còn diễn ra trong mặt thời gian, tức là có liên hệ hiện tại và quá khứ và giữa hiện tại
với tương lai
Mối liên hệ phổ biến của sự vật còn mang tính nhiều vẻ, có liên hệ bên trong và
bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp, cơ bản và không cơ bản, bản chất và hiện tượng,
nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, khả năng và
hiện thực
1.2- Yêu cầu của nguyên tắc toàn diện
Khi nghiên cứu xem xét sự vật, hiện tượng, muốn phản ánh sự vật đúng như nó
có chủ thể nhận thức một mặt phải chỉ ra sự khác biệt của sự vật, mặt khác phải chỉ ra
các mối liên hệ mà trước hết là mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành sự vật, mối liên
hệ giữa các sự vật với nhau, mối liên hệ giữa các quá trình tức là liên hệ giữa quá khứ
với hiện tại và giữa hiện tại với tương lai
Mối liên hệ của sự vật mang tính đa dạng, nhiều vẻ, phong phú. Thông thương
ta không thể thấy hết các mối liên hệ của sự vật. Trong trường hợp đó, chủ thể của
nhận thức phải chỉ ra các mối liên hệ bên trong, bản chất, tất yếu, cơ bản của sự vật vì

Tiểu luận triết học
những liên hệ này quyết định tính chất của sự vật, quyết định xu hướng vận động của
sự vật. Làm như thế tư duy của chung ta sẽ bớt đi sự phiến diện
Khi nghiên cứu, xem xét sự vật, hiện tượng, phải chống quan điểm phiến diện,
siêu hình, phủ nhận sự liên hệ. Nếu thừa nhận liên hệ thì chỉ thừa nhận những mối liên
hệ bên ngoài, không thấy ….nhận những mối liên hệ bản chất, tất yếu bên trong, đó là
quan điểm sai lầm, không thể phản ứng đúng sự thất khách quan
2- Nguyên tắc khách quan cửa sự nhận thức khoa học
2.1- cơ sở khách quan của nguyên tắc khách quan của sự nhận thức khoa học
Thế giới vật chất bao gồm giới tự nhiên và xã hội, trong đốmị sự vật hiện tượng
tồn tại, vận động biến đổi và phát triển theo những quy luật khách quan vốn có của thế
giới vật chất, không phụ thuộc vào ý muốn, ý nguyện chủ quan của con người, cũng
không lệ thuộc vào bất kìmột đảng phái, một tập đoàn xã hội hay một vĩ nhân nào
Con người trước hết là sản phẩm lâu dài của giới tự nhiên. Tự nhiên là thân thể
vô cơ của con người. Nhưng con người khác với con vật ở chỗ :con vật hoạt động theo
bản năng còn con người hoạt động có ý thức chỉ đạo, nhờ đó con người có thể nhận
thức được các quy luật khách quan của sự vật, các điều kiện mà quy luật phát sinh tác
dụng, nếu điều đó có cơ hội cho con người và ngược lại, nếu điều đó không có lị cho
con người thì con người có thể tạo ra các điều kiện để quy luật đó không phát huy tác
dụng hay hạn chế tác dụng, chứ con người không thể tuỳ tiện xoá bỏ quy luật khách
quan của sự vật, nhờ đó mà con người cũng đã tạo ra giới tự nhiên của mình, xã hội
của mình. Như vậy, con người chỉ có tự do khi nhận thức được quy luật khách quan
của tự nhiên- xã hội và biết hnàh động theo quy luật đó. Vì thế tự do là tất yếu được
nhận thức và hành động theo cái tất yếu đó.
2.2 Yêu cầu nguyên tắc khách quan
Khi nghiên cứu, xem xét sự vật hiện tượng phải phản ánh đúng như nó có,
không được áp đặt ý muốn, nguyện vọng chủ quan của chủ thể nhận thức vào sự
vậ,hiện tượng
Sự vật, hiện tượng có vô vàn thuộc tính. Mỗi thuộc tính là mọtt chất,do đó sự
vật có vô vàn chất, mỗi chất lại có đặc tinh riêng, những quy luật riêng. Do đó nhận
thức sự vật phải có tính hệ thống

