Phục hồi vận động sau gãy xương
Trong sinh hoạt, lao động hằng ngày chvì sơ suất nào đó chúng ta có
thbị chấn thương, mà gãy xương tai nạn rất hay gặp nhất là nh hình tai
nạn giao thông hiện nay. Sau một thời gian bột, nẹp đinh người bệnh có
thít nhiều mất những cảm giác vận động. Vậy phải làm thế o để thể
sm có được svận động bình thường tránh được sbiến dạng về hình
dáng sau tai nạn?
Hậu quả do gãy xương
Khi xương tay, chân bị gãy, những trường hợp bị giập, như vậy không
chxương bị tổn thương các cơ, gân, dây chằng cũng bị tổn thương theo. Tùy
theo từng mức độ thương tổn, bệnh nhân được bột hay phải mnẹp đinh trong
xương khâu lại phần mềm bị rách, giập. Sau một thời gian bị cố định, người
bệnh hầu như không sự vận động chỗ bị tổn thương cho n dễ bị mất cảm
giác có biểu hiện teo những nơi này. Thậm chí những trường hợp do đau
đớn không chịu vận động đã dn đến loét do tỳ đè lâu ngày, thậm chí nhiễm khuẩn
hô hấp, tắc mạch chi, giảm phản xạ đại tiểu tiện... đây là biểu hiện hay gặp ở người
già. vậy sau mổ, phải bột người bệnh phải tự giác, kiên trì, chịu đau, phục
hồi cử động khớp, duy trì sức cơ, tỷ lệ liền xương sẽ tăng nhờ vận động.
Những biện pháp phục hồi bao gồm
Cử động khớp:
Khớp bất động lâu sẽ bị cứng do co ngắn lại, bao khớp bị co rúm, bao
hoạt dịch tăng sản mỡ, sụn bị mỏng. Do vậy cđộng khớp là cách tốt để m cho
dịch khớp ra vào, khp được nuôi dưỡng và tr nên mềm mại, tốc độ cho một lần
co duỗi là 45 giây, mỗi lần tập10 - 15 phút, ngày 4 - 6 lần. Có thể tập từ ngày thứ 3
sau mổ hoặc sau bó bột.
Tập duy trì sức cơ:
Tập tăng sức ng của cơ (độ dài không thay đổi, khớp không cử
động), tập co cơ (sao cho khớp cử động, co cơ ngắn lại). Khi khớp cử động còn
đau nhiều thì tập căng cơ, khi khớp đỡ đau thì tập co cơ.
Tập đi:
Dùng nạng gtập đi
khi xương chưa liền. Thanh
ngang đầu trên nạng không
được tỳ vào nách để tựa
bên lồng ngực. Dáng đi
thẳng, mắt nhìn thẳng ra
phía trước, không cúi nhìn
xuống chân. Hai vai phải ngang bằng không được lệch cao thấp. Tập bước đi 3
điểm tựa, không tỳ hoặc chỉ tỳ nhẹ tăng dần lên chân đau. Hai tay chng nạng
ngay ngắn, hai mũi nạng và bàn chân lành tạo nên tam giác đế. Đưa 2 nạng ra
trước 10 - 30cm một cách tăng dần, lấy thăng bằng trên đôi tay cm, rồi bước chân
lành ra trước, tiếp tục bước khác. Giai đoạn tiếp theo, dùng gậy chống lúc xương
đã gần liền vững. Nhiều người thích dùng gậy chống bên chân đau nên đã làm
dáng đi bị xấu đi. Phải tập cho quen chống gậy bên chân lành khi bước chân
lành ra trước thì sức nặng trên chân đau và gậy chống sẽ cùng chịu một lúc. Không
Bệnh nhân gãy xương cần kiên trì ph
ục hồi
vận động.
nên dùng nạng kẹp nách vì như thế dáng đi sau này trông s tàn phế. Thời kỳ
xương liền vững tỳ không đau gãy xương thì b gậy và tập đi n bình
thường.
Dùng nhiệt: Tác dụng của dùng nhiệt là gim đau, đỡ khó chịu, lợi ích
khi tập cử động chủ động. Dùng túi chườm nước nóng, chườm lên ch đau để
luyện tập. Chú ý không được dùng nhiệt sóng ngắn cho toàn chi đinh, nẹp vít
vòng thép kim loại nóng lên có thể làm hỏng tổ chức, dễ gây viêm rò.
Tập sinh hoạt thông thường: Cần tập làm động tác trong sinh hoạt bằng lên
xuống cầu thang, bậc thềm nhà, tp ngồi xổm đứng lên. Đối với tổn thương xương
tay thì tập nắm, mở bàn tay (dùng hòn đá hình qutrứng để nắm), tập cầm bút,
đũa, tránh không để tay bị cong, khoèo. Khi nào không còn đau nữa, không bị hạn
chế thì quá trình tập luyện này mới đạt kết quả tốt. Thời gian tập thường từ 6 tháng
đến 2 năm, tùy theo mức độ thương tổn.
Biện pháp xoa nắn: Nên xoa nắn thường xuyên gãy xương liền khớp. Chỉ
xoa nắn nhẹ nhàng bằng tay không được dùng các loại dầu cao, cồn, thuốc xoa
bóp nào để xoa vào các khớp, vì như vậy rất có thể làm cho xơ cứng khớp, vôi hóa
cạnh khớp.
Khi bchấn thương, để chóng lành, người bệnh cần kiên trì tập luyện, cần
kết hợp các biện pháp tập luyện khác nhau để trở lại hình dáng ban đầu.