
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
126
ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN MAGIE MÁU Ở BỆNH NHÂN CẤP CỨU
VÀ HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN
Nguyễn Thị Thuỳ Liên1, Hoàng Thu Hà1, Hoàng Huyền Nga2
TÓM TẮT18
Đặt vấn đề: Rối loạn magie máu là một tình
trạng thường gặp ở bệnh nhân nặng điều trị tại
khoa Hồi sức tích cực (HSTC), có thể ảnh hưởng
đến tiên lượng và kết cục điều trị nhưng thường
bị bỏ sót do triệu chứng lâm sàng không điển
hình và không làm xét nghiệm. Dữ liệu cụ thể về
tình trạng rối loạn magie máu ở các khoa hồi sức
tại Việt Nam còn hạn chế. Mục tiêu nghiên cứu:
tìm hiểu đặc điểm rối loạn magie cũng như mối
liên quan với một số đặc điểm lâm sàng và xét
nghiệm ở bệnh nhân nặng cấp cứu phải nhập
khoa điều trị HSTC. Đối tượng và phương
pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên bệnh
nhân cấp cứu điều trị tại khoa HSTC từ tháng 7
năm 2024 đến tháng 5 năm 2025. Thu thập dữ
liệu về đặc điểm lâm sàng, nồng độ magie máu,
các chỉ số APACHE II, SOFA, nhu cầu thở máy,
tử vong và các rối loạn điện giải đi kèm. Kết
quả: Trong số 116 bệnh nhân cấp cứu điều trị tại
khoa Hồi sức tích cực, tỷ lệ rối loạn magie máu
là 47,4%, trong đó hạ magie chiếm 36,2% và
tăng magie chiếm 11,2%. Rối loạn magie gặp
nhiều ở bệnh nhân nhập viện vì bệnh lý tiêu hóa
(31%) và hô hấp (23,8%). Nhóm có magie bất
thường có điểm APACHE II và SOFA cao hơn,
tỷ lệ thở máy cao hơn (54,8% ở nhóm hạ magie
1Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
2Trường Đại học Y Hà Nội
Chịu trách nhiệm chính: Hoàng Thu Hà
Email: hahoasinh@gmail.com
Ngày nhận bài: 1-6-2025
Ngày phản biện: 5-6-2025
Ngày duyệt bài: 8-6-2025
và 76,9% ở nhóm tăng magie), và tỷ lệ tử vong
cao hơn có ý nghĩa thống kê (p = 0,022). Nguy
cơ tử vong ở nhóm rối loạn magie cao gấp 2,81
lần so với nhóm bình thường (OR = 2,81; 95%
CI: 1,20–6,57; p < 0,01). Ngoài ra, rối loạn
magie có liên quan đến các rối loạn điện giải
khác, đặc biệt là hạ canxi máu (52,8% ở nhóm hạ
magie, p = 0,003). Kết luận: Magie máu ở bệnh
nhân nặng HSTC có tỷ lệ rối loạn là 47,4%, trong
đó hạ magie chiếm 36,2% và tăng magie chiếm
11,2%. Rối loạn này có mối liên quan chặt chẽ
với mức độ nặng của bệnh, nhu cầu hỗ trợ hô
hấp, rối loạn điện giải đi kèm (đặc biệt là hạ
canxi máu), và tỷ lệ tử vong. Bệnh nhân có
magie bất thường có nguy cơ tử vong cao hơn
đáng kể so với nhóm có nồng độ magie bình
thường.
Từ khóa: Mg, magie, hạ magie máu, tăng
magie máu, bệnh nhân hồi sức tích cực
SUMMARY
CHARACTERISTICS OF SERUM
MAGNESIUM DISORDERS IN
EMERGENCY AND INTENSIVE CARE
PATIENTS AT SAINT PAUL GENERAL
HOSPITAL
Background: Magnesium disorders are
common in critically ill patients treated in
Intensive Care Units (ICUs). These disorders can
affect prognosis and treatment outcomes but are
often overlooked due to non-specific clinical
symptoms and lack of routine testing. Specific
data on magnesium disorders in ICUs in Vietnam
remains limited. Objective: To investigate the
characteristics of magnesium disorders and their

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
127
association with certain clinical features and
laboratory findings in critically ill emergency
patients admitted to the ICU. Subjects and
methods: A cross-sectional descriptive study
was conducted on emergency patients treated in
the ICU from July 2024 to May 2025. Data were
collected on clinical characteristics, serum
magnesium levels, APACHE II and SOFA
scores, mechanical ventilation requirement,
mortality, and associated electrolyte disorders.
Results: Among 116 emergency patients treated
in the ICU, the prevalence of magnesium
disorders was 47.4%, with hypomagnesemia
accounting for 36.2% and hypermagnesemia for
11.2%. Magnesium disorders were common in
patients admitted for gastrointestinal (31%) and
respiratory diseases (23.8%). Patients with
abnormal magnesium levels had higher
APACHE II and SOFA scores, higher rates of
mechanical ventilation (54.8% in the
hypomagnesemia group and 76.9% in the
hypermagnesemia group), and significantly
higher mortality (p = 0.022). The risk of death in
patients with magnesium disorders was 2.81
times higher than in those with normal
magnesium levels (OR = 2.81; 95% CI: 1.20–
6.57; p < 0.01). Additionally, magnesium
disorders were associated with other electrolyte
imbalances, especially hypocalcemia (52.8% in
the hypomagnesemia group, p = 0.003).
Conclusion: The prevalence of magnesium
disorders in critically ill ICU patients is 47.4%,
with hypomagnesemia accounting for 36.2% and
hypermagnesemia for 11.2%. These disorders are
closely associated with disease severity, the need
for respiratory support, accompanying electrolyte
imbalances (particularly hypocalcemia), and
mortality. Patients with abnormal magnesium
levels have a significantly higher risk of death
compared to those with normal magnesium
concentrations.
Keywords: Magnesium, Hypomagnesemia,
Hypermagnesemia, critically ill patient
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Magie là một chất điện giải quan trọng
trong cơ thể, tham gia vào hơn 300 phản ứng
enzyme khác nhau. Magie đóng vai trò quan
trọng trong việc truyền tín hiệu thần kinh và
co cơ, giúp duy trì nhịp tim ổn định và điều
hòa huyết áp, cần thiết cho quá trình tổng
hợp protein mới từ axit amin, cũng như quá
trình tạo và sửa chữa DNA và RNA… Tăng
hay giảm nồng độ magie trong máu đều ảnh
hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể1. Triệu
chứng lâm sàng của rối loạn magie máu
không đặc hiệu có thể gặp trong nhiều bệnh
lý khác nhau. Rối loạn magie máu có thể
phối hợp với rối loạn các chất điện giải khác
như natri, kali, canxi. Rối loạn magie máu vì
vậy thường bị bỏ sót và không được chẩn
đoán nếu không làm xét nghiệm.
Một số nghiên cứu trên thế giới đã ghi
nhận tình trạng rối loạn magie máu khá phổ
biến ở bệnh nhân có tình trạng cấp cứu và
cần điều trị hồi sức tích cực (HSTC). Nhóm
bệnh nhân có rối loạn magie máu có kết cục
xấu và nhiều biến chứng hơn so với nhóm
bình thường, nguy cơ tử vong cao hơn, thời
gian phải điều trị HSTC dài, chỉ định thông
khí nhân tạo tăng. Tuy nhiên, dữ liệu cụ thể
về vấn đề này tại các khoa HSTC ở Việt
Nam còn hạn chế. Để có thêm thông tin,
chúng tôi thực hiện nghiên cứu tìm hiểu đặc
điểm rối loạn magie cũng như mối liên quan
với một số đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm
ở bệnh nhân nặng có tình trạng cấp cứu phải
nhập khoa điều trị HSTC tại bệnh viện đa
khoa Xanh Pôn.

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
128
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân từ 18
tuổi trở lên, có tình trạng cấp cứu được chỉ
định nhập khoa hồi sức tích cực chống độc
bệnh viện đa khoa Xanh Pôn.
Tiêu chuẩn loại trừ: Không chọn các
trường hợp nằm viện ít hơn 24 giờ, tử vong
trong vòng 24 giờ sau khi nhập viện, đang
được điều trị bổ sung magie, phụ nữ có thai.
Thời gian, địa điểm nghiên cứu: Bệnh
nhân điều trị tại Khoa Hồi sức tích cực chống
độc Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn từ tháng 7
năm 2024 đến tháng 5 năm 2025
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu
mô tả, chọn mẫu toàn bộ.
Bệnh nhân thuộc đối tượng nghiên cứu
được xét nghiệm magie máu, điện giải đồ
trong vòng 24 giờ, đồng thời đánh giá mức
độ nặng theo điểm APACHE II (Acute
Physiology and Chronic Health Evaluation),
SOFA (Sequential Organ Failure
Assessment). Các chỉ tiêu thu thập trong
nghiên cứu bao gồm tuổi, giới, bệnh nền,
chẩn đoán, thời gian điều trị HSTC, chỉ định
thông khí nhân tạo, thời gian thở máy, kết
quả điều trị (sống/tử vong).
Các xét nghiệm được thực hiện tại Trung
tâm Xét nghiệm bệnh viện Xanh Pôn, tuân
thủ các yêu cầu về đảm bảo chất lượng. Xét
nghiệm định lượng magie, natri, kali, canxi
trong mẫu huyết tương được thực hiện trên
máy xét nghiệm sinh hóa tự động AU5800
(Beckman Coulter). Nồng độ magie trong
khoảng 0,7 – 1,1 mmol/L được đánh giá bình
thường, <0,7 mmol/L là thấp, >1,1 mmol/L
là cao. Xác định tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ
magie bất thường và phân tích so sánh đặc
điểm lâm sàng, xét nghiệm giữa các nhóm có
nồng độ magie bình thường, thấp hoặc cao.
Xử lý số liệu: Phân tích so sánh nhóm có
và không có rối loạn magie bằng test Chi-
square, t-test hoặc Mann-Whitney, ANOVA,
Kruskal–Wallis tuỳ theo biến liên tục hay
phân loại và dữ liệu phân bố chuẩn hay
không chuẩn. Đánh giá có ý nghĩa thống kê
khi p < 0,05. Dữ liệu được ghi lại trên bảng
tính Microsoft Excel và phân tích bằng SPSS
phiên bản 30.0.
Đạo đức nghiên cứu: Bệnh nhân được
chẩn đoán và điều trị theo quy trình hướng
dẫn chuyên môn, nghiên cứu không can thiệp
vào quá trình điều trị. Thông tin bệnh nhân
được mã hoá và bảo mật. Nghiên cứu được
Hội đồng đề cương Trường Đại Học Y Hà
Nội và Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn chấp
thuận.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ tháng 7 năm 2024 đến tháng 5 năm
2025 có 116 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đưa
vào nghiên cứu.
3.1. Đặc điểm về nồng độ magie của
nhóm đối tượng nghiên cứu

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
129
Hình 1. Đặc điểm nồng độ magie trong 24 giờ đầu HSTC
Nồng độ magie có trung vị (khoảng tứ
phân vị) là 0,8 (0,6-0,9) mmol/L, giá trị thấp
nhất 0,3 mmol/L, cao nhất 1,8 mmol/L.
Nhóm nồng độ magie bình thường (0,7 – 1,1
mmol/L) chiểm 52,6%, nồng độ thấp (<0,7
mmol/L) chiếm 36,2%, nồng độ cao (>1,1
mmol/L) chiếm 11,2%.
3.2. Đặc điểm nồng độ magie theo tuổi,
giới, bệnh nền
Tuổi hay gặp là 71 (53,8-81), nhỏ nhất 20
và cao nhất là 101 tuổi, nam chiếm 61,2%
nhiều hơn nữ.
Đa số bệnh nhân có bệnh nền chiếm
80,2%. Tuổi, giới, bệnh nền không có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê trong mẫu hiện tại
giữa các nhóm nồng độ magie bình thường,
magie thấp, magie cao mặc dù nhóm magie
thấp và cao có tuổi trung bình và tỷ lệ bệnh
nền cao hơn nhóm bình thường (bảng 1)
Bảng 1. Đặc điểm nồng độ magie theo tuổi, giới, bệnh nền
Đặc điểm
Tổng
(n=116) (1)
Mg bình thường
(n=61) (2)
Mg thấp
(n=42) (3)
Mg cao
(n=13) (4)
Mg bất thường
(thấp/cao)
(n=55) (5)
p
Tuổi: trung vị
(tứ phân vị)
71
(53,8-81)
66
(50-77)
73
(58,5-81,8)
74
(55-82)
66
(49-79)
>0,05
Nam/nữ
71/45
37/24
27/15
7/6
34/21
>0,05
Có bệnh nền
n (%)
93
(80,2)
48
(78,7)
34
(81,0)
11
(84,6)
45
(81,8)
>0,05

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
130
3.3. Đặc điểm nồng độ magie theo bệnh lý khi cấp cứu vào HSTC
Bảng 2. Đặc điểm nồng độ magie theo bệnh lý khi vào HSTC
Đặc điểm bệnh lý khi nhập HSTC
Giá trị
Tiêu hóa
33 (28,5%)
Hô hấp
29 (25%)
Thần kinh
13 (11,2%)
Nhiễm khuẩn huyết
11 (9,5%)
Thận
9 (7,8%)
Tim mạch
7 (6%)
Khác
14 (12%)
Hình 2. Nồng độ magie theo đặc điểm bệnh lý khi vào HSTC

