
LUẬN VĂN:
Quan điểm của C.Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ
tư chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
cộng sản

A. Phần mở đầu
Chủ nghĩa xã hội không phải là một sự xuất hiện tự nhiên từ một đầu óc
thiên tài nào, mà xuất hiện từ hiện thực khách quan của đời sống xã hội, từ quá
trình đấu tranh giai cấp.
Khi nghiên cứu quá trình phát triển của xã hội loài người C.Mác rút ra kết
luận: Quá trình phát triển của xã hội loài người là quá trình lịch sử tự nhiên.
Nghĩa là nó có quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong. Bởi vì do sự tác động
của quy luật kinh tế… Chính các cuộc cách mạng xã hội đã làm cho xã hội loài
người chuyển từ xã hội thấp lên xã hội cao hơn.
C.Mác và Ph.Angghen không những chỉ ra tính tất yếu khách quan sự ra
đời của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, mà còn chỉ ra rằng: CNTB lên
chủ nghĩa cộng sản tất yếu phải trải qua thời kỳ quá độ. Đây là thời kỳ cải biến
cách mạng toàn diện từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ cơ sở kinh tế
đến kiến trúc thượng tầng, để xoá bỏ pháp quyền tư sản và hoàn thiện các đặc
trưng của chủ nghĩa cộng sản.
Hai ông đã dùng khái niệm chủ nghĩa cộng sản, coi đây là một phương thức
sản xuất phát triển cao hơn, tốt đẹp hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Sau này CNXH được coi là giai đoạn thấp của chủ nghĩa công sản.

B. Phần nội dung.
I. Tư tưởng của C.Mác-Angghen về thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNCS
và về phương thức sản xuất trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô ta”.
Phân tích các quy luật phát triển của xã hội tư bản chủ nghĩa, C.Mác cùng
với Angghen đã rút ra kết luận về sự diệt vong tất yếu của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa và sự thay thế nó bằng phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.
Hai ông; trước hết, chỉ rõ sự tiến bộ lịch sử của chế độ tư bản, vai trò cực kỳ to lớn
của nó trong việc phát triển sức sản xuất và xã hội hoá lao động; mặt khác, cũng
chỉ ra giới hạn, tạm thời về mặt lịch sử của chế độ đó. C.Mác-Angghen đã dự báo
rằng: “ Sự tập trung tư liệu sản xuất, và xã hội hoá lao động đạt đến cái điểm mà
chúng ta không còn thích hợp vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa. Cái vỏ đó vỡ
tung ra. Giờ tận số của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đã điểm. Nhưng kẻ đi tước
đoạt bị tước đoạt”.
C.Mác-Ăngghen: 1059/23
Nhưng cái vỏ đó không tự nó vỡ tung ra mà phải thông qua cuộc cách mạng bắt
đầu băng việc giai cấp vô sản dẫn đầu quần chúng lao động nội dậy giành lấy
chính quyền. C.Mác viết: “ Cách mạng nói chung-lật độ chính quyền hiện có và
phá huỷ những quan hệ cũ là một hành vi chính trị. Nhưng CNXH không thể được
thực hiện mà không có cách mạng. Chủ nghĩa xã hội cần đến hành vi chính trị này
bởi lẽ nó cần tiêu diệt và phá huỷ cái cũ”.
C.Mác-Ăngghen: 616/1
C.Mác chỉ ra rằng: “Giai cấp công nhân biết rằng nó phải trải qua nhiều giai
đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giai cấp. Nó biết rằng việc thay thế những điều

kiện của lao động tự do và liên hợp, chỉ có thể là một sự nghiệp tiến triển trong
thời gian (đó việc cải tạo kinh tế)… sau một quá trình phát triển lâu dài…”.
C.Mác-Ăngghen:724-725/17
Trong khi phê phán cương lĩnh Gô-ta, C.Mác đồng thời nêu ra những nhiệm
vụ của cuộc đấu tranh cho cách mạng XHCN, cho thắng lợi của chuyên chính vô
sản, cho việc tước đoạt giai cấp tư sản. Nhưng ý kiến đó của C.Mác không những
có ý nghĩa vô cung lớn lao trong thời kỳ đó đối với giai cấp công nhân, mà ngay
cả bây giờ nữa; những ý kiến ấy cũng giúp cho chúng ta thấy rõ được con đường
phải đi trong cái mớ hẩu lớn những học thuyết về CNTB nhân dân do bọn tư bản
đưa ra và đủ các loại học thuyết này nọ do bọn cơ hội chủ nghĩa, bọn cải lương
chủ nghĩa và bọn xét lại chủ nghĩa đang tung ra để lừa bịp nhân dân thế giới.
Đó là một mặt có ý nghĩa quan trọng của tác phẩm này của C.Mác. Mặt
khác không hoàn toàn chỉ đóng khung trong luận chiến chông tư tưởng của Lát-
xan, nó còn giải quyết một cách chính diện những vấn đề quan trọng nhất trong
công cuộc xây dựng chủ nghia xã hội.
Tác phẩm này, tổng kết kinh nghiệm của tất cả các cuộc cách mạng trước
kia, của toàn bộ phong trào công nhân thế giới và tổng kết học thuyết của Mác về
nhà nước, C.Mác đã đề ra một luận điểm vô cùng quan trọng về thời kỳ quá độ từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản trong thời kỳ đó: “ Giữa xã hội tư bản
chủ nghĩa và xã hội công sản chủ nghĩa, là một thời kỳ cải biến cách mạng từ
xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy, là một thời kỳ quá độ chính
trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên
chính cách mạng của giai cấp vô sản”.
C.Mác “phê phán cương lĩnh Gô-
ta”
1975/50.

II. Quan điểm của C.Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ
quá độ tư CNTB lên CNCS:
1. Quan điểm của C.Mác về thời kỳ quá độ lên CNCS:
Luận điểm quan trọng của Mác là luận điểm về hai giai đoạn của chủ nghĩa
cộng sản. Trong tác phẩm “phê phán cương lĩnh Gô-ta”(1875), qua nhận xét về
cương lĩnh của Lat-xan dự thảo cho Đảng Công nhân Đức, C.Mác đã trình bày
quan điểm của mình về hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản về nguyên tắc phân
phối trong mỗi giai đoạn.
C.Mác chỉ ra rằng, cần phân biệt rõ “xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát
triển trên những cơ sở của chính no”, hay là “giai đoạn cao hơn”, với “ một xã hội
cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa”, hay là “giai đoạn
đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ
nghĩa ra sau những cơn đau đẻ dài”.
SĐD tr 36.
Mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng: Nói về giai đoạn đầu của chủ
nghĩa cộng sản C.Mác chỉ ra rằng, đó là một xã hội mà về phương diện kinh tế,
đạo đức, tinh thần còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra.
Chính vì vậy, trong giai đoạn này còn có những thiếu sót không thể tránh khỏi.
Về mặt kinh tế, đó là sự thiếu sót trong khâu phân phối. Trong giai đoạn này việc
phân phối được thực hiện theo nguyên tắc phân phối sản phẩm tiêu dùng theo số
lượng và chất lượng lao động. Sự tiến bộ của nguyên tắc này là ở chỗ nó không
thừa nhận một sự phân biệt giai cấp nào cả, bất cứ người lao động nào cũng như
nhau. Một cống hiến của mỗi người được đo bằng một thước đo như nhau, tức là
bằng hiệu quả lao động . Sự thiếu sót không thể tránh khỏi của nguyên tắc này là ở
chỗ nó không thừa nhaahj sự không ngang nhau về thể chất, về tinh thần, năng
khiếu, tóm lại về năng lực lao động. Do đó, “quyền ngang nhau ấy là một quyền
không ngang nhau đối với một lao động không ngang nhau”. Về việc phân phối
những vật phẩm tiêu dung vẫn phải tuân theo nguyên tắc trong việc trao đổi hàng
hoá- vật ngang giá: một số lượng lao động dưới một hình thức này được đổi lấy

