
2. Quan h h p tác kinh t - th ng m i ệ ợ ế ươ ạ
Singapore là m t trong nh ng th tr ng quen thu c nh t c a Vi t Nam t nhi u th p k qua.ộ ữ ị ườ ộ ấ ủ ệ ừ ề ậ ỷ
Đi u này cũng d hi u vì c hai qu c gia cùng n m trong vùng Đông Nam Á; m t khác, do sề ễ ể ả ố ằ ặ ự
hi n di n đông đ o c a đ ng bào g c Hoa sinh s ng trên c hai đ t n c, t p quán th ngệ ệ ả ủ ồ ố ố ả ấ ướ ậ ươ
m i có nhi u nét t ng đ ng v i nhau. Sau ngày gi i phóng, vào đ u th p niên 1980, quan hạ ề ươ ồ ớ ả ầ ậ ệ
giao th ng gi a Vi t Nam và Singapore đ c n i l i qua nh ng th ng v gi n đ n, chươ ữ ệ ượ ố ạ ữ ươ ụ ả ơ ủ
y u là trao đ i hàng hoá. Đ n nay, sau g n 20 năm c ng c và không ng ng c i thi n quan hế ổ ế ầ ủ ố ừ ả ệ ệ
th ng m i gi a hai n c, Singapore đã tr thành m t trong nh ng khách hàng ch l c c aươ ạ ữ ướ ở ộ ữ ủ ự ủ
các nhà kinh doanh xu t nh p kh u Vi t Nam.ấ ậ ẩ ệ
Trong các n c ASEAN, Singapore luôn là th tr ng buôn bán s 1 c a Vi t Nam. T nhi uướ ị ườ ố ủ ệ ừ ề
năm nay, Singapore duy trì chính sách th ng m i, m u d ch t do thông thoáng, 96% hàng hoáươ ạ ậ ị ự
xu t nh p kh u ra vào th tr ng Singapore không ph i ch u thu . Vì v y, nhi u năm quaấ ậ ẩ ị ườ ả ị ế ậ ề
Singapore đ c coi nh th tr ng truy n th ng trung gian cho hàng hoá xu t nh p kh u c aượ ư ị ườ ề ố ấ ậ ẩ ủ
Vi t Nam v i th gi i vì đây là c ng bi n v n chuy n và chuy n t i hàng hoá h t s c thu nệ ớ ế ớ ả ể ậ ể ể ả ế ứ ậ
l i c a khu v c ASEAN. ợ ủ ự
D i đây là nh ng s li u di n t c th m i quan h th ng m i Vi t Nam - Singaporeướ ữ ố ệ ễ ả ụ ể ố ệ ươ ạ ệ
trong th i kỳ 2004-2007: ờĐvt: 1.000 USD
Năm Vi t Nam xu tệ ấ Vi t Nam nh pệ ậ T ng kim ng ch hai chi uổ ạ ề
2004 1.485.257 3.618.375 5.103.632
2005 1.916.973 4.482.305 6.399.278
2006 1.811.740 6.273.866 8.085.606
2007 2.202.005 7.608.599 9.810.604
(Ngu n: T ng c c H i quan Vi t Nam)ồ ổ ụ ả ệ
Kinh t châu Á là n n kinh t c a h n 4 t ng i (chi m 60% dân s th gi i) s ng 46 qu c gia khác nhau. Sáuế ề ế ủ ơ ỉ ườ ế ố ế ớ ố ở ố
n c n a v m t đ a lý cũng n m trong châu Á nh ng v m t kinh t và chính tr đ c tính vào châu l c khác.ướ ữ ề ặ ị ằ ư ề ặ ế ị ượ ụ
Nh t t c các vùng mi n khác trên th gi i, s th nh v ng c a kinh t châu Á có s khác nhau r t l n gi a cácư ấ ả ề ế ớ ự ị ượ ủ ế ự ấ ớ ữ
n c và c trong m t n c. Đi u đó là do quy mô c a nó r t l n, t văn hóa, môi tr ng, l ch s đ n h th ngướ ở ả ở ộ ướ ề ủ ấ ớ ừ ườ ị ử ế ệ ố
chính quy n. ề
Nh ng n n kinh t l n nh t trong châu Á tính theo GDP danh nghĩa là Nh t B n, Trung Qu c và n Đ . Kinh t cóữ ề ế ớ ấ ậ ả ố Ấ ộ ế
quy mô khác nhau, t Nh t b n v i n n kinh t đ ng th hai th gi i tính theo GDP danh nghĩa, t i Cambodia là m từ ậ ả ớ ề ế ứ ứ ế ớ ớ ộ
trong nh ng n c nghèo nh t.ữ ướ ấ
Quan h kinh tệ ế
Nh t B n là đ i tác kinh t quan tr ng hàng đ u c a Vi t Nam.ậ ả ố ế ọ ầ ủ ệ
[s aử] V m u d chề ậ ị
Nh t B n là b n hàng s 1 c a Vi t. Kim ng ch 2 chi u năm 2003 đ t 5,9 t ậ ả ạ ố ủ ệ ạ ề ạ ỷ USD. Hai n cướ
đã dành cho nhau thu su t ế ấ t i hu qu cố ệ ố t 1999.ừ
[s aử] Đ u t tr c ti pầ ư ự ế
Đ n tháng 11/2003 có 354 d án v i s v n đăng ký 4,47 t $. Trong s 62 n c vùng lãnhế ự ớ ố ố ỷ ố ướ
th có d án đ u t t i Vi t Nam, Nh t đ ng th 3 sau ổ ự ầ ư ạ ệ ậ ứ ứ Singapore và Đài Loan v s v nề ố ố
đăng ký nh ng đ ng đ u v kim ng ch đ u t đã đi vào th c hi n (3,7 t $). 11 tháng đ uư ứ ầ ề ạ ầ ư ự ệ ỷ ầ
năm 2003, Nh t đ ng th 5 trong s các n c và vùng lãnh th đ u t vào Vi t Nam v i sậ ứ ứ ố ướ ổ ầ ư ệ ớ ố
v n 78 tri u USD, gi m 35% so v i cùng kỳ năm 2002. Hai n c đã ký k t Hi p đ nh khuy nố ệ ả ớ ướ ế ệ ị ế

khích và b o h đ u t tháng 11/2003. Tháng 12/03 hai bên đã tho thu n Sáng ki n chungả ộ ầ ư ả ậ ế
nh m c i thi n môi tr ng đ u t t i Vi t Nam.ằ ả ệ ườ ầ ư ạ ệ
[s aử] V ềODA
Nh t B n là n c tài tr ODA l n nh t cho Vi t Nam, t 1992-2003 đ t kho ng 8,7 t USD,ậ ả ướ ợ ớ ấ ệ ừ ạ ả ỷ
chi m kho ng 30% t ng kh i l ng ODA c a c ng đ ng qu c t cam k t dành cho Vi tế ả ổ ố ượ ủ ộ ồ ố ế ế ệ
Nam, trong đó vi n tr không hoàn l i kho ng 1,2 t USD. T năm 2001, Nh t B n c t gi mệ ợ ạ ả ỷ ừ ậ ả ắ ả
10% ngân sách ODA nh ng v n gi và tăng kim ng ch ODA cho Vi t Nam. Năm 2003, m cư ẫ ữ ạ ệ ặ
dù c t gi m 5,8% ODA cho các n c nói chung, nh ng ODA cho Vi t Nam v n là 91,7 t ắ ả ướ ư ệ ẫ ỷ yên,
gi m kho ng 1.2% so v i năm 2002.ả ả ớ
Hai bên đã tho thu n ch ng trình vi n tr lâu dài c a Nh t B n cho Vi t Nam nh m vào 5ả ậ ươ ệ ợ ủ ậ ả ệ ằ
lĩnh v c chính là: phát tri n ngu n nhân l c và xây d ng th ch ; xây d ng và c i t o cácự ể ồ ự ự ể ế ự ả ạ
công trình giao thông và đi n l c; phát tri n nông nghi p và xây d ng c s h t ng nôngệ ự ể ệ ự ơ ở ạ ầ
thôn; phát tri n giáo d c đào t o và y t ; b o v môi tr ng. Ngày 2/6/04, Nh t B n đã côngể ụ ạ ế ả ệ ườ ậ ả
b chính sách vi n tr ODA m i cho Vi t Nam v i 3 m c tiêu chính: Thúc đ y tăng tr ng,ố ệ ợ ớ ệ ớ ụ ẩ ưở
c i thi n đ i s ng - xã h i, hoàn thi n c c u.ả ệ ờ ố ộ ệ ơ ấ
[s aử] V h p tác lao đ ngề ợ ộ
T năm 1992 đ n nay, Vi t Nam đã c 16 ngàn ừ ế ệ ử tu nghi p sinhệ Vi t Nam sang Nh t. Nh t làệ ậ ậ
m t th tr ng ti m năng cho lao đ ng Vi t nam trong 5-10 năm t i. Tuy nhiên m y năm g nộ ị ườ ề ộ ệ ớ ấ ầ
đây n i lên v n đ lao đ ng Vi t Nam b tr n t i Nh t (t l b tr n năm 2002 là 24,7%, caoổ ấ ề ộ ệ ỏ ố ạ ậ ỷ ệ ỏ ố
nh t trong các n c c lao đ ng sang Nh t) gây khó khăn cho vi c h p tác lao đ ng.ấ ướ ử ộ ậ ệ ợ ộ
[s aử] V văn hóa giáo d cề ụ
Hai n c đang tri n khai các ch ng trình đào t o con ng i, ch ng trình thanh niênướ ể ươ ạ ườ ươ
ASEAN (100 ng i/năm) và trao đ i các đoàn văn hóa, nh ng ng i ng i tình nguy n,ườ ổ ữ ườ ườ ệ
chuyên gia. Hàng năm Chính ph Nh t vi n tr cho Vi t Nam t 1 đ n 2 d án vi n tr vănủ ậ ệ ợ ệ ừ ế ự ệ ợ
hoá không hoàn l i nh thi t b h c ngo i ng , thi t b b o qu n t li u ạ ư ế ị ọ ạ ữ ế ị ả ả ư ệ Vi n Hán-Nômệ, B oả
tàng L ch sị ử, x ng phim ho t hình. V giáo d c, ưở ạ ề ụ Chính ph Nh t B nủ ậ ả nh n kho ng trên 100ậ ả
h c sinh sinh viên Vi t Nam sang Nh t B n đào t o hàng năm. Ngoài ra còn có nhi u h c sinhọ ệ ậ ả ạ ề ọ
du h c t túc. T ng s l u h c sinh Vi t Nam Nh t hi n nay kho ng h n 1000 ng i.ọ ự ổ ố ư ọ ệ ở ậ ệ ả ơ ườ
Trong 5 năm (1994-1999), Chính ph Nh t đã vi n tr 9,5 t yên đ xây d ng 195 tr ng ti uủ ậ ệ ợ ỉ ể ự ườ ể
h c các t nh mi n núi và vùng ven bi n hay b thiên tai.ọ ở ỉ ề ể ị
[s aử] V du l chề ị
Nh t B n cũng là m t th tr ng đ c chú tr ng đ phát tri n du l ch Vi t Nam. Năm 2002 đãậ ả ộ ị ườ ượ ọ ể ể ị ệ
có 280 ngàn. Do nh h ng c a ả ưở ủ SARS, du l ch Nh t B n vào Vi t nam trong năm 2003 gi mị ậ ả ệ ả
sút. Tuy nhiên, c h i và ti m năng thúc đ y h p tác du l ch gi a hai n c còn r t l n. Tơ ộ ề ẩ ợ ị ữ ướ ấ ớ ừ
tháng 1/2004, Vi t Nam đã chính th c đ n ph ng mi n th th c cho ng i Nh t B n đi duệ ứ ơ ươ ễ ị ự ườ ậ ả
l ch và kinh doanh vào Vi t Nam trong vòng 15 ngày và g n đây nh t t 1/7/2004, Vi t Nam đãị ệ ầ ấ ừ ệ
quy t đ nh mi n th th c nh p c nh ng n h n cho công dân Nh t. Đây là thu n l i l n đế ị ễ ị ự ậ ả ắ ạ ậ ậ ợ ớ ể
thúc đ y du l ch Nh t B n vào Vi t Nam. T ngày 1/5/2005, Vi t Nam và Nh t B n songẩ ị ậ ả ệ ừ ệ ậ ả
ph ng mi n th th c ươ ễ ị ự h chi uộ ế ngo i giao, h chi u công v .ạ ộ ế ụ
Ngoại trưởng Nhật Bản Okada và Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)
VNA 18/1/2010 - Nhân dịp bế mạc cuộc họp lần thứ 3 Ủy ban Hợp tác Việt-Nhật tại thủ đô Tokyo (Nhật Bản),
phóng viên TTXVN đã phỏng vấn Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm về nội dung cuộc họp
cũng như quan hệ hợp tác giữa hai nước thời gian gần đây.

Xin Phó Thủ tướng cho biết các kết quả quan trọng của cuộc họp lần thứ 3 Ủy ban Hợp tác Việt-Nhật?
Phó Thủ tướng: Có thể nói cuộc họp lần thứ 3 Ủy ban Hợp tác Việt-Nhật đã thành công tốt đẹp. Hai bên đã
kiểm điểm kết quả hợp tác giữa hai nước sau cuộc họp lần thứ 2 tại Hà Nội năm 2008, đồng thời trao đổi ý kiến
nhằm thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực, nhất là về kinh tế, đầu tư, thương mại, lao động,
giáo dục và du lịch.
Hai bên khẳng định sẽ nỗ lực thúc đẩy đà phát triển tốt đẹp trong quan hệ hợp tác giữa hai nước, tăng cường
giao lưu cấp cao và triển khai hiệu quả những cam kết và thỏa thuận đã đạt được.
Về hợp tác kinh tế, phía Nhật Bản tái khẳng định sẽ tích cực hợp tác với Việt Nam để tiếp tục triển khai 3 dự án
lớn mang tính chiến lược là xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam, đường bộ cao tốc Bắc-Nam và Khu
công nghệ cao Hòa Lạc.
Về hợp tác đầu tư-thương mại, hai bên đã trao đổi các biện pháp để triển khai nhanh chóng, có hiệu quả Hiệp
định Đối tác Kinh tế Việt-Nhật mà hai nước đã ký tháng 12/2008.
Bên cạnh đó, hai bên nhất trí sớm tiến hành đàm phán về việc hợp tác đào tạo hộ lý, y tá Việt Nam sang làm
việc tại Nhật Bản; đồng thời tích cực hợp tác phát triển ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam cũng như hợp
tác trong lĩnh vực kiểm dịch thực vật để sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, vốn rất được các du khách Nhật Bản
ưa thích, có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với thị trường Nhật Bản.
Cũng tại cuộc họp, hai bên đã trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm; khẳng định tiếp tục
hợp tác chặt chẽ trên các diễn đàn quốc tế và khu vực, đặc biệt trong năm 2010, Việt Nam giữ chức Chủ tịch
ASEAN và Nhật Bản là nước chủ trì Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương
(APEC). Phía Nhật Bản cũng đánh giá cao vai trò của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế này.
Bên lề cuộc họp lần thứ 3 Ủy ban Hợp tác Việt-Nhật, hai bên đã tiến hành phiên họp đầu tiên về trao đổi thông
tin liên quan đến quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam nhằm giúp Nhật Bản hiểu rõ và sớm công nhận kinh
tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường.
Phó Thủ tướng đánh giá thế nào về quan hệ hợp tác song phương kể từ khi lãnh đạo cấp cao hai nước nhất trí
xây dựng quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á?
Phó Thủ tướng: Quan hệ hợp tác hữu nghị Việt-Nhật đang phát triển rất tốt đẹp. Trong chuyến thăm chính thức
Nhật Bản tháng 4/2009, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã cùng lãnh đạo cấp cao Nhật Bản nhất trí nâng quan
hệ hai nước lên tầm “Đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”. Đây là mốc quan trọng đánh dấu
một giai đoạn phát triển mới toàn diện và sâu sắc giữa hai nước.
Cùng với chuyến thăm của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, trong năm 2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có
các chuyến thăm làm việc tại Nhật Bản vào tháng 5 và tháng 11 nhằm cụ thể hóa nội hàm quan hệ đối tác
chiến lược.
Chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của Hoàng Thái tử Nhật Bản cũng đã tạo dấu ấn quan trọng trong quan hệ

hữu nghị giữa hai nước. Chính phủ mới ở Nhật Bản, đứng đầu là Thủ tướng Yukio Hatoyama, đã nhiều lần
khẳng định coi trọng và mong muốn tăng cường hơn nữa quan hệ với Việt Nam.
Mặc dù hai nước đều chịu tác động nặng nề của khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu, nhưng năm ngoái, kim
ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Nhật Bản và đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam vẫn được duy trì
ở mức khá cao.
Đặc biệt, cam kết viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản dành cho Việt Nam đã đạt mức kỷ lục
khoảng 1,6 tỷ USD trong năm 2009. Việc Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt-Nhật (VJEPA), bắt đầu có hiệu lực từ
ngày 1/10/2009, là một sự kiện có ý nghĩa to lớn, tạo cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy hợp tác đầu tư, thương
mại giữa hai nước phát triển mạnh mẽ, nhất là hàng nông sản Việt Nam có cơ hội để nhanh chóng tiếp cận thị
trường Nhật Bản.
Năm qua, với việc mở đường bay trực tiếp giữa Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Fukuoka và sắp tới sẽ mở thêm
đường bay Đà Nẵng-Osaka, giao lưu nhân dân và hợp tác du lịch giữa hai nước đã được tăng cường một cách
đáng kể.
Các hoạt động văn hóa được tổ chức tại hai nước như "Lễ hội Việt Nam" tại Nhật Bản, "Những ngày giao lưu
văn hóa Việt Nam-Nhật Bản" tại Hội An, "Những ngày Du lịch-Văn hóa Mekong-Nhật Bản" tại Cần Thơ... đã
gây được tiếng vang lớn trong dư luận mỗi nước, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và thắt chặt thêm
tình cảm giữa nhân dân hai nước.
Việc hợp tác giữa hai nước tại các diễn đàn quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, APEC, ASEM, ASEAN, Hội
nghị Thượng đỉnh Mekong-Nhật Bản... cũng có những tiến triển tích cực, xứng đáng với mối quan hệ đối tác
chiến lược giữa hai nước./.

