BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Giáo viên hướng dẫn

: Ths. Chu Thị Thu Thủy

Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Chuyên ngành : Nguyễn Ngọc Diệp : A16787 : Tài chính – Ngân hàng

HÀ NỘI – 2014

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên cho em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể Ban Giám Hiệu khoa Kinh Tế -

Quản lý, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng tại trường Đại Học Thăng Long đã tạo điều kiện cho em được làm Khóa luận tốt nghiệp này. Đây là một cơ hội tốt để

cho Em có thể thực hành các kỹ năng được học trên lớp và cũng giúp ích rất lớn để

Em ngày càng tự tin về bản thân mình hơn.

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Cô Chu Thị Thu Thủy trong suốt thời

gian vừa qua đã không quản ngại khó khăn và đã nhiệt tình chỉ dạy, giúp đỡ để em có thể hoàn thành tốt bài Khóa luận tốt nghiệp này.

Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể bạn bè, người thân, gia đình những

người đã luôn bên cạnh em, cổ vũ tinh thần lớn lao và đã ủng hộ em trong suốt thời

gian qua.

Do trình độ lý luận và nhận thức còn hạn chế, thời gian kiến tập có hạn nên Khóa

luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp

ý, chỉ bảo của thầy cô trong tổ bộ môn. Nhất là sự hướng dẫn của Cô Chu Thị

Thu Thủy để giúp em có thể hoàn thành bản Khóa luận này một cách tốt nhất.

Em xin chân thành cảm ơn !

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có

sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của

người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc

và được trích dẫn rõ ràng.

Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Nguyễn Ngọc Diệp

MỤC LỤC CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN

NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

HỒ CHÍ MINH ......................................................................................................... 1

1.1. Tổng quan về VLĐ và quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp ............... 1

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của vốn lưu động trong ngành xây dựng ... 1

1.1.1.1 Khái niệm về vốn lưu động : .......................................................................... 1

1.1.1.2. Đặc Điểm của vốn lưu động : ....................................................................... 1

1.1.1.3 Vai trò của vốn lưu động : .............................................................................. 2

1.1.2. Phân loại vốn lưu động trong doanh nghiệp : ............................................... 3

1.1.2.1. Phân loại vốn lưu động theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh : ........................................................................................................ 3

1.1.2.2. Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện : ........................................ 4

1.1.2.3. Phân loại vốn theo quan hệ sở hữu về vốn : ................................................. 4

1.1.2.4. Phân loại vốn theo thời gian huy động vốn và sử dụng vốn: ........................ 4

1.1.3. Kết cấu vốn lưu động trong doanh nghiệp : .................................................. 5

1.1.3.1. Kết cấu vốn lưu động : .................................................................................. 5

1.1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đên kết cấu vốn lưu động : ...................................... 7

1.1.4. Nguồn hình thành vốn lưu động :.................................................................. 7

1.1.5. Quản lý vốn lưu động : ................................................................................... 8

1.1.5.1. Khái niệm quản lý vốn lưu động ................................................................... 8

1.1.5.2. Nội dung quản lý vốn lưu động : .................................................................. 9

1.1.6. Nguyên tắc các chính sách quản lý vốn lưu động ....................................... 21

1.1.6.1. Nguyên tắc quản lý vốn lưu động : ............................................................. 21

1.1.6.2. Chính sách quản lý vốn lưu động: ............................................................... 22

1.2. Hiệu quả quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp : .................................... 24

1.2.1. Khái niệm hiệu quả và hiệu quả quản lý vốn lưu động .............................. 24

1.2.1.1. Khái niệm hiệu quả : ................................................................................... 24

1.2.1.2. Khái niệm hiệu quả quản lý vốn lưu động : ................................................ 24

1.2.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp:

.................................................................................................................................. 25

1.2.3. Các phương pháp đánh giá hiệu quả quản lý vốn lưu động : .................... 27

1.2.3.1.Phương pháp tỷ số ........................................................................................ 27

1.2.3.2. Phương pháp so sánh : ................................................................................ 28

1.2.3.3. Phương pháp phân tích Dupont ................................................................... 28

1.2.4.Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý vốn lưu động : ............................... 30

1.2.4.1.Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý vốn lưu động chung : .................... 30

1.2.4.2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý từng thành phần vốn lưu động ..... 33

1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý VLĐ : ......................................... 37

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG VỀ VIỆC QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA

CÁC CÔNG TY NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH

CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ............................................. 38

2.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam ........................................ 38

2.1.1. Thị trường chứng khoán Việt Nam .............................................................. 38

2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của Sở giao dịch chứng khoán thành phố

Hồ Chí Minh ............................................................................................................ 39

2.1.3. Số lượng cổ phiếu qua các năm ................................................................... 40

2.2. Đặc điểm, tình hình phát triển hiện nay và triển vọng của ngành xây dựng

.................................................................................................................................. 41

2.2.1. Đặc điểm, tình hình phát triển hiện nay của ngành ................................... 41

2.2.2. Triển vọng của ngành ................................................................................... 43

2.3. Thực trạng về việc quản lý vốn lưu động của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh .................... 45

2.3.1. Nhóm chỉ tiêu thể hiện tỷ số khả năng sinh lời (ROA, ROE, ROS) ........... 45

2.3.2. Chỉ tiêu thể hiện tỷ suất sinh lời Vốn lưu động ........................................... 52

2.3.3. Nhóm chỉ tiêu thể hiện khả năng thanh toán:............................................. 55

2.3.4. Nhóm chỉ tiêu phân tích vốn lưu động : ...................................................... 59

2.3.5. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý từng thành phần vốn lưu động ... 62

2.4. Đánh giá hiệu quả quản lý vốn lưu động ...................................................... 65

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÔN LƯU

ĐỘNG TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH

CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH ................................................................ 69

3.1. Phương hướng phát triển ngành xây dựng: ................................................. 69

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động của các công ty xây

dựng. ........................................................................................................................ 69

3.2.1. Giải pháp xác định nhu cầu vốn lưu động .................................................. 69

3.2.2. Tăng cường công tác quản lý và sử dụng hàng tồn kho. ............................ 70

3.2.3 Quản lý các khoản phải thu: ......................................................................... 71

3.2.4. Quản lý và sử dụng ngân quỹ ....................................................................... 74

3.3. Một số kiến nghị với Nhà nước: ..................................................................... 75

3.3.1.Phát triển thị trường bất động sản lành mạnh ............................................. 76

3.3.2. Một số kiến nghị khác: .................................................................................. 77

Kết Luận .................................................................................................................. 77

PHỤ LỤC ................................................................................................................ 79

1.1.Thu nhập sau thuế: .......................................................................................... 79

1.2. Doanh thu thuần .............................................................................................. 80

1.3. Chỉ tiêu ROA, ROE, ROS .............................................................................. 82

1.4. Các chỉ tiêu về vốn lưu động .......................................................................... 83

Tài liệu tham khảo ................................................................................................. 86

DANH MỤC VIẾT TẮT

Tên các tổ chức niêm yết

Công ty cổ phần bê tông Becamex CTCP Xây dựng và Giao thông Bình Dương Công ty Cổ phần Beton 6 Công ty cổ phần xây dựng 47 CTCP Chương Dương CTCP COMA18 CTCP Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật TP.HCM CTCP Đầu tư và Phát triển Nhà đất Cotec Công ty Cổ phần Xây dựng Cotec CTCP Đầu tư Phát triển Cường Thuận IDICO CTCP Kỹ Thuật Nền Móng và Công trình Ngầm Fecon CTCP HACISCO. CTCP Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hòa Bình CTCP Tập đoàn Hà Đô CTCP Đầu tư Phát triển Hạ tầng IDICO Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng HUD1 Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng HUD3 Công ty Cổ phần LICOGI 16 CTCP Đầu tư Cầu Đường CII CTCP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang CTCP Miền Đông CTCP Phát triển hạ tầng & Bất động sản Thái Bình Dương CTCP Đầu tư và Xây dựng Bưu Điện CTCP Xây dựng Công nghiệp & Dân dụng Dầu khí

Mã MCK khoán ACC BCE BT6 C47 CDC CIG CII CLG CTD CTI FCN HAS HBC HDG HTI HU1 HU3 LCG LGC LGL MDG PPI PTC PXI

CTCP Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí

PXS

Công ty Cổ phần Xây lắp Đường ống Bể chứa Dầu khí

PXT

Công ty Cổ phần Cơ Điện Lạnh

REE

Công ty Cổ phần Xây dựng số 5

SC5

SRF

Công ty cổ phần Kỹ Nghệ Lạnh CTCP Xây dựng và Phát triển Đô thị Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

UDC

Tổng CTCP Xây dựng Điện Việt Nam

VNE

CTCP Đầu tư và Xây dựng Cấp thoát Nước

VSI

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Phân tích cơ cấu vốn lưu động chi tiết theo hình thái biểu hiện ......... 6

Bảng 1.2. Bảng kết cấu nguồn tài trợ ngắn hạn vốn lưu động bằng các khoản nợ

ngắn hạn .................................................................................................................... 7

Bảng 2.1. Thống kê ROA từ năm 2011 đến 2013 ................................................ 45

Bảng 2.2. Thống kê ROE từ năm 2011 đến năm 2013 ........................................ 47

Bảng 2.3. Thống kê ROS từ năm 2011 đến năm 2013 ....................................... 50

Bảng 2.4. Thống kê Tỷ suất sinh lời vốn lưu động từ năm 2011 đến 2013 ....... 53

Bảng 2.5. Thống kê hệ số thanh toán hiện thời từ năm 2011 đến 2013 ............. 55

Bảng 2.6. Thống kê hệ số thanh toán nhanh từ năm 2011 đến 2013 ................. 57

Bảng 2.7. Thống kê hệ số thanh toán nhanh tức thời từ năm 2011 đến 2013 ... 58

Bảng 2.8. Thống kê tốc độ luân chuyển vốn lưu động từ năm ........................... 60

Bảng 2.9. Thống kê thời gian của một vòng luân chuyển ................................... 61

Bảng 3.1. Thống kê tỉ số hàm lượng vốn lưu động từ năm 2011 đến 2013 ....... 62

Bảng 3.2. Thống kê vòng quay hàng tồn kho từ năm 2011 đến 2013 ................ 62

Bảng 3.3. Thống kê tỷ suất sinh lời hàng tồn kho ............................................... 64

Bảng 3.4. Thống kê tình hình quản lý khoản phải thu tại ACC ........................ 65

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ Sơ đồ 1.1.Quản lý tiền mặt theo mô hình Miller - orr ........................................ 15

Biểu đồ 2.1. Số lượng các Công ty niêm yết trên TTCK VN qua các năm ....... 40

Biểu đồ 2.2. Tốc đô tăng trưởng GDP bình quân theo nhóm ngành thời kì 2006

– 2013 và 6 tháng đầu năm 2014 (%) ................................................................... 42

Biểu đồ 2.3. Tỷ trọng đóng góp của ngành xây dựng qua các năm ................... 43

Biểu đồ 2.4. Thống kê ROA từ năm 2011 đến 2013 ............................................ 46

Biểu đồ 2.5. Thống kê ROE từ năm 2011 đến 2013 ............................................ 48

Biểu đồ 2.6. Thống kê ROS từ năm 2011 đến năm 2013 .................................... 50

Biểu đồ 2.7. Thống kê Tỷ suất sinh lời vốn lưu động từ năm 2011 đến 2013 ... 54

Biểu đồ 2.8. Thống kê hệ số thanh toán hiện thời từ năm 2011 đến 2013 ......... 55

Biểu đồ 2.9. Thống kê hệ số thanh toán từ năm 2011 đến 2013 ......................... 57

Biểu đồ 3.1. Thống kê hệ số thanh toán tức thời từ năm 2011 đến 2013 .......... 59

Biểu đồ 3.2. Thống kê tốc độ luận chuyển vốn lưu động từ năm 2011 đến 2013

.................................................................................................................................. 60

Biểu đồ 3.3. Tốc độ tăng GDP bình quân năm thời kỳ 2006 – 2013 và 6 tháng

đầu năm 2014 (%) .................................................................................................. 66

Mô hình 1: Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu ............................................. 71

Mô hình 2: Mô hình thắt chặt chính sách bán chịu ............................................ 72

LỜI MỞ ĐẦU

Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu :

1. iện nay sự cạnh tranh trong nền kinh tế nước ta ngày càng trở nên gay gắt trước

xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá. Nhất là khi nước ta vừa mới gia nhập tổ

H

chức thương mại thế giới WTO thì phải đối đầu với nhiều thách thức cạnh tranh trên mọi lĩnh vực kinh tế như công nghiệp, du lịch và dịch vụ...Bên cạnh những khó khăn

thì cũng có rất nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước phát triển như môi

trường kinh doanh mở rộng, cơ hội học hỏi ,chiếm lĩnh công nghệ-kĩ thuật của các

đối tác trong và ngoài nước.

Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới cơ chế quản lý, hệ thống cơ sở hạ tầng ở nước ta có nhiều bước phát triển vượt bậc đóng góp cho sự phát triển này là

nỗ lực không ngừng của ngành xây dựng cơ bản, một ngành mũi nhọn trong chiến lược của đất nước. Sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản có tính chất kinh tế, kỹ

thuật, văn hóa, nghệ thuật cao, góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh tốc độ tăng

trưởng phát triển của khoa học kỹ thuật và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho

người dân. Tuy nhiên, hiện nay vẫn có rất nhiều doanh nghiệp xây dựng đang phải

đối mặt với nhưng thách thức về vốn, đặc biệt là vốn lưu động trong quá trình xây

dựng, một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc góp phần tạo nên thành công của

mỗi dự án.

Vấn đề quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn cũng là vấn đề rất quan trọng. Chúng ta

biết rằng vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp và tiến

hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.Vốn kinh doanh bao gồm vốn cố định và

vốn lưu động. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững cần phải có

chiến lược và bước đi thích hợp. Trước tình hình đó, vấn đề nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn lưu động càng được đặc biệt quan tâm. Đặc biệt là đối với những doanh

nghiệp xây dựng khi đầu tư lượng tiền mặt nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu...phục vụ cho quá trình xây dựng. Như vậy,vốn lưu động là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động nói cách khác vốn lưu động là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì lẽ đó, vốn lưu động là yếu tố quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ vốn kinh doanh sản xuất, đặc biệt là

đối với các doanh nghiệp xây dựng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, hiệu quả sử dụng vốn lưu động vẫn còn thấp so với mục tiêu. Thực tế đó ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của các công ty xây dựng nói riêng và toàn ngành nói chung. Với nhận thức như vậy, bằng những kiến thức đã tích lũy được trong suốt thời gian học tập tại trường em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Quản trị vốn lưu động và một số giải pháp

nâng cao hiệu quả quản trị vốn lưu động của các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” làm đề

tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu :

Từ những số liệu tài chính chung của các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, qua đó đánh giá thực trạng

toàn ngành và đưa ra những giải pháp nâng cao điểm mạnh cũng như hạn chế tối

thiểu những mặt chưa hoàn thiện trong công tác quản lý vốn lưu động nhằm tối đa

hóa lợi nhuận đem về những giá trị tốt đẹp và bền vững nhất cho ngành xây dựng

Việt Nam.

3. Đối tượng nghiên cứu :

Quản trị vốn lưu động và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị vốn lưu động của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố

Hồ Chí Minh.

4. Phương pháp nghiên cứu : sử dụng 2 phương pháp chính sau

Phương pháp thu thập tài liệu :

Thu thập qua các giáo trình :

+ GT- Phân tích báo cáo tài chính,NXB Đại học KTQD – Hà Nội(2011)

+ GT- Phân tích hoạt động kinh doanh , NXB Thống Kê – Hà Nội (2004)

+ GT – Quản lý tài chính doanh nghiệp , NXB Lao động – Xã hội Hà Nội ( 2008)

+ GT- Phân tích kinh doanh , NXB Đại học KTQD – Hà Nội(2013)

+ Tài chính doanh nghiệp,NXB Tài Chính (2009)

+ Higgins (2004) Analysis Financial Management . New York : McGraw-Hill

Thu thập dữ liệu về Vốn lưu động qua :

+ Báo cáo tài chính đã được kiểm toán

+ Tình hình biến động TSNH , VLĐ , nguồn hình thành ... Phương pháp phân tích số liệu : + Phương pháp tỷ số : Tính toán các tỷ số giữa các số liệu + Phương pháp so sánh : So sánh tỷ trọng định tính & định lượng giữa các chỉ tiêu + Phương pháp phân tích Dupont : Phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính

+ Phương pháp bảng biểu, đồ thị : Phản ánh trực quan số liệu phân tích thông qua các bảng biểu và đồ thị

5. Kết cấu Khóa luận :

Đề tài :“Quản trị vốn lưu động và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị

vốn lưu động của các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.”

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kết

cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về quản lý vốn lưu động và hiệu quả quản lý vốn lưu

động của các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng

khoán thành phố Hồ Chí Minh . Chương 2: Thực trạng quản lý vốn lưu động và hiệu quả quản lý vốn lưu động vốn

lưu động của các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng

khoán thành phố Hồ Chí Minh.

Chương 3 : Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động cho các công ty cổ

phần ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và toàn ngành nói chung.

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ

QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN HỒ CHÍ MINH

1.1. Tổng quan về VLĐ và quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của vốn lưu động trong ngành xây dựng 1.1.1.1 Khái niệm về vốn lưu động :

Bất cứ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh cũng cần có

ba yếu tố là đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động là vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Khác

với các tư liệu lao động, các đối tượng lao động (như nguyên vật liệu, bán thành phẩm) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất

ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm .Vì

vậy ta có thể khái quát về khái niệm vốn lưu động như sau:

“ Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về những tài sản lưu động

hiện có của doanh nghiệp để đảm bảo cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

được bình thường liên tục. Vốn lưu động luân chuyển ngay trong một lần và được

thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh

doanh”

(Trích nguồn: Tài chính doanh nghiệp- trang 171+172, NXB Đại học KTQD – HN)

Thực chất, đối tượng lao động trong doanh nghiệp được biểu hiện thành hai bộ phận

là những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục, một bộ phận

khác là những vật tư đang trong quá trình chế biến (sản phẩm dở dang). Hai bộ phận

này từ hình thái hiện vật của nó gọi là tài sản lưu động.

1.1.1.2. Đặc Điểm của vốn lưu động :

Vốn cố định là hình thái vật chất của tài sản cố định và vốn lưu động là hình thái vật chất của tài sản lưu động. Do vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi ba đặc điểm chính của tài sản lưu động như sau.

Thứ nhất, vốn lưu động thường xuyên vận động không ngừng qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Để quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục và không bị gián đoạn. Cụ thể vốn lưu động đối với các doanh nghiệp sản xuất không ngừng vận động qua các giai đoạn dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông. Sự lặp đi lặp lại của vòng tuần hoàn vốn lưu động càng lớn trong một

1

khoảng thời gian thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao. Sự vận động của vốn

lưu động có thể mô tả bằng sơ đồ sau :

H Sản xuất H’ T’

Giai đoạn 2 Giai đoạn3

T Giai đoạn 1

Đối với các công ty thương mại, dịch vụ do quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ

xảy ra đồng thời nên vốn lưu động chuyển hóa qua hai giai đoạn:

T H T’

Thứ hai, trong quá trình vận động thì vốn lưu động luôn thay đổi hình thái vật

chất, từ hình thái ban đầu là tiền tệ sang hình thái vật tư hàng hóa và cuối cùng quay lại hình thái ban đầu là tiền tệ. Theo như hai sơ đồ trên, vốn lưu động vận động qua

3 giai đoạn và chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền tệ sang hình thái vật tư hàng

hóa và cuối cùng quay trở lại hình thái tiền tệ ban đầu, kết thúc 1 vòng tuần hoàn vốn

lưu động. Cụ thể đặc điểm của từng giai đoạn như sau :

Giai đoạn 1 ( T – H ) : Đây là giai đoạn dự trữ sản xuất. Ở giai đoạn này, vốn lưu

động của doanh nghiệp từ hình thái vốn lưu động bằng tiền chuyển sang hình thái

vốn lưu động bằng hiện vật mà cụ thể là vật tư dự trữ cho sản xuất .

Giai đoạn 2 ( H – Sản xuất – H’ ): Giai đoạn sản xuất. Ở giai đoạn này, vật tư dự

trữ được đưa vào chuẩn bị cho sản xuất , xuất dùng cho sản xuất , kết hợp với các

yếu tố khác của quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm . Vốn lưu động của doanh

nghiệp từ hình thái vật chất này chuyển sang hình thái vật chất khác : từ vật tư -› sản

phẩm dở dang -› bán thành phẩm -› thành phẩm .

Giai đoạn 3 ( H’ – T’ ) : Giai đoạn lưu thông : Sản phẩm do doanh nghiệp tạo ra

được đưa đi tiêu thụ và thu tiền về. Ở giai đoạn này, vốn lưu động của doanh nghiệp từ hình thái hiện vật chuyển sang hình thái tiền tệ: Thành phẩm -› Tiền tệ. Vòng tuần hoàn vốn lưu động kết thúc . Cuối cùng, vốn lưu động chuyển hóa toàn bộ giá trị một lần vào quá trình sản xuất và toàn bộ giá trị này được thu hồi một lần sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh.

1.1.1.3 Vai trò của vốn lưu động : VLĐ có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình SXKD cũng như ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của DN.

Về mặt pháp lý: Mỗi DN khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là DN đó phải có một lượng vốn nhất định. Khi đó địa vị pháp lý của DN mới được xác lập, DN mới đi vào hoạt động SXKD. Nếu điều kiện về vốn không được đảm bảo theo yêu

2

cầu của pháp luật thì DN sẽ bị chấm dứt hoạt động. Như vậy, vốn có thể xem là một

trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp lý của DN trước

pháp luật.

Về mặt kinh tế: VLĐ là một bộ phận của VKD, là một bộ phận không thể thiếu

được trong hoạt động SXKD của DN. Vốn không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ và lao động để phục vụ cho quá trình kinh

doanh, mà còn đảm bảo cho quá trình kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục .

Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất,

là một bộ phận trực tiếp hình thành nên thực thể của sản phẩm. Trong cùng một lúc,

vốn lưu động của doanh nghiệp được phổ biến khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên

tục Doanh nghiệp phải có đủ lượng vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau. Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tư,

cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ của

doanh nghiệp Nhưng mặt khác, vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm còn phản

ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và

lưu thông sản phẩm có hợp lý không. Bởi vậy, thông qua quá trình luân chuyển vốn

lưu động còn có thể đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt như mua sắm dự trữ

sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp.

Từ những vai trò nêu trên, cho thấy mỗi doanh nghiệp phải có những biện pháp nhằm

quản trị hiệu quả vốn lưu động, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.2. Phân loại vốn lưu động trong doanh nghiệp :

Để quản lý và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải tiến hành phân loại

vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau.Thông thường có những

cách phân loại như sau

1.1.2.1. Phân loại vốn lưu động theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình

sản xuất kinh doanh : Theo cách này vốn lưu động được chia làm 3 loại

Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất : Bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu chính ,vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.

Đây là bộ phận vốn cần thiết để hình thành những khoản dự trữ vật tư đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .

Vốn lưu động trong khâu sản xuất : Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang

, bán thành phẩm , các khoản chi phí chờ kết chuyển.

Vốn lưu động trong khâu lưu thông : Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm , vốn bằng tiền ( kể cả vàng , bạc , đá quý...) ; các khoản vốn đầu tư ngắn hạn( đầu tư

3

chứng khoán ngắn hạn , cho vay ngắn hạn...) các khoản thế chấp , ký cược , ký quỹ

ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán ( các khoản phải thu , các khoản tạm ứng...)

Ý nghĩa :Việc phân loại vốn lưu động theo cách này giúp cho nhà quản lý biết được

kết cấu vốn lưu động theo vai trò của từng loại vốn , từ đó thấy được sự phân bổ vốn

lưu động vào các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để có biện pháp quản lý , điều chỉnh cơ cấu vốn cho hợp lý, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn

lưu động .

1.1.2.2. Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện : Theo cách phân loại này vốn lưu động được chia làm 2 loại .

Vốn vật tư hàng hóa : là số vốn lưu động của doanh nghiệp đước biểu hiện dưới hình thái hiện vât cụ thể , bao gồm : Vật tư dự trữ ( Nguyên nhiên liệu , công cụ dụng

cụ ) , Sản phẩm dở dang , bán thành phẩm , thành phẩm chờ tiêu thụ )

Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán : Vốn bằng tiền ( tiền mặt tại quỹ , tiền

gửi ngân hàng , tiền đang chuyển ) và vốn trong thanh toán ( gồm các khoản tạm thu

, tạm ứng...)

Ý nghĩa :Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý tìm ra được những biện pháp thích

hơp để phát huy chức năng của từng bộ phận vốn, đồng thời có thể xem xét, đánh giá

khả năng của doanh nghiệp. Mặt khác cách phân loại này còn tạo điều kiện cho việc

xem xét và đánh giá mức tồn kho dự trữ, tồn quỹ tiền mặt qua đó xác định được mức

đầu tư cũng như chính sách tín dụng thương mại hợp lý nhất để đảm bảo khả năng

thanh toán cho doanh nghiệp.

1.1.2.3. Phân loại vốn theo quan hệ sở hữu về vốn : Theo cách phân loại này , vốn được chia thành 2 loại :

Vốn chủ sở hữu : là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp .

Doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt số vốn này. Tùy

theo từng loại hình doanh nghiệp mà vốn lưu động chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như vốn Ngân sách Nhà nước cấp , vốn do chủ donh nghiệp bỏ ra , vốn góp... Các khoản nợ : là số vốn lưu động được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành trái phiểu , các khoản nợ khách hàng , nợ người bán chưa thanh toán...

Ý nghĩa: Việc phân loại vốn theo cách này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay là từ các khoản nợ. Từ đó nhà quản lý doanh nghiệp có các quyết định hợp lý trong huy động , quản lý và sử dụng vốn lưu động .

1.1.2.4. Phân loại vốn theo thời gian huy động vốn và sử dụng vốn: Vốn lưu động được chia thành các nguồn sau :

4

Nguồn vốn lưu động tạm thời ( không thường xuyên ) : là nguồn vốn có tính chất

ngắn hạn dưới 1 năm bao gồm các khoản nợ ngắn hạn nhằm đáp ứng các nhu cầu

vốn phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nguồn vốn lưu động thường xuyên : là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn

định mà doanh nghiệp có thể sử dụng có tính chất dài hạn vào hoạt động sản xuất kinh doanh . Bao gồm Vốn chủ sở hữu và Vốn vay dài hạn .

Ý nghĩa: Việc phân loại vốn lưu động theo thời gian huy động và sử dụng vốn giúp

doanh nghiệp thấy được cơ cấu nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh

doanh của mình. Từ đó danh nghiệp có thể chủ động xây dựng kế hoạch về huy động

và sử dụng vốn lưu động để có cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao nhất với chi phí sử dụng vốn thấp nhất .

Dưới đây, là sơ đồ thể hiện mối tương quan giữa tổng tài sản và tổng nguồn vốn. Mục đích chính là cho thấy doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn ngắn và dài hạn tài trợ

cho tài sản diễn ra như thế nào. Qua đó, ta có thể thấy :

Vốn lưu động thường xuyên = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn

Tài trợ

TSNH Nợ ngắn hạn (Vốn ngắn hạn) VLĐ k thường xuyên

VLĐ thường xuyên

Vốn chủ sở hữu

+ Nợ dài hạn Tài trợ TSDH ( Vốn dài hạn)

1.1.3. Kết cấu vốn lưu động trong doanh nghiệp : 1.1.3.1. Kết cấu vốn lưu động :

Kết cấu vốn lưu động phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỉ lệ của các thành phần so với tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp . Phân tích cơ cấu nguồn vốn

được hình thành bằng cách tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận vốn lưu động trong tổng vốn lưu động. Tỷ trọng của từng bộ phận vốn lưu động chiếm trong tổng số vốn lưu động được xác định như sau :

Tỷ trọng của từng bộ phận Giá trị của từng bộ phận vốn lưu động

5

vốn lưu động chiếm trong = x 100

tổng số vốn lưu động Tổng số vốn lưu động (Trích nguồn : Phân tích báo cáo tài chính- trang 148, NXB ĐHKTQD – HN)

Bằng cách tính tỉ trọng các thành phần vốn lưu động như công thức trên , các

nhà quản lý có thể xem xét và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp có thật sự hợp lý với mô hình kinh doanh hay chưa. Nhằm đưa ra những quyết

định phù hợp với bản thân doanh nghiệp trong từng thời kỳ.

Có 2 phương pháp cơ bản mà những nhà phân tích tài chính thường hay sử dụng

là phương pháp đồ thị và so sánh. Phương pháp đồ thị có điểm mạnh là giúp nhà

quản lý có thể cảm quan nhận thấy sự chênh lệch giữa các thành phần trong vốn lưu động và đánh giá được sự biến động của từng thành phần qua các thời kì. Tuy nhiên

biểu đồ chỉ phù hợp với cơ cấu vốn lưu động có ít chỉ tiêu thành phần và dễ minh họa số liệu . Để khắc phục nhược điểm này các nhà phân tích tài chính sử dụng

phương pháp so sánh. Ở phương pháp này ta có thể thấy rõ các chỉ tiêu thành phần

và tỉ trọng riêng của từng phần .

Bảng 1.1. Phân tích cơ cấu vốn lưu động chi tiết theo hình thái biểu hiện

2011 2012 2013

Tỷ Tỷ Tỷ Khoản mục Số Số Số trọng trọng trọng tiền tiền tiền % % %

1.Vốn bằng tiền Tiền mặt TGNH

2.Vốn thuộc các

KPT PTKH

Trả trước người

bán PT khác

... ... ....

Bằng việc xem xét biểu đồ và bảng phân tích trên, các nhà quản lý sẽ thấy được những đặc trưng trong cơ cấu vốn lưu động của doanh nghiệp, xác định được tính hợp lý trong việc sử dụng vốn lưu động .

(Trích nguồn : GT – Phân tích báo cáo tài chính-trang 46 , NXB ĐHKTQD – HN)

6

1.1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đên kết cấu vốn lưu động : Có thể chia thành 3 nhóm nhân tố sau:

Nhóm nhân tố thuộc về dự trữ vật tư : Khoảng cách giữa doanh nghiệp với nơi

cung cấp vật tư ; khả năng cung cấp của thị trường về loại vật tư mà doanh nghiệp

đanng sử dụng ; kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tư cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư cung cấp .

Nhóm nhân tố thuộc về mặt sản xuất : Bao gồm đặc điểm , kỹ thuật , cộng nghệ

sản xuất của doanh nghiệp , mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo , độ dài của chu

kỳ sản xuất , trình độ tổ chức quá trình sản xuất. Nếu kỹ thuật , công nghệ sản xuất

của doanh nghiệp hiện đại thì chi phí tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm thấp do đó tỉ trọng vốn lưu động ở khâu sản xuất thấp. Nếu sản phẩm của doanh nghiệp phức

tạp thì đòi hỏi thời gian chê tạo dài, qua nhiều công đoạn, chi phí cao nên tỉ trọng vốn lưu động ở khâu sản xuất cao. Trình độ tổ chức sản xuất khoa học càng hiện đại

thì vốn lưu động ở khâu sản xuất càng thấp .

Nhóm nhân tố về mặt thanh toán : Nhóm nhân tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến

khâu lưu thông, bao gồm các nhân tố như phương thức thanh toán, thời hạn thanh

toán và việc chấp hành kỷ luật thanh toán... Do vậy, phương thức thanh toán không

dùng tiền mặt càng nhiều thì tỉ trọng vốn lưu động ở khâu lưu thông càng thấp. Thời

hạn thanh toán càng dài thì tỉ trọng vốn lưu động trong thanh toán càng cao. Nếu việc

chấp hành kỷ luật thanh toán ở doanh nghiệp càng được thực hiện tốt thì càng giảm

được tỉ trọng vốn trong thanh toán .

Việc phân tích kêt cấu vốn lưu động và sự biến động của nó ở doanh nghiệp qua các

thời kỳ khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp rút ra được những biến đổi tích cực và những

hạn chế trong công tác quản lý sử dụng vốn lưu động, từ đó đúc kết được những bài

học kinh nghiệm trong việc quản lý và sử dụng vốn lưu động .

1.1.4. Nguồn hình thành vốn lưu động :

Các nguồn tài trợ ngắn hạn VLĐ của các doanh nghiệp thông thường là các nguồn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà DN có thể tạm thời sử dụng bao gồm các quỹ tín dụng thương mại , tín dụng ngân hàng , thương phiếu và các nguồn khác...Để tìm hiểu rõ hơn về nguồn hình thành vốn lưu động không thường xuyên ta

có thể lập bảng kết cấu nguồn tài trợ ngắn hạn vốn lưu động bằng các khoản nợ ngắn hạn như sau :

Bảng 1.2. Bảng kết cấu nguồn tài trợ ngắn hạn vốn lưu động bằng các khoản

nợ ngắn hạn

2011 2012 2013 Chênh lệch

7

Số Số Số Số Chỉ % % tiền tiền % tiền % tiền tiêu

Vay

Ngắn

hạn

Phải

trả

người

bán

Người

mua trả

tiền

trước

Thuế

và các

khoàn

phải

nộp

NSNN

CP

Phải

trả

Phải

trả,

nộp

khác

Tổng

1.1.5. Quản lý vốn lưu động :

1.1.5.1. Khái niệm quản lý vốn lưu động

Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm

8

đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất. Để hiểu được quản lý vốn lưu động là gì trước

tiên chúng ta hãy cùng tìm hiểu về quản lý tài chính :

“ Quản lý tài chính dựa trên quy luật vận động vốn, đồng thời cần tuân thủ theo

quy định pháp luật. Thực hiện dự đoán, quyết sách, lên kế hoạch, giám sát, hạch toán

và phân tích sự hình thành vốn, sử dụng và phân phối vốn. Nâng cao hiệu quả vận hành vốn, thực hiện công tác quản lý đảm bảo vốn được gia tăng. Thực chất quản lý

tài chính là quản lý mang tính tổng hợp những hoạt động kinh doanh sản xuất của

doanh nghiệp bằng cách vận dụng hình thức giá trị.”

( Trích nguồn : Quản lý tài chính doanh nghiệp – NXB Lao động xã hội 2008 )

Quản lý tài chính bao gồm quản lý tài chính ngắn hạn và quản lý tài chính dài hạn. Quản lý tài chính ngắn hạn chính là quản lý vốn lưu động. Thực chất quản lý

vốn lưu động là sự tác động của nhà quản lý tài chính đến vốn lưu động (tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, phải thu khách hàng và tài sản lưu động khác)

một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức nhằm đạt được

mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Dưới đây là sơ đồ thể hiện những

danh mục cụ thể của hoạt động quản lý tài chính.

Quản lý tài chính

Quản lý tài chính dài Quản lý tài chính ngắn hạn

hạn

Huy Quản Huy Quản động Quản lý tiền động lý hoạt Quản lý nguồn lý hoạt Quản lý động vốn các KPT động mặt và CK HTK vốn dài thuê ngắn đầu tư khả thị hạn TC hạn

Qua sơ đồ trên ta có thể hiểu được quản lý vốn lưu động thực chất là quản lý tài chính ngắn hạn bằng việc quản lý TSLĐ và NNH nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên và liên tục .

1.1.5.2. Nội dung quản lý vốn lưu động : Xác định nhu cầu vốn lưu động trong doanh nghiệp :

9

Xác định đúng đắn nhu cầu VLĐ thường xuyên, cần thiết để đảm bảo cho hoạt

động SXKD của DN được tiến hành liên tục, tiết kiệm và có hiệu quả kinh tế cao là

nội dung quan trọng đặt ra trong công tác quản lý và sử dụng VLĐ đối với các nhà

quản trị tài chính doanh nghiệp. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, các

DN chuyển sang thực hiện hạch toán nền kinh tế độc lập, mọi nhu cầu về VLĐ cho sxkd các DN đều phải tự trang trảI thì điều này càng có ý nghĩa quan trọng.

Nếu DN xác định nhu cầu VLĐ quá cao sẽ không khuyến khích DN khai thác

các khả năng tiềm tàng, tìm mọi biện pháp cảI tiến hoạt động SXKD để nâng cao

hiệu quả sử dụng VLĐ gây nên tình trạng ứ đọng vật tư hàng hoá, vốn chậm luân

chuyển và phát sinh các chi phí không cần thiết làm tăng giá thành từ đó làm giảm lợi nhuận của DN. Ngược lại, nếu DN xác định nhu cầu VLĐ quá thấp sẽ gây nhiều

khó khăn cho hoạt động SXKD cuả DN. DN thiếu vốn sẽ không đảm bảo cho sản xuất liên tục gây nên những thiệt hại do ngừng sản xuất, không có khả năng thanh

toán và thực hiện các hợp đồng đã ký kết với khách hàng, giảm thị phần từ đó làm

giảm lợi nhuận của DN. Để xác định nhu cầu VLĐ của DN, có thể sử dụng các

phương pháp khác nhau. Tuỳ theo điều kiện cụ thể, DN có thể lựa chọn các phương

pháp thích hợp. Sau đây là một số phương pháp:

a. Phương pháp trực tiếp

Nội dung chính của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực

tiếp đến việc dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để xác định nhu cầu của

từng khoản vốn trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu VLĐ cho từng khâu

kinh doanh của DN. Phương pháp này thường áp dụng cho các doanh nghiệp sản

xuất trực tiếp chế tạo ra sản phẩm. Ưu điểm của phương pháp này là tính được cụ thể

nhu cầu vốn lưu động cho từng khâu của quá trình sản xuất, từ đó có các biện pháp

bổ sung hoặc giảm vốn cho từng khâu trong điều kiện sản xuất thực tế. Tuy nhiên

cũng có nhược điểm là công thức tính toán khá phức tạp khả năng sai sót cao và không phải doanh nghiệp nào cũng áp dụng được.

Xác định nhu cầu VLĐ cho khâu dự trữ sản xuất:

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, DN thường phải sử dụng nhiều loại vật tư khác nhau. Để đảm bảo quá trình SXKD được thường xuyên liên tục DN phải luôn có một số lượng vật tư dự trữ sản xuất. VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm: giá

10

trị các loại NVL chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật đóng gói và

công cụ dụng cụ.

Công thức tổng quát cho nhu cầu NVL chính:

Vnl= Mn x Nnl

Trong đó: - Vnl: Nhu cầu vốn NVL chính năm kế hoạch

- Mn: Mức tiêu dùng bình quân một ngày về chi phí NVL chính năm kế hoạch

- Nnl: Số ngày dự trữ thích hợp

Công thức tổng quát cho các loại vốn khác :

Vnk = Mlc x T%

Trong đó:

- Vnk: Nhu cầu vốn trong khâu dự trữ của loại vốn khác - Mlc: Tổng mức luân chuyển của loại vốn đó trong khâu dự trữ

- t%: Tỷ lệ % của loại vốn đó so với tổng mức luân chuyển.

Xác định nhu cầu cho khâu sản xuất :

VLĐ cho khâu dự trữ bao gồm vốn sản phẩm đang chế tạo và vốn chờ kết chuyển.

Với sản phẩm đang chế tạo công thức tính toán như sau:

Vđc = Pn x Ck x Hs

Trong đó:

- Vđc: Nhu cầu vốn cho sản phẩm đang chế tạo

- Pn: Mức chi phí bình quân một ngày

- Ck: Chu kỳ sản xuất sản phẩm

- Hs: Hệ số sản phẩm đang chế tạo

Với chi phí vốn chờ kết chuyển :Là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng

chưa tính hết vào giá thành sản phẩm trong kỳ mà được phân bổ dần vào nhiều kỳ

tiếp theo để phản ánh đúng đắn tác dụng của chi phí và không gây biến động lớn đối lớn đối với giá thành sản phẩm.

Công thức tính toán:

Vpb = Vpđ + Vpt – Vpg

Trong đó: - Vpb: Vốn chi phí chờ kết chuyển trong kỳ kế hoạch

11

- Vpđ: Vốn chi phí chờ kết chuyển đầu kỳ kế hoạch

- Vpt: Vốn chi phí chờ kết chuyển tăng trong kỳ kế hoạch

- Vpg: Vốn chi phí chờ kết chuyển được phân bổ vào giá thành sản phẩm trong kỳ

kế hoạch

Xác định nhu cầu cầu vốn lưu động trong lưu thông : Là nhu cầu VLĐ để lưu giữ bảo quản sản phẩm, thành phẩm ở kho thành phẩm với

quy mô cần thiết trước khi xuất giao cho khách hàng

Công thức tính toán:

Vtp = Zsx x Ntp

Trong đó: - Vtp: Vốn thành phẩm kỳ kế hoạch

- Zsx: Giá thành sản xuất hàng hóa bình quân mỗi ngày kỳ kế hoạch - Ntp: Số ngày luân chuyển của vốn thành phẩm

b.Phương pháp gián tiếp :

Điều kiện áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp: DN sản xuất và DN thương

mại dịch vụ… Ưu điểm của phương pháp là công thức tính toán đơn giản và độ chính

xác tương đối cao. Tuy nhiên với các doanh nghiệp sản xuất thì phương pháp này

không xác định được nhu cầu vốn lưu động cụ thể trong từng khâu. Đặc điểm của

phương pháp gián tiếp là dựa vào số VLĐ bình quân năm báo cáo, nhiệm vụ SXKD

năm kế hoạch để xác định nhu cầu VLĐ của DN năm kế hoạch và khả năng tăng tốc

độ luân chuyển của VLĐ của năm kế hoạch.

Công thức tính : Vnc = VLĐ0bq x M1 x ( 1± t%) M2 Trong đó: - Vnc1: Nhu cầu VLĐ năm kế hoạch - M1 : Tổng mức luân chuyển VLĐ năm kế hoạch - M0 : Tổng mức luân chuyển VLĐ năm báo cáo - VLĐ0bq: Số dư bình quân VLĐ năm báo cáo - t% : Tỷ lệ tăng (giảm) số ngày luân chuyển VLĐ năm kế hoạch so với năm báo cáo

Tỷ lệ tăng ( giảm ) số ngày luân chuyển VLĐ năm kế hoạch so với năm báo cáo được xác định theo công thức:

=

t%

K1 – K0 K0

Trong đó:

12

- K1: Kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch

- K0: Kỳ luân chuyển VLĐ năm báo cáo

Trên thực tế để ước đoán nhanh nhu cầu VLĐ năm kế hoạch, các DN thường sử dụng phương pháp tính toán căn cứ vào tổng mức luân chuyển vốn và vòng quay VLĐ dự

tính năm kế hoạch. Phương pháp tính toán như sau:

VNC = M

L

Trong đó:

-M: Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch - L: Số vòng quay vốn lưu động kỳ kế hoạch

Quản lý tiền và các khoản tương đương tiền

Tiền mặt tại quỹ và TGNH là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền

của DN. Vì vậy, quản trị vốn tiền mặt là nội dụng chủ yếu trong quản trị vốn bằng

tiền của DN. Nhu cầu dự trữ tiền mặt trong các DN thông thường là để đáp ứng nhu

cầu giao hàng hàng ngày như mua sắm hàng hóa, vật liệu, thanh toán đầu tư chứng

khoán ngắn hạn, thanh toán các khoản chi phí cần thiết. Ngoài ra, còn xuất phát từ

nhu cầu dự phòng để đối phó với những nhu cầu vốn bất thường chưa dự đoán được

và động lực “đầu cơ” trong việc dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện

các cơ hội kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận cao. Việc duy trì mỗi mức tiền mặt đủ lớn

còn tạo điều kiện cho DN có được cơ hội thu được chứng khoán trên hàng mua trả

đúng kỳ hạn, làm tăng hệ số có khả năng thanh toán của DN, ở trong những điều kiện

đặc biệt, DN có thể bỏ tiền ra mua một lượng hàng hóa dự trữ lớn. Bên cạnh đó, khi nắm giữ tiền mặt cũng có những bất lợi vì tiền mặt là một loại tài sản không sinh lời hoặc sinh lời rất kém và tính lỏng lớn dễ bị mất giá. Vậy lưu giữ tiền mặt bao nhiêu là vừa? Từ những lý do, những lợi thế và bất lợi của tiền mặt, nguyên lý của quản lý tiến mặt là đặt tiền mặt trong mối quan hệ với các chứng khoán thanh khoản cao để

đổi tiền mặt sang chứng khoán và chứng khoán sang tiền mặt khi cần thiết.Nội dung quản lý tiền mặt trong DN thông thường bao gồm: Xác định mức dự trữ tiền mặt hợp lý:

Mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý cần được xác định sao cho DN có thể tránh được rủi ro không có khả năng thanh toán ngay, phải ra hạn thanh toán nên bị phạt hoặc

13

trả lãi cao hơn; không làm mất khả năng mua chịu của nhà cung cấp và tận dụng

được các cơ hội kinh doanh tốt, có lợi nhuận cao.Phương pháp đơn giản thường dùng

để xác định mức dự trữ ngân quỹ hợp lý là lấy mức xuất ngân quỹ trung bình hàng

ngày nhân với số lượng ngày dự trữ ngân quỹ cho DN .

Người ta cũng có thể sử dụng phương pháp tổng chi phí tối thiểu trong quản trị vốn tồn kho dự trữ để xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý của doanh nghiệp.

Giả sử doanh nghiệp có một số lượng tiền mặt và phải sử dụng nó để đáp ứng các

khoản chi tiêu tiền mặt một cách đều đặn. Khi lượng tiền đã hết, doanh nghiệp có thể

bán các chứng khoán ngắn hạn( có tính thanh khoản cao ) để có được lượng tiền như

ban đầu. Có hai loại chi phí cần được xem xét khi ban chứng khoán: chi phí cơ hội của việc giữ tiền mặt và chi phí cho việc bán chứng khoán mỗi lần( đóng vai trò như

là chi phí mỗi lần thực hiện hợp đồng). Trong điều kiện đó, mức độ dự trữ vốn tiền mặt tối đa của doanh nghiệp chính là bằng số lượng chứng khoán cần bán mỗi lần để

có đủ lượng tiền mặt mong muốn bù đắp được nhu cầu chi tiêu tiền mặt.

Mô hình Baumol cho rằng việc giữ tiền mặt trong quỹ là rất cần thiết để chi trả

cho các hoá đơn một cách đều đặn.Tuy nhiên dự trữ của doanh nghiệp cũng phát sinh

ra những chi phí nhất định. Có thể chia chi phí để dự trữ ra thành hai loại là chi phí

cơ hội và chi phí đặt hàng .Chi phí cơ hội bao gồm những chi phí của vốn đầu tư bỏ

vào dự trữ và các chi phí khác. Khi đó, chi phí cơ hội cận biên là chi phí cơ hội mà

doanh nghiệp bỏ ra để dự trữ thêm một đơn vị sản phẩm . Khi tăng thêm một đơn vị

sản phẩm thì mức dự trữ bình quân tăng lên là 0,5 đơn vị sản phẩm. Chi phí đặt hàng

là khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bó ra để thực hiện được một lần đặt hàng. Ta

thấy, nếu quy mô mỗi lần đặt hàng tăng lên sẽ làm tổng chi phí đặt hàng của doanh

nghiệp giảm xuống . Mức giảm đi của tổng chi phí đặt hàng phụ thuộc vào quy mô

đặt hàng bình quân. Như vậy , nếu doanh nghiệp tăng quy mô cho mỗi lần đặt hàng

sẽ xuất hiện hai tác động

- Tác động thứ nhất: chi phí đặt hàng giảm đi do số lần đặt hàng giảm đi - Tác động thứ hai: chi phí cơ hội tăng lên do mức dự trữ bình quân tăng lên.

Do đó, quy mô đặt hàng tối ưu sẽ là điểm mà tại đó hai tác động trên loại trừ lẫn nhau

một cách hoàn toàn và được thể hiện qua công thức sau:

Qmax =

Trong đó:

14

Qmax: Số lượng tiền mặt dự trữ tối đa

Qn: Lượng tiền mặt chi dùng trong năm

C1: Chi phí lưu giữ đơn vị tiền mặt

C2: Chi phí một lần bán chứng khoán

Trong trường hợp doanh nghiệp không dự đoán được chính xác các khoản thực

thu và thực chi ngân quỹ. Để doanh nghiệp có thể quản lý được việc cân đối tiền mặt

của nó nếu doanh nghiệp không thể dự đoán được mức thu chi ngân quỹ hàng ngày.

Mô hình Miller-orr đưa ra một cách thức quản lý tiền mặt hiêu quả trong trường

hợp này.

Sơ đồ 1.1.Quản lý tiền mặt theo mô hình Miller - orr

Qua mô hình trên có 3 khái niệm cần ghi nhớ: Giới hạn trên (H), giới hạn dưới

(L) và tồn quỹ tiền mặt (Z). Ban quản lý công ty thiết lập (H) căn cứ vào chi phí cơ hội giữ tiền mặt và (L) căn cứ vào mức độ rủi ro thiếu tiền mặt. Công ty cho phép tồn quỹ biến động ngẫu nhiên trong phạm vi giới hạn và nếu như tồn quỹ vẫn nằm

trong mức giới hạn trên và dưới thì công ty không cần thiết thực hiện giao dịch mua hay bán chứng khoán ngắn hạn. Khi tồn quỹ đụng giới hạn trên (tại điểm X) thì công

ty sẽ mua (H – Z) đồng chứng khoán ngắn hạn để giảm tồn quỹ trở về (Z). Khi tồn quỹ giảm đụng giới hạn dưới (tại điểm Y) thì công ty sẽ bán (Z – L) đồng chứng khoán để gia tăng tồn quỹ lên đến điểm (Z).

15

Mô hình Miller – 0rr xác định tồn quỹ dựa vào chi phí cơ hội và chi phí gia dịch.

Chi phí giao dịch (F) là chi phí liên quan đến việc mua bán chứng khoán ngắn hạn

để chuyển đổi từ tài sản đầu tư cho mục đích sinh lời ra tiền mặt nhằm mục đích

thanh toán. Chi phí giao dịch cố định không phụ thuộc vào doanh số mua bán chứng

khoán ngắn hạn. Chi phí cơ hội do giữ tiền mặt là K, bằng lãi suất ngăn hạn. Trong mô hình Miller – Orr, số lần giao dịch của một thời kỳ là số ngẫu nhiên thay đồi tùy

thuộc vào sự biến động của luồng thu và luồng chi tiền măt. Kết quả là chi phí giao

dịch phụ thuộc vào số lần giao dịch chứng khoán ngắn hạn kỳ vọng còn chi phí cơ

hội phụ thuộc vào tồn quỹ kỳ vọng. Theo mô hình Miller-orr, khoảng dao động của

1/3

mức cân đối tiền phụ thuộc vào ba yếu tố được chỉ ra trong công thức sau:

3 = 3 * * CP giao dịch * Phương sai của thu chi ngân quỹ

4 Lãi suất Khoảng cách của giới hạn trên và dưới

Trên thực tế doanh nghiệp phải xác định cho mình mức tồn quỹ tối thiểu (giới hạn

dưới )

+ Bước 2: Doanh nghiệp phải ước tính được phương sai của thu chi ngân quỹ

+ Bước 3: Xác định lãi suất và chi phí giao dịch của một lần mua bán chứng khoán

+ Bước4: Tính giới hạn trên và mức tồn quỹ theo thiết kế và đưa ra các quyết định

quản lý .

Sau khi đã dự toán được nhu cầu tiền và xác định được mức tồn quỹ tối ưu hay với

khoảng biến động mức tồn quỹ (theo mô hình Miller-Orr). Từ đó lập ra kế hoạch

quản lý ngân quỹ cho tháng tới .

Dự đoán và quản lý các luồng nhập, xuất vồn tiền mặt (ngân quỹ):

Dự đoán ngân quỹ là tập hợp các dữ kiện về nguồn và sử dụng ngân quỹ. Ngân quỹ hàng năm được lập vừa tổng quát vừa chi tiết cho từng tháng và tuần. Dự đoán các luồng tiền nhập ngân quỹ bao gồm luồng thu nhập từ kết quả kinh doanh, luồng đi vay và các luồng tăng vốn khác.Dự đoán các luồng xuất ngân quỹ thường bao gồm các khoản chi cho họat động đầu tư theo kế hoạch của DN, các khoản chi trả tiền lãi phải chia, nộp thuế và các khoản chi khác.

16

Quản lý sử dụng các khoản thu chi vốn tiền mặt:

Hoạt động thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp diễn ra hằng ngày, hàng giờ,

hơn nữa vốn tiền mặt là một loại tài sản đặc biệt có khả năng thanh toán cao, dễ dàng

chuyển hóa sang các hình thức tài sản khác, vì vậy doanh nghiệp phải có biện pháp

quản lý, sử dụng vốn bằng tiền mặt một cách chặt chẽ để tránh mất mát, lợi dụng. Các biện pháp quản lý cụ thể như mọi khoản thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp

đều phải thực hiện thông qua quỹ, không được thu chi ngoài quỹ hay tự thu tự chi.

Phải có sự phân định trách nhiệm rõ ràng trong quản lý vốn tiền mặt, nhất là giữa thủ

quỹ và kế toán quỹ, phải có biện pháp quản lý bảo đảm an toàn kho quỹ. Doanh

nghiệp phải xây dựng các quy chế thu chi bằng tiền mặt để áp dụng cho từng trường hợp thu chi. Thông thường các khoản thu chi không lớn thì có thể sử dụng tiền mặt,

sang các khoản chi lớn cần sử dụng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.Quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt, cần xác định rõ đối tượng tạm ứng, mức tạm

ứng và thời hạn thanh toán tạm ứng để thu hồi kịp thời

Tiến hành cân đối thu chi tiền mặt để xác định số dư cuối kỳ.

Trên cơ sở so sánh luồng nhập, xuất ngân quỹ thì doanh nghiệp thấy được mức

thặng dư hay thâm hụt ngân quỹ để từ đó có các biện pháp cân bằng thu chi ngân

quỹ. Trên cơ sở so sánh luồng nhập và xuất ngân quỹ, DN thấy được mức dư và thâm

hụt ngân quỹ để có biện pháp cân bằng thu chi ngân quỹ.

- Nếu bội thu: DN đưa ra biện pháp sẽ trả hết nợ cho khách hàng, trả các khoản vay

của ngân hàng, các khoản nộp cho ngân sách hay dùng số bội thu để đầu tư vào những

công việc mang lại doanh lợi cho DN.

- Nếu bội chi: DN có thể tìm biện pháp để tăng thu hồi công nợ, đẩy mạnh việc bán

ra, vay thêm ngân hàng hoặc giảm tốc độ chi nếu có thể…

Quản lý các khoản phải thu :

Quản lý thu tiền là việc đưa ra các quyết định đẩy nhanh tốc độ thu tiền, tức là giảm thời gian chuyển tiền. Thời gian chuyển tiền là khoản thời gian từ khi một khách hàng viết sec cho đến khi người thụ hưởng nhận được và có thể sử dụng . Chính sách tín dụng thương mại:

Để thắng lợi trong cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp có thể sử dụng chiến lược về chất lượng sản phẩm về quảng cáo, giá cả, dịch vụ giao hàng và các dịch vụ sau khi mua bán như vận chuyển và lắp đặt…Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu là một việc không thể thiếu. Tín dụng thương mại có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nên giàu có nhưng cũng có thể đem đến những rủi ro cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tín dụng

17

thương mại tác động trực tiếp đến doanh thu bán hàng. Do được trả tiền chậm nên sẽ

có nhiều người mua hàng hóa của doanh nghiệp hơn và từ đó làm cho doanh thu tăng.

Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng thì tất nhiên doanh nghiệp bị chậm trễ

trong việc trả tiền và vì tiền có giá trị theo thời gian nên doanh nghiệp sẽ quy định

giá cao hơn. Tín dụng thương mại làm giảm được chi phí lưu kho của hàng hóa và làm cho tài sản cố định được sử dụng có hiệu quả hơn, hạn chế phần nào về hao mòn

vô hình .Tuy nhiên tín dụng thương mại lại làm tăng chi phí đòi nợ, chi phí trả cho

nguồn tài trợ để bù đắp sự thiếu hụt ngân quỹ. Thời hạn cấp tín dụng càng dài thì chi

phí ròng càng lớn.

Với những tác động nêu trên buộc các nhà quản lý phải so sánh giữa thu nhập và chi phí tăng thêm để quyết định xem có nên cấp tín dụng thương mại không và các

điều khoản trong đó như thế nào sao cho phù hợp. Thực tiễn cho thấy doanh thu có khuynh hướng tăng lên khi các tiêu chuẩn tín dụng được nới lỏng .

( Trích nguồn : GT Tài chính doanh nghiệp – NXB Thống kê )

Để theo dõi và quản lý các khoản phải thu thông thường người ta dựa vào các chỉ tiêu sau:

Công thức tính thời gian thu nợ TB :

Hệ số thu hồi DTT = nợ PTKH

Vậy ta có :

Thời gian thu hồi nợ 365 = TB Hệ số thu hồi nợ

Các nhân tố ảnh hưởng tới quy mô của các khoản phải thu như :

Khối lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ bán chịu cho khách hàng. Trong một số

trường hợp để khuyến khích người mua, DN thường áp dụng phương pháp bán chịu

(giao hàng trước, trả tiền sau) đối với khách hàng. Điều này có thể làm tăng thêm một số chi phí do việc tăng thêm các khoản phải thu của khách hàng (chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro…). Đổi lại, DN cũng có thể làm tăng thêm được lợi nhuận nhờ mở rộng số lượng sản phẩm tiêu thụ.

Sự thay đổi theo thời vụ của doanh thu: Đối với các DN sản xuất có tính chất

thời vụ, trong những thời vụ sản phẩm của DN có nhu cầu tiêu thụ lớn, cần khuyến khích tiêu thụ để thu hồi vốn. Giới hạn của lượng vốn phải thu hồi: Nếu lượng vốn phải thu quá lớn thì không thể tiếp tục bán chịu vì sẽ làm tăng rủi ro cho DN. Thời hạn thu hồi nợ bình quân đối với các khoản nợ (số ngày cho khách hàng nợ đến khi bắt đầu thu hồi nợ). Dự đoán số nợ bình quân đối với các khoản nợ. Biện pháp thu hồi nhanh các khoản phải thu :

18

DN cần coi trọng các biện pháp phòng ngừa rủi ro như là phải mở sổ theo dõi

chi tiết các khoản nợ phải thu trong và ngoài DN và thường xuyên cân đối để thu hồi

đúng hạn. Có các biện pháp phòng ngừa rủi ro từ viêc lựa chọn khách hàng, yêu cầu

đặt cọc, tạm ứng hay trả trước một phần giá trị của đơn hàng. Phải có chính sách bán

chịu đúng đắn đối với khách hàng và có sự ràng buộc chặt chẽ trong hợp đồng bán hàng. Nếu vượt quá giới hạn thanh toán trong hợp đồng thì DN được thu lãi suất

tương ứng với lãi suất quá hạn của khách hàng. Phân loại các khoản nợ quá hạn và

có biện pháp xử lý thích hợp đối với từng khoản nợ.

Quản lý hàng tồn kho : Tồn kho dự trữ và các nhân tố ảnh hưởng đên tồn kho dự trữ:

Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là những tài sản mà doanh nghiệp lưu giữ để

sản xuất hoặc bán ra sau này. Trong các doanh nghiệp tài sản tồn kho dự trữ thường ở ba dạng là nguyên vật liêu, nhiên liệu dự trữ cho sản xuất, các sản phẩm dở dang

và bán thành phẩm, sản phẩm chờ tiêu thụ. Tuỳ theo ngành nghề kinh doanh mà tỉ

trọng các loại tài sản tồn kho dự trữ ở dạng nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ thường

có tỉ trọng lớn. Song trong các doanh nghiệp thương mại tồn kho chủ yếu là sản phẩm

hàng hoá chờ tiêu thụ.Việc quản lý tồn kho dự trữ trong các doanh nghiệp là rất quan

trọng, không phải chỉ vì trong doanh nghiệp tồn kho dự trữ thường chiếm tỉ lệ đáng

kể trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong khoảng từ 15 đến 30%. Mức độ

tồn kho dự trữ của doanh nghiệp nhiều hay ít chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố. Tuỳ

theo từng loại tồn kho dự trữ mà các nhân tố ảnh hưởng có đặc điểm riêng.

Đối với mức tồn kho dự trữ nguyên vật liêu, nhiên liệu thường phụ thuộc vào

- Quy mô sản xuất và nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất của doanh

nghiệp.nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu của doanh nghiệp bao gồm 3 loại: dự trữ

thường xuyên, dự trữ bảo hiểm, dự trữ thời vụ.

- Khả năng sẵn sàng cung ứng cuả thị trường. - Chu kỳ giao hàng quy định trong hợp đồng giữa đơn vị cung ứng nguyên vật liệu với doanh nghiệp. - Thời gian vận chuyển nguyên vật liệu từ nơi cung ứng đến doanh nghiệp. - Giá cả của các loại nguyên vật liệu, nhiên liệu cung ứng.

Đối với mức tồn kho dự trữ bán thành phẩm, sản phẩm dở dang các nhân tố ảnh

hưởng gồm: - Đặc điểm và các yêu câu về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình chế tạo sản phẩm. - Độ dài thời gian chu kỳ sản xuất sản phẩm. - Trình độ tổ chức quá trình sản xuất của doanh nghiệp . Đối với tồn kho dự trữ sản phẩm thành phẩm chịu ảnh hưởng các nhân tố

19

- Sự phân hợp giữa khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

- Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp và khác hàng.

- Khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.

Các phương pháp tồn kho dự trữ :

Mục tiêu của việc quản trị vốn tồn kho dự trữ là nhằm tối thiểu hoá các chi phí dự trữ tài sản tồn kho trong điều kiện vẫn đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường.Việc giữ một lượng hàng tồn

kho làm phát sinh các chi phí. Tồn kho càng lớn, vốn tồn kho dự trữ cáng lớn thì

không thể sử dụng cho mục đích khác và làm tăng chi phí cơ hội của số vốn này.

Việc tăng dự trữ tài sản tồn kho cũng thường đòi hỏi tăng thêm các khoản chi phí bổ sung như chi phí bảo quản, chi phí bảo hiểm hoặc những rủi ro như giảm chất lượng

nguyên liệu của sản phẩm tồn kho. Nhưng mặt khác lại làm giảm các chi phí thiệt hại ngừng sản xuất do thiếu nguyên vật liệu, bán thành phẩm…Vì vậy, doanh nghiệp

cần xem xét mức dự trữ hợp lý để giảm tới mức thấp nhất tổng chi phí dự trữ tồn

kho.Phương pháp quản lý dự trữ tồn kho theo nguyên tắc trên gọi là phương pháp

tổng chi phí tối thiểu. Nội dung của phương pháp:

Coi việc bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ là đều đặn thì việc cung cấp nguyên

vật liệu, nhiên liệu cho doanh nghiệp trước đó cũng phải diễn ra đều đặn. Giả định

số lượng nhu cầu mỗi lần cung cấp là Q thì mức dự trữ trung bình sẽ là Q/2. Việc tồn

kho dự trữ sẽ kéo theo hai loại chi phí. Chi phí lưu kho và chi phí quá trình thực hiện

đơn đặt hàng. Chi phí lưu kho bao gồm các dự phòng giảm giá biến chất, chi phí cơ

hội của vốn bị lưu giữ, chi phí trả tiền lãi vay để mua hàng hoá dự trữ, chi phí hao

hụt, mất mát…Chi phí quá trình thực hiện đơn đặt hàng là chi phí thực hiện việc cung

cấp và giao nhận vật tư hàng hoá theo hợp đồng, bao gồm các chi phí quản lý, giao

dịch ký kết hợp đồng, chi phí vận chuyển hàng hoá …

Phương pháp tổng chi phí tối thiểu bằng cách sử dụng mô hình EOQ ta có công thức sau :

Chi phí đặt hàng = Số lần đặt hàng S Q x O (1) =

Chi phí cho 1 lần đặt

hàng

Chi phí dự trữ = Mức lưu kho TB = Q x C (2)

Chi phí lưu kho đơn vị 2

20

Từ (1) và (2) Ta có :

Tổng chi phí lưu kho = Chi phí đặt hàng + Chi phí dự trữ Phương pháp tồn kho bằng 0:

Ngoài phương pháp quản lý dự trữ tồn kho theo phương pháp nêu trên, ở một số

nước còn áp dụng phương pháp tồn kho bằng không (0) hay còn gọi là phương pháp “kịp thời”. Phương pháp này cho rằng các doanh nghiệp có thể giảm thất các chi phí

tồn kho dự trữ đền mức tối thiểu với điều kiện các nhà cung cấp phải cung ứng kịp

thời cho doanh nghiệp các loại vật tư, hàng hoá khi cần thiết. Do đó có thể giảm được

các chi phí lưu kho cũng như các chi phí thực hiện hợp đồng. Phương pháp này có

ưu điểm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể dành ra một khoản ngân quỹ sử dụng cho đầu tư mới, tuy nhiên phương pháp này lại tăng các chi phí phát sinh từ việc tổ

chức giao hàng đối với các nhà cung cấp.

Quản lý tài sản lưu động khác :

TSLĐ khác bao gồm chi phí trả trước ngắn hạn, khoản tạm ứng, các khoản cầm

cố ký quỹ, ký cược ngắn hạn và tài sản ngắn hạn khác. Quản lý để đảm bảo những

khoản này luôn ổn định trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh .

1.1.6. Nguyên tắc các chính sách quản lý vốn lưu động

1.1.6.1. Nguyên tắc quản lý vốn lưu động : Để có hiệu quả cao thì bộ máy tổ chức quản lý, sản xuất phải nhịp nhàng ăn khớp

nhau

Xuất phát từ những đặc điểm về phương thức chuyển dịch giá trị (chuyển toàn bộ

một lần vào giá thành sản phẩm tiêu thụ) phương thức vận động của TSLĐ và vốn

lưu động, trong khâu quản lý sử dụng và bảo quản vốn lưu động cần lưu ý những nội

dung sau:

- Cần xác định (ước lượng) nhu cầu vốn lưu động cần thiết, tối thiểu trong kỳ kinh

doanh để đảm bảo đủ vốn lưu động cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục, tránh ứ đọng vốn, thúc đẩy tốc độ luân chuyển vốn dẫn đến nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. - Tổ chức khai thác tốt nguồn tài trợ vốn lưu động: Trước hết về trình tự khai thác nguồn vốn: doanh nghiệp cần khai thác triệt để các nguồn vốn nội bộ và các khoản

vốn có thể chiếm dụng một cách hợp pháp, thường xuyên. Nếu số vốn lưu động còn thiếu, doanh nghiệp tiếp tục khai thác đến nguồn bên ngoài doanh nghiệp như: Vốn liên doanh, vốn vay của ngân hàng, hoặc các công ty tài chính, vốn phát hành cổ phiếu, trái phiếu...Khi khai thác các nguồn vốn bên ngoài, điều đáng lưu ý nhất là phải cân nhắc yếu tố lãi suất tiền vay.

21

- Phải luôn có những giải pháp bảo toàn và phát triển vốn lưu động. Xây dựng trên

phải thu khách hàng, hàng tồn kho, bảo toàn được vốn lưu động có nghĩa là bảo toàn

được giá trị thực của vốn hay nói cách khác đi là bảo toàn được sức mua của đồng

vốn không bị giảm sút so với ban đầu. Điều này thể hiện qua khả năng mua sắm

TSLĐ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh. - Phải thường xuyên tiến hành phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động thông qua

các chỉ tiêu tài chính như: vòng quay toàn bộ vốn lưu động, hiệu suất sử dụng vốn

lưu động, hệ số nợ... Nhờ các chỉ tiêu này người quản lý tài chính có thể điều chỉnh

kịp thời các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhằm tăng mức doanh lợi.

1.1.6.2. Chính sách quản lý vốn lưu động:

Chính sách quản lí vốn lưu động chủ yếu tập trung vào tính thanh khoản của tài

sản ngắn hạn để đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn. Thanh khoản rất quan trọng bởi vì nếu một công ty có mức độ thanh khoản quá cao thì rất nhiều nguồn lực nhàn rỗi và

sinh ra chi phí từ các nguồn nhàn rỗi này. Ngược lại, công ty có mức độ thanh khoản

quá thấp sẽ đối mặt với thiếu nguồn lực để đáp ứng nghĩa vụ tài chính như hiện nay

(Arnold,2008). Tài sản ngắn hạn là thành phần quan trọng của vốn lưu động và chính

sách vốn lưu động phụ thuộc vào mức độ tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn (Afza

& Nazir,2009). Trên cơ sở đó các tài liệu tài chính phân loại các hoạt động chính

sách vốn thành ba loại: chính sách quản lí mạo hiểm, chính sách quản lí trung dung

và chính sách quản lí thận trọng được thảo luận như sau

a, Chính sách quản lí mạo hiểm

TSLĐ

NVNH

TSCĐ NVDH

Chính sách quản lí mạo hiểm: doanh nghiệp dùng một phần nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn( những tài sản thường xuyên được tài trợ bằng các nguồn tín dụng dài hạn, tài sản tạm thời được tài trợ bằng nguồn tín dụng ngắn hạn). Trong chính sách này, các nhà quản lí cố gắng nâng cao lợi nhuận bằng cách trả lãi suất

thấp hơn vì lãi suất vay ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất vay dài hạn. Tuy nhiên chính sách này có thể là “mạo hiểm” nếu có biến động về lãi suất vay ngắn hạn hay dòng tiền không đủ để chi trả các khoản nợ ngắn hạn và có thể tăng nguy cơ vỡ nợ. Vì vậy chính sách này được áp dụng cho các công ty đang hoạt động trong một nền kinh tế ổn định và khá chắc chắn về dòng tiền trong tương lai.

b, Chính sách quản lí thận trọng

22

NVNH

TSLĐ

NVDH TSCĐ

Chính sách quản lý thận trọng: doanh nghiệp dùng một phần vốn dài hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn (miêu tả doanh nghiệp sử dụng hoàn toàn tín dụng dài hạn

để tài trợ cho tài sản tạm thời và thường xuyên). Việc sử dụng khoản vay dài hạn thay cho khoản vay ngắn hạn làm giảm rủi ro kinh doanh và đem lại cho nhà quản trị

tài chính sự an toàn hơn. Nhưng chi phí để doanh nghiệp vay dài hạn thường cao hơn

chi phí vay ngắn hạn. Do đó, chính sách này phù hợp với doanh nghiệp có tỉ trọng

nợ ngắn hạn thấp, thời gian quay vòng tiền dài.

c, Chính sách quản lí trung dung

NVNH

TSLĐ

NVDH TSCĐ

Chính sách quản lí trung dung: doanh nghiệp dùng một phần nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn, dùng một phần nguồn vốn dài hạn tài trợ cho tài sản dài hạn ( miêu tả toàn bộ tài sản thường xuyên và một phần tài sản tạm thời được tài trợ bằng các nguồn tín dụng dài hạn). Chính sách quản lý trung dung là sự kết hợp giữa chính sách quản lý thận trọng và mạo hiểm. Nó cân bằng rủi ro và lợi nhuận

doanh nghiệp Trên đây là các mô hình cơ bản về chính sách quản lí vốn lưu động trong doanh nghiệp. Mỗi DN có thể lựa chọn một chính sách vốn lưu động riêng và việc quản lí vốn lưu động tại mỗi DN sẽ mang những đặc điểm rất khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, nội dung chính của quản lí vốn lưu động vẫn quản lí các bộ phận cấu thành nên vốn lưu động

23

1.2. Hiệu quả quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp :

1.2.1. Khái niệm hiệu quả và hiệu quả quản lý vốn lưu động 1.2.1.1. Khái niệm hiệu quả : Hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để thu được kêt quả đó . Nếu chi phí bỏ ra càng ít mà kết quả thu về càng

lớn thì hiệu quả đạt được càng cao. Ngược lại nếu chi phí bỏ ra lớn , kết quả thu được

ít thì hiệu quả được đánh giá là thấp. Chúng ta có thể đo lường như sau :

Chi Phí Kết quả

hoặc Hiệu quả =

Hiệu quả = Kết quả Chi phí Dù là sử dụng tiêu thức nào trong 2 tiêu thức trên ta cũng có thể đánh giá được hiệu quả đạt được .

1.2.1.2. Khái niệm hiệu quả quản lý vốn lưu động :

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá trên cả 2 khía cạnh là hiệu

quả kinh tế và hiệu quả xã hội, trong đó được đặt lên hàng đầu là hiệu quả kinh tế vì

thông thường các doanh nghiệp đều được thành lập nhằm mục đích kinh doanh do

đó mục tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận, chỉ trừ một số ít doanh nghiệp công ích

được thành lập và hoạt động vì mục tiêu xã hội . Tuy nhiên việc phân định hiệu quả

kinh tế và hiệu quả xã hội trong doanh nghiệp chỉ là tương đối vì hiệu quả kinh tế

của doanh nghiệp thường bao hàm cả hiệu quả xã hội . Khi doanh nghiệp kinh doanh

đạt được hiệu quả kinh tế cao thì đồng thời hiệu quả xã hội cũng cao thông qua sự ổn

định phát triển trong doanh nghiệp , tăng thêm thu nhập cho người lao động , phục

vu tốt hơn nhu cầu cho xã hội , nhu cầu của người tiêu dùng...

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động được xem xét như là một bộ phận của hiệu quả kinh tế

trong doanh nghiệp , nó phản ảnh mối quan hệ giữa kết quả thu được ( biểu hiện bằng doanh thu lợi nhuận ) với số vốn lưu động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ .

Kết quả thu được ( Doanh thu hoặc Lợi nhuận) Hiệu quả sử dụng VLĐ = VLĐ bq sử dụng trong kỳ

Qua đó có thể hiểu hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp trong tổng hòa các nguồn lực

24

khác của doanh nghiệp gắn liền với những đặc thù cụ thể của doanh nghiệp đó để

đạt được kết quả tối ưu với chi phí nhỏ nhất.

1.2.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp : Có bốn lý do chính đặt ra cho doanh nghiệp yêu cầu phải nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn lưu động của mình. Thứ nhất, xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu

xuyên suốt là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Để đảm bảo mục tiêu này, doanh nghiệp

thường xuyên phải đưa ra các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn. Quản lý và

nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động chính là một nội dung quan trọng đó và có ảnh hưởng to lớn đến việc thực hiện mục đích của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi

mỗi doanh nghiệp đều phải có các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng – một yêu cầu khách quan gắn liền với bản chất của

doanh nghiệp.

Thứ hai, xuất phát từ vai trò quan trọng của vốn lưu động đối với doanh nghiệp trong

nền kinh tế thị trường.

Bất cứ một doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế đều cần có vốn, trong

đó vốn lưu động là một phần cấu tạo quan trọng. Như đã trình bày ở trên, vốn lưu

động xuất hiện trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp, từ khâu dự trữ cho đến khâu lưu thông và khâu sản xuất. Vốn lưu động đảm

bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách liên tục và nhịp nhàng.

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao thì doanh lợi nó đem lại cho doanh nghiệp

càng lớn. Vì vậy mà mọi doanh nghiệp đều luôn tìm tòi để có thể sử dụng vốn lưu

động của mình hiệu một cách hiệu quả nhất.

Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động, giúp doanh nghiệp tiết kiệm vốn trong sản xuất kinh doanh. Lượng vốn tiết kiệm được nhờ tăng hiệu suất sử dụng vốn lưu động đó doanh nghiệp có thể đem đầu

tư vào mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Ngoài ra, nó còn tác động tích cực đến việc hạ giá thành sản phẩm, giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh và khẳng định chỗ đứng trên thị trường, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với nhà nước và từ đó ảnh hưởng lan tỏa đến toàn nền kinh tế - xã hội.

25

Xuất phát từ thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các doanh nghiệp trong

nên kinh tế.

Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ,

thất bại trên thị trường. Có thể có các nguyên nhân khách quan, có nguyên nhân chủ

quan, tuy nhiên một trong những nguyên nhân phổ biến nhất là sử dụng, phân bổ vốn nói nói chung và vốn lưu động nói riêng không hiệu quả, gây thất thoát ảnh hưởng

đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Ngay cả các doanh nghiệp đang làm ăn thuận lợi cũng không đảm bảo được

rằng việc sử dụng vốn lưu động của họ là đã có hiệu quả. Vì vậy, xét từ góc độ quản

lý, yêu cầu phải nâng cao năng lực tài chính đặc biệt là nâng cao hiệu quả vốn lưu động là một nội dung quan trọng không chỉ đảm bảo lợi ích riêng cho doanh nghiệp

mà còn có ý nghĩa chung đối với toàn nền kinh tế quốc dân.

26

Trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải tiết

kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm , nâng cao chất lượng sản phẩm , sản xuất kinh

doanh có lãi thì mới tồn tại được trên thị trường và phát triển được . Như đã nói ở

trên để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào điều kiện không thể thiếu

là vốn. Khi đã có đồng vốn trong tay thì một câu hỏi nữa đặt ra là ta phải sử dụng đồng vốn đó như thế nào để vốn đó sinh lời, vốn phải sinh lời là nhân tố quyết định

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Lợi ích kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp

phải quản lý, sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồng vốn, tiết kiệm được vốn tăng tích lũy

để thực hiện tái sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất ngày càng lớn hơn.

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng vốn kinh doanh nói chung của doanh

nghiệp. Thông qua chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động cho phép các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp có một cái nhìn chính xác, toàn diện về tình hình

quản lý và sử dụng vốn lưu động của đơn vị mình từ đó đề ra các biện pháp, các

chính sách các quyết định đúng đắn, phù hợp để việc quản lý và sử dụng đồng vốn

nói chung và VLĐ nói riêng ngày càng có hiệu quả trong tương lai.

Suy cho cùng việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là nhằm vào việc nâng cao

lợi nhuận. Có lợi nhuận chúng ta mới có tích luỹ để tái sản xuất ngày càng mở rộng.

1.2.3. Các phương pháp đánh giá hiệu quả quản lý vốn lưu động :

Để ứng dụng cho việc đánh giá hiệu quả quản lý vốn lưu động các nhà quản lý

thường sử dụng những phương pháp sau đây :

1.2.3.1.Phương pháp tỷ số

Phân tích tỷ số tài chính là việc sử dụng những kỹ thuật khác nhau để phân tích

các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để nắm bắt được tình hình tài chính thực tế

của doanh nghiệp, qua đó đề ra kế hoạch sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất.

Các tỷ số tài chính thường được chia làm 4 loại:

- Các tỷ số về khả năng thanh toán: Phản ánh khả năng trả nợ ngắn hạn của

doanh nghiệp.

- Các tỷ số về kết cấu vốn lưu động: Phản ánh việc doanh nghiệp sử dụng vốn

lưu động đầu tư vào các danh mục tài sản lưu động có hợp lý hay không.

- Các tỷ số về hoạt động: Phản ánh tình hình sử dụng vốn lưu động, hay phản

ánh công tác tổ chức điều hành và hoạt động của doanh nghiệp.

27

- Các tỷ số về sinh lời vốn lưu động : Phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động của

doanh nghiệp.

1.2.3.2. Phương pháp so sánh :

So sánh là một phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến động và xác định mức độ

biến động của chỉ tiêu phân tích. Để áp dụng phương pháp so sánh vào phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp ,trước hết phải có số gốc để so sánh . Ngoài ra,

cần xác định được mục tiêu so sánh trong phân tích các báo cáo tài chính. Mục tiêu

so sánh trong phân tích là nhằm xác định mức biến động tuyệt đối và tương đối cũng

xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích. Mức biến động tuyệt đối là kết quả so

sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ . Kỳ thực tế với kỳ kế hoạch , hoặc kỳ thực tế với kỳ kinh doanh trước . Mức biến động tương đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu

ở kỳ này với trị số của chỉ tiêu ở kỳ gốc , nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu liên quan , mà chỉ tiêu liên quan này quyết định quy mô của chỉ tiêu phân

tích .

Quá trình phân tích theo phương pháp so sánh có thể thực hiện bằng 3 hình thức là

so sánh theo chiều ngang, so sánh theo chiều dọc và so sánh xác định xu hướng , tính

chất liên hệ giữa các chỉ tiêu .

Phương pháp so sánh là một trong những phương pháp rất quan trọng. Nó được sử

dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong bất kỳ một hoạt động kinh doanh phân tích nào

của doanh nghiệp. Trong phân tích tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp,

nó được sử dụng rất đa dạng và linh hoạt .

1.2.3.3. Phương pháp phân tích Dupont

Mô Hình Phân Tích Tài Chính Dupont là gì

Mô hình Dupont là kỹ thuật có thể được sử dụng để phân tích khả năng sinh lãi của

một công ty bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupont tích

hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán.

Nguồn Gốc Mô Hình Dupont

Mô hình phân tích tài chính Dupont được phát minh bởi F.Donaldson Brown, một kỹ sư điện người đã gia nhập bộ phận tài chính của công ty hóa học khổng lồ này. Một vài năm sau đó, Dupont mua lại 23% cổ phiếu của tập đoàn General Motors .

Và giao cho Brown tái cấu trúc tình hình tài chính lộn xộn của nhà sản xuất xe hơi này. Đây có lẽ là lần cải tổ trên qui mô lớn đầu tiên ở Mỹ.Theo Alfred Sloan, nguyên chủ tịch của GM, phần lớn thành công của GM về sau này có sự đóng góp không nhỏ từ hệ thống hoạch định và kiểm soát của Brown. Những thành công nối tiếp đã đưa mô hình Dupont trở nên phổ biến trong các tập đoàn lớn tại Mỹ.

28

Ứng Dụng Mô Hình Dupont

Mô hình có thể được sử dụng bởi bộ phận thu mua và bộ phận bán hàng để khảo sát

hoặc giải thích kết quả của ROE, ROA,…So sánh với những hãng khác cùng ngành

kinh doanh và phân tích những thay đổi thường xuyên theo thời gian. Qua đó, cung

cấp những kiến thức căn bản nhằm tác động đến kết quả kinh doanh của công Cho thấy sự tác động của việc chuyên nghiệp hóa chức năng mua hàng.

Các Bước Trong Phương Pháp Dupont

- Thu nhập số liệu kinh doanh ( từ bộ phận tài chính )

- Tính toán ( sử dụng bảng tính )

- Đưa ra kết luận Với phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhân dẫn đến

các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp. Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập

trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn của sở hữu (ROE) thành tích số của

chuỗi các tỷ số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau. Điều đó cho

phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó với tỷ số tổng hợp.

Tỷ suất sinh lời VLĐ = ROS * Vòng quay vốn lưu động

Thế Mạnh Của Mô Hình Dupont

Tính đơn giản. Đây là một công cụ rất tốt để cung cấp cho mọi người kiến thức căn

bản giúp tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của công ty. Có thể dễ dàng kết

nối với các chính sách đãi ngộ đối với nhân viên và còn có thể được sử dụng để

thuyết phục cấp quản lý thực hiện một vài bước cải tổ nhằm chuyên nghiệp hóa chức

năng thu mua và bán hàng..

Hạn Chế Của Mô Hình Phân Tích Dupont

- Dựa vào số liệu kế toán cơ bản nhưng có thể không đáng tin cậy

- Không bao gồm chi phí vốn - Mức độ tin cậy của mô hình phụ thuộc hoàn toàn vào giả thuyết và số liệu đầu vào.

Điều Kiện Áp Dụng Phương pháp Dupont : Số liệu kế toán đáng tin cậy.

Trong phân tích tài chính người ta thường vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các

chỉ tiêu mà người ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hướng đến hỉ tiêu phân tích theo một trình tự logic chặt chẽ . ( Trích nguồn : GT- Phân tích báo cáo tài chính – NXB ĐHKTQD – 2011)

29

1.2.4.Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý vốn lưu động :

1.2.4.1.Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý vốn lưu động chung :

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp người ta thường

sử dụng hệ thống các chỉ tiêu sau :

+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán

+ Tốc độ luân chuyển vốn lưu động

+ Hàm lượng vốn lưu động

+ Mức tiết kiệm vốn lưu động

+ Khả năng sinh lời của vốn lưu động

Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán: Các tỷ số phản ánh khả năng thanh toán đo lường khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp . Những chỉ tiêu này tập trung vào các tài

sản lưu động và các khoản nợ phải trả . Hai chỉ tiêu khả năng thanh toán quan trọng

nhất là hệ số thanh toán hiện thời và hệ số thanh toán nhanh :

Hệ số thanh toán hiện thời :

Hệ số thanh toán hiện thời = Tài sản lưu động

Nợ ngắn hạn Ý nghĩa: Nếu giá trị của tỷ số này cao thì doanh nghiệp có khả năng thanh toán các

khoản nơ ngắn hạn cao . Tuy nhiên , nếu giá trị của tỷ số này quá cao thì lại không

tốt vì nó chứng tỏ doanh nghiệp đã đầu tư quá mức vào tài sản lưu đông , có quá

nhiều tiền mặt nhàn rỗi các khoản phải thu hay hàng tồn kho...Nếu tỷ số này có giá

trị bằng hoặc nhỏ hơn 1 thì được coi là thấp và doanh nghiệp đang ở trong tình trạng

khó khăn về tài chính vì nó biểu thị doanh nghiệp đã dùng nợ ngắn hạn để tài trợ cho

các loại tài sản lưu động .

Hệ số thanh toán nhanh :

Hệ số thanh toán nhanh = Tài sản lưu động - Hàng tồn kho

Nợ ngắn hạn Ý nghĩa: Hệ số này phản ảnh khả năng thanh toán thực sự của doanh nghiệp vì nó

đã loại ra khoản mục có tính thanh khoản thấp là hàng tồn kho. Nếu một công ty có hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, nó sẽ không đủ khả năng thanh toán ngay lập tức toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và, cần phải rất cẩn trọng khi đầu tư vào những công ty như vậy. Phân tích sâu hơn nữa, nếu hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn hệ số thanh toán ngay rất nhiều chứng tỏ tài sản ngắn hạn phụ thuộc rất lớn vào hàng tồn kho, đây là một ví dụ của các công ty bán lẻ. Trong trường hợp này tính thanh khoản của

30

tài sản ngắn hạn là tương đối thấp. Ngoài ra cần phải so sánh hệ số thanh toán nhanh

của năm nay so với năm trước để nhận diện xu hướng biến động, so sánh với hệ số

của doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá tương quan cạnh tranh. Hệ số này là chỉ

tiêu đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của Doanh nghiệp. Khi hệ số này

bằng 1 nghĩa là TSLĐ vừa đủ để thanh toán nợ ngắn hạn. Để đảm bảo vốn vừa thanh toán đủ nợ ngắn hạn vừa tiếp tục hoạt động được, hệ số bằng 2 được xem là hợp lý,

hệ số này cao hơn 2 được xem là đầu tư thừa vào TSLĐ.

Hệ số thanh toán tức thời :

Hệ số thanh toán thức thời = Vốn bằng tiền Nợ ngắn hạn Ý nghĩa: Hệ số này phản ảnh khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng tiền mặt của doanh nghiệp là cao hay thấp và lượng giá trị tài sản bằng tiền mà doanh nghiệp duy

trì như vậy có hợp lý hay không .Hệ số này bằng 1 thì chứng tỏ khả năng thanh toán

của Doanh nghiệp tương đối khả quan. Và ngược lại nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì tình

hình thanh toán các khoản nợ của Doanh nghiệp là hết sức khó khăn lúc này buộc

Doanh nghiệp phải bán gấp vật tư hàng hoá dự trữ để trả nợ. Tuy nhiên, nếu tỷ xuất

cao chứng tỏ doanh nghiệp đang bị ứ đọng vốn hay là doanh nghiệp đang trong tình

trạng không biết tạo ra các cơ hội cho đồng vốn của mình

Tốc dộ luân chuyển vốn lưu động :

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên tình hình tổ chức các

khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ khâu dự trữ, khâu sản

xuất đến khâu tiêu thụ có hợp lý hay không, các khoản phí tổn trong sản xuất kinh

doanh có tiết kiệm hay không .Tốc độ luân chuyển vốn lưu động càng nhanh thì hiệu

quả sử dung vốn lưu động của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại .

Doanh thu thuần = Số vòng quay của vốn lưu động Vốn lưu động bq trong kỳ

Ý nghĩa : Nếu số luân chuyển càng lớn thì chứng tỏ lợi nhuận mà nó tạo ra được

Thời gian của kỳ phân tích

càng cao và đồng vốn đó được doanh nghiệp sử dụng một cách có hiệu quả. = Thời gian của một vòng luân chuyển Số vòng quay vốn lưu động trong kỳ

31

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này có thể chỉ ra một cách chi tiết về thời gian vòng vốn luân

chuyển, vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển của vốn lưu động càng

lớn và làm ngắn chu kỳ kinh doanh, vốn quay vòng hiệu quả hơn.

Hàm lượng vốn lưu động: Công thức xác định :

Hàm lượng VLĐ = Vốn lưu động bình quân

Doanh thu thuần Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra 1 đồng doanh thu trong kỳ phải sử dụng bao

nhiêu đồng lợi nhuận.

Mức tiết kiệm vốn lưu động: Mức tiết kiệm vốn lưu động có được do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu hiện

bằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiệm tương đối và mức tiết kiệm tuyệt đối. Mức tiết kiệm vốn lưu động tương đối

DTT kì này DTT kì trước Mức tiết kiệm VLĐ tương đối =

BQ VLĐ kì này BQ VLĐ kì trước

Ý nghĩa: Nếu quy mô doanh nghiệp được mở rộng, việc tăng tốc độ luân chuyển

vốn lưu động đã giúp doanh nghiệp không cần tăng thêm vốn lưu động hoặc bỏ

ra số vốn lưu động ít hơn so với trước. Công thức xác định số vốn lưu động tiết

kiệm tương đối:

Mức tiết kiệm vốn lưu động tuyệt đối

DTT kì trước DTT kì trước Mức tiết kiệm VLĐ = tuyệt đối VQ VLĐ kì này VQ VLĐ kì trước

Ý nghĩa: Nếu quy mô kinh doanh không đổi, việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động đã giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một lượng vốn lưu động có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác.

Khả năng sinh lời của vốn lưu động: Công thức xác định :

Mức sinh lợi VLĐ = Lợi nhuận trước ( hoặc sau ) thuế thu nhập

Vốn lưu động bình quân

32

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn lưu động sử dụng trong kỳ đem lại bao

nhiêu đồng lợi nhuận .

Vậy từ đó ta có :

Vốn lưu động bình quân Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động = Tổng doanh thu tiêu thụ

Ý nghiã: Chỉ tiêu này cho chúng ta biết cứ một đồng vốn lưu động thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu

động càng cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều và ngược lại.

1.2.4.2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý từng thành phần vốn lưu động Thông qua việc phân tích tình hình luân chuyên của hàng tồn kho các nhà quản

trị có thể đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hàng tồn kho.

Quản lý hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho:

Doanh thu thuần Vòng quay hàng tồn kho = Hàng tồn kho

Ý nghĩa:Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển HTK trong một thời gian nhất định, giúp nhà quản trị tài chính xác định mức dự trữ vật tư,hàng hóa hợp lý

trong kỳ sản xuất kinh doanh. Nếu chỉ tiêu này cao thì việc tổ chức quản lý dự

trữ của DN là tốt, DN có thể rút ngắn được chu kỳ sản xuất KD và giảm được

lượng vốn bỏ vào HTK. Nếu chỉ tiêu này thấp thì có thể dự trữ vật tư quá mức

dẫn đến tình trạng bị ứ đọng hoặc sản phẩm bị tiêu thụ chậm. Từ đó có thể dẫn

tới dòng tiền vào DN bị giảm đi và đặt DN vào tình trạng khó khăn về tài chính trong

tương lai.

Thời gian quay vòng hàng tồn kho

= Thời gian quay vòng hàng tồn kho 360 Hệ số lưu kho

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết trong một chu kì kinh doanh, hàng tồn kho quay hết

một vòng cần bao nhiêu thời gian. Chỉ tiêu này lớn hay nhỏ phụ thuộc vào ngành ngề kinh doanh và tính chất của sản phẩm.

33

Tý suất sinh lời hàng tồn kho

Lợi nhuận sau thuế

Tỷ suất sinh lời hàng tôn kho =

Hàng tồn kho

Ý nghĩa : Chỉ tiêu này cho biết khả năng tạo lợi nhuận từ hàng tồn kho.

Vòng quay sản phẩm dở dang

Tổng giá thành hoàn thành

= Số vòng quay sản phẩm dở dang sản phẩm Giá trị sản phẩm dở dang

bình quân

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết sau 1 kỳ hoạt động sản phẩm dở dang quay được

bao nhiêu vòng. chỉ tiêu này phụ thuộc vào quy trình công nghệ sản xuất và tính

chất cụ thể sản phẩm trên thương trường.

Thời gian vòng quay sản phẩm dở dang

Thời gian 1 vòng quay Thời gian của kì phân tích = sản phẩm dở dang Số vòng quay sản phẩm dở dang

Ý nghĩa: Thời gian 1 vòng quay của sản phẩm dở dang: chỉ tiêu này cho biết sau

1 kỳ hoạt động mỗi vòng quay của sản phẩm dở dang hết bao nhiêu ngày. Chỉ

tiêu này càng thấp thì càng chứng tỏ chi phí dở dang của doanh nghiệp là ít và

hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cao. Vòng quay của vật tư dự trữ

Số vòng quay vật tư dự trữ = Giá vốn cùa vât tư dự trữ Giá trị NVL vật tư

Ý nghĩa: Số vòng quay của vật tư dự trữ cho sản xuất: chỉ tiêu này cho biết sau một chu kỳ hoạt động vật tư dự trữ cho sản xuất quay được bao nhiêu vòng. Thời gian quay vòng vật tư dự trữ

34

Thời gian vòng quay vật tư = dự trữ Thời gian của kỳ phân tích Số vòng quay vật tư dự trữ

Ý nghĩa: Thời gian 1 vòng quay của vật tư dự trữ cho sản xuất: chỉ tiêu này cho biết

sau 1 kỳ hoạt động thời gian quay của 1 vòng quay dự của vật tư dự trữ cho sản xuất

là bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng thấp càng chứng tỏ hàng hóa ứ đọng ít, hiệu quả sử dụng tài sản cố định cao.

Quản lý phải thu khách hàng Vòng quay khoản phải thu

Để có thể đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, việc xem xét chỉ tiêu hàng

tồn kho cần được đánh giá bên cạnh các chỉ tiêu khác như lợi nhuận, doanh thu, vòng quay của dòng tiền…, cũng như nên được đặt trong điều kiện kinh tế vĩ mô, điều kiện

thực tế của từng doanh nghiệp.

Doanh thu thuần Vòng quay các khoản phải thu = Bình quân các khoản phải thu

Ý nghĩa: Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu

thành tiền mặt. Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động

của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dư bình

quân các khoản phải thu trong kỳ. Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ

chia cho số dư bình quân các khoản phải thu trong kỳ. Khoản tiền phải thu từ khách

hàng là số tiền mà khách hàng hiện tại vẫn còn chiếm dụng của doanh nghiệp. Chỉ

đến khi khách hàng thanh toán bằng tiền cho khoản phải thu này thì coi như lượng

vốn mà doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng mới không còn nữa. Hệ số vòng

quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng

nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm

sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này..

Kỳ thu tiền bình quân

35

Số ngày của kỳ phân tích (360)

Kỳ thu tiền bình quân = Vòng quay các khoản phải thu

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết cho các khoản phải thu được một

vòng. Vòng quay các khoản phải thu càng nhỏ thì tốc độ thu hồi vốn càng lớn hiệu

quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại. Thời gian quay vòng khoản phải thu

Kỳ thu tiền trung 360 = Vòng quay các khoản phải thu bình

Vòng quay các khoản Doanh thu = phải thu Phải thu khách hàng bình quân

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải

thu

Thời gian luân chuyển vốn bằng tiền: Các khoản phải trả là các khoản vốn mà doanh nghiệp phải thanh toán cho người

ban theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà nước hoặc

thanh toán tiền công cho người lao động. Việc quản trị các khoản phải trả không chỉ

đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên duy trì một lượng vốn tiền mặt để đáp ứng

yêu cầu thanh toán mà còn đòi hỏi việc thanh toán các khoản phải trả một cách chính

xác, an toàn để nâng cao uy tín của doanh nghiệp. Trong trường hợp công ty không

tạo ra đủ tiền mặt để đáp ứng các khoản phải trả đến hạn, nó sẽ làm giảm lòng tin của chủ nợ đối với doanh nghiệp. Mặt khác, nó còn trực tiếp ảnh hưởng đến giá cổ phiếu

của công ty.

Do đó, trong tình huống này sẽ rất khó khăn hơn cho các công ty gây quĩ bằng cách vay mượn tiền hoặc nhận các cung cấp từ các nhà cung cấp.Vì vậy, dể quản lý tốt các khoản phải trả, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra, đối chiếu các khoản phải thanh toán với khả năng thanh toán của doanh nghiệp để chủ động đáp ứng các

yêu cầu thanh toán khi đến hạn. Một cách để đánh giá khả năng tài chính doanh

nghiệp nữa là dựa vào các chỉ số: vòng quay khoản phải trả, thời gian quay vòng khoản phải trả

= Vòng quay khoản phải trả Giá vốn + CPBH và QLDN PTNB + Lương, thưởng+ thuế

36

Số ngày của kì (360)

Thời gian quay vòng

khoản phải trả = Số vòng luân chuyển của các

khoản phải trả

Đối lập với khoản phải thu và hàng tồn kho có xu hướng càng tăng càng tốt thì

đối với các doanh nghiệp càng được chậm trả nợ càng tốt nên họ rất muốn kéo dài

thời gian hoàn trả nợ dẫn đến vòng quay khoản phải trả thấp. Vòng quay phải trả

thấp, số ngày hoàn trả nợ kéo dài có thể là dấu hiệu cho thấy công ty rất có uy tín và là khách hàng tốt của nhà cung cấp nên được cho phép chậm trả, nhưng cũng có thể

cho thấy khách hàng đang khó trả các khoản nợ đến hạn.

Thời gian quay vòng của tiền = Thời gian quay vòng HTK + Thời gian quay

vòng PTKH

1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý VLĐ :

Có 2 nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn lưu động: nhóm nhân tố ảnh hưởng bên

trong và nhóm nhân tố ảnh hưởng bên ngoài.

Nhóm nhân tố ảnh hưởng bên trong: như quy mô doanh nghiệp, tình hình quản

lý sử dụng vốn lưu động…

Khi so sánh giữa hai doanh nghiệp có quy mô khác nhau thì lượng vốn lưu động cũng

khác nhau, doanh nghiệp nhỏ có ít khả năng đầu tư nhiều về tài sản cố định nên quá

trình kinh doanh chủ yếu dựa vào sự vận động của vốn lưu động, ngược lại doanh

nghiệp có quy mô lớn thì có tỷ lệ vốn lưu động trong tổng tài sản lớn hơn do có khả

năng đầu tư vào tài sản cố định.

Tình hình quản lý sử dụng vốn lưu động có ảnh hưởng rất lớn đến lượng vốn lưu

động. Một doanh nghiệp có kế hoạch quản lý sử dụng vốn lưu động có hiệu quả thì lượng vốn lưu động không những được bảo toàn qua các kỳ kinh doanh mà ngày một tăng thêm. Đối với những doanh nghiệp có tình hình quản lý sử dụng vốn mà hoạt động không tốt sẽ dẫn tới tình trạng hao hụt dần vốn lưu động và hoạt động sản xuất kinh doanh bị gián đoạn.

Nhóm nhân tố ảnh hưởng bên ngoài: có thể kể đến uy tín, đặc điểm từng ngành

và tình hình kinh tế trong từng giai đoạn. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng ngành cũng ảnh hưởng đến khối lượng vốn lưu động, ví dụ như ngành thương mại du lịch thì cần lượng vốn lưu động nhỏ hơn so với ngành sản xuất.

37

Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến vốn lưu

động,một doanh nghiệp có uy tín trên thị trường sẽ cần một lượng vốn lưu động ít

hơn các doanh nghiệp khác.

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG VỀ VIỆC QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY

NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG

KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam

2.1.1. Thị trường chứng khoán Việt Nam Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK VN) chính thức hoạt động vào tháng 7 năm 2000. Sau 14 năm hoạt động và phát triển, TTCK VN đã đạt được sự phát

triển nhanh về quy mô, mở ra kênh huy động và đầu tư dài hạn cho nền kinh tế; từng bước đạt được những mục tiêu kinh tế, tài chính vĩ mô mà Nhà nước Việt Nam kỳ

vọng và đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam thời kỳ hội nhập

kinh tế WTO. Tính đến năm 2014, TTCK VN đã đạt được những bước phát triển khá

toàn diện trên các phương diện quy mô thị trường, các tổ chức kinh doanh và dịch

vụ chứng khoán, thể chế thị trường, khung luật phát, chính sách và sức hút với công

chúng Việt Nam.

Thi trường chứng khoán Việt Nam đã từng bước hoàn thiện và nâng cao năng

lực tổ chức hoạt động của các Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) và

Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (TTLKCK). Hoạt động giao dịch chứng khoán được

vận hành theo quy luật cung cầu thông qua hệ thống giao dịch tập trung do TTDGCK

Tp. Hồ Chí Minh quản lý (hoạt động từ tháng 7 năm 2000) và theo cơ chế thỏa thuận

do TTDGCK Tp. Hà Nội quản lý (hoạt động từ tháng 3 năm 2005). Thị trường chứng

khoán tại các TTGDCK được vận hành an toàn suôn sẻ và giám sát được hoạt động

giao dịch trên thị trường đó. TTLKCK bắt đầu hooatj động từ tháng 5 năm 2006 và có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của TTCK như thực hiện thanh toán các giao dịch chứng khoán, đảm bảo cho các giao dịch chứng khoán được hoàn tất; giúp cho việc quản lý hiệu quả thị trường chứng khoán; giảm chi phí cho các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán; góp phần giảm rủi ro cho hoạt động thị trường;

đảm bảo thực hiện thanh toán nhanh góp phần giúp các đối tượng của hệ thống tăng vòng quay vốn. Năm 2007, Chính phủ Việt Nam quyết định chuyển đỏi mô hình TTGDCK sang mô hình Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK). Việc thiết lập một thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức, vận hành liên tục với các chứng khoán được chọn lựa là một trong những chức năng quan trọng nhất của SGDCK. Mặc dù hoạt động của

38

SGDCK không mang lại vốn trực tiếp cho tổ chức phát hành, nhưng thông qua đây,

các chứng khoán phát hành giao dịch liên tục, làm tăng tính thanh khoản và khả mại

cho các chứng khoán. Các tổ chức phát hành có thể phát hành để tăng vốn qua thịt

trường chứng khoán, các nhà đầu tu có thể dễ dàng mua hoặc bán chứng khoán niêm

yết một cách dễ dàng và nhanh chống. Việc chuyển đổi TTGDCK sang mô hình SGDCK là một bước phát triển tất yếu để tiếp tục đáp ứng nhu cầu đầu tư và huy

động vốn cho nền kinh tế. Việc chuyển mình cũng đồng nghĩa với việc các thành

phần tham gia TTCK, bao gồm nhà đầu tư trong và ngoài nước, các công ty niêm

yết, các công ty chứng khoán... và các thành phần tham gia thị trường sẽ có nhiều kỳ

vọng hơn đối với các nhà quản lý thị trường. Nó cho thấy quyết tâm của Nhà nước trong việc đưa ra một mô hình quản lý hiện đại cùng với cơ chế giao dịch thuận tiện,

linh hoạt nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhà đầu tư.

2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của Sở giao dịch chứng khoán thành phố

Hồ Chí Minh Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (SGDCK TP.HCM), tiền thân là

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh, được chuyển đổi theo Quyết

định 599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Sở Giao dịch Chứng

khoán TP. Hồ Chí Minh (SGDCK TP.HCM), tiền thân là Trung tâm Giao dịch Chứng

khoán TP.Hồ Chí Minh, được chuyển đổi theo Quyết định 599/QĐ-TTg ngày

11/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ.

Ngày 11/07/1998, với Nghị định số 48/CP về Chứng khoán và Thị trường chứng

khoán, Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được khai sinh. Cùng ngày,

Thủ tướng Chính phủ cũng ký Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg thành lập Trung tâm

Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Hai năm sau, vào ngày 28/07/2000,

phiên giao dịch đầu tiên với 2 mã cổ phiếu niêm yết đã chính thức được tổ chức tại

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của Thị trường chứng khoán Việt Nam. Sau 7 năm hoạt động, đến thời điểm tháng 08/2007 đã có 111 doanh nghiệp niêm yết và 55 công ty chứng khoán thành viên, 18 công ty quản lý quỹ, 61 tổ chức lưu ký. Cấu trúc thị trường đã được rõ ràng và chuyên biệt hơn với sự tách ra hoạt động

độc lập của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam trong năm 2005.

Nhằm đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của thị trường, đáp ứng quá trình đổi mới nền kinh tế, tái cơ cấu các doanh nghiệp, ngày 11/05/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 599/QĐ chuyển Trung Tâm thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), hoạt động theo mô hình Công ty TNHH Một Thành viên (100% vốn chủ sở hữu thuộc Bộ Tài chính). Việc chuyển đổi mô hình đã

39

giúp HOSE có một vị trí tương xứng với các Sở Giao dịch khác trên thế giới trong

mối quan hệ và hợp tác quốc tế, từ đó, nâng cao vị trí và tầm ảnh hưởng của thị

trường chứng khoán Việt Nam.

Trong năm 2011, HOSE đã nghiên cứu và xây dựng chỉ số VN30 bao gồm 30 cổ

phiếu hàng đầu về giá trị vốn hóa, chiếm khoảng 80% giá trị vốn hóa toàn thị trường, 60% về giá trị giao dịch. Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu thị trường, HOSE cũng đã

triển khai lệnh MP và đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng sản phẩm ETF

(Exchange Traded Fund) để đưa vào giao dịch.

2.1.3. Số lượng cổ phiếu qua các năm Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu hoạt động từ năm 2000 với số công ty niêm yết đến cuối năm 2000 là 5 công ty và tăng trưởng dần qua các năm đặc biệt

cuối năm 2006 (từ 38 công ty niêm yết vào cuối năm 2005 đến 189 công ty niêm yết tính đến cuối năm 2006) do Sở giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh được thành

lập từ sớm và đang dần đi vào ổn định nên các công ty niêm yết cũng ngày một nhiều

hơn. Mặt khác, các công ty cúng phải chạy đua với mốc 1/1/2007 – Mốc chính thức

bãi bỏ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (giảm 50%) trong 2 năm kể từ ngày lên

sàn.

800

600

400

200

0

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

22

26

Số lượng CT niêm yết HSX 20 Số lượng CT niêm yết HNX Tổng số lượng CT niêm yết 20

2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 106 138 150 200 280 303 315 322 83 112 168 257 367 397 390 395 189 250 318 457 647 700 705 717

32 6 38

22

26

Biểu đồ 2.1. Số lượng các Công ty niêm yết trên TTCK VN qua các năm

40

2.2. Đặc điểm, tình hình phát triển hiện nay và triển vọng của ngành xây dựng

2.2.1. Đặc điểm, tình hình phát triển hiện nay của ngành Ngành xây dựng là một trong những ngành kinh tế lớn, sản phẩm của ngành xây

dựng có vai trò quan trọng đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế, đấy mạnh phát triển khoa học kỹ thuật và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân.

Xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thực tế

từ đầu những năm 90, mặc dù đất đau vẫn thuộc quyền sở hữu của Nhà nước song

thị trường bất động sản vẫn tự phát hình thành và phát triển mạnh. Đến nay, sau hơn

20 năm hình thành và phát triển, lĩnh vực xây dưng đã gặt hát được những thành tựu quan trọng.

Chu kỳ kinh tế là yếu tố cực kỳ quan trọng tác động tới hoạt động ngành xây dựng. Thực tế cũng cho thấy, cùng với dự phát triển kinh tế của Việt nam, lĩnh vực

xây dựng đã không ngừng tăng trưởng qua các năm. Đặc biệt, trong khoảng 10 năm

trở lại đây (ngoại trừ giai đoạn suy thoái cuối năm 2008 – đầu năm 2009), tốc độ tăng

trưởng bình quân ngành xây dựng đã vượt qua tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh

tế (tính theo giá trị thực tế). Mặc dù, năm 2013 trong bối cảnh tình hình kinh tế thế

giới vẫn có nhiều diễn biến phức tạp, phục hồi chậm hơn dự báo; nền kinh tế trong

nước vẫn đang trong giai đoạn khó khăn; thị trường BĐS vẫn còn trầm lắng; SXKD

của các DN vẫn trong tình trạng khó khăn; xử lý hàng tồn kho và nợ xấu, duy trì đời

sống, việc làm cho người lao động tiếp tục là một thách thức lớn đối với các

DN…Tuy nhiên, với sự nỗ lực và cố gắng của toàn Ngành, giá trị sản xuất ngành

Xây dựng năm 2013 (theo giá hiện hành) đạt 770,41 nghìn tỷ đồng (tăng 7% so với

năm 2012), chiếm tỷ trọng 5,94% GDP cả nước và được đánh giá là một trong những

yếu tố tích cực trong tăng trưởng kinh tế của năm 2013.

Trong 6 tháng đầu năm 2014, lĩnh vực xây dựng có tốc độ tăng trưởng giá trị sản lượng cao nhất trong các ngành sản xuất thực. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm nay tăng 13,6%; nông, lâm, thủy sản chỉ tăng 5,3%. Cụ thể, giá trị sản xuất (theo giá thực tế) ngành xây dựng quý 2/2010 ước đạt 114,1 nghìn tỷ đồng, tăng 27,3% so với cùng kỳ năm 2009. Tính

chung 6 tháng đầu năm, giá trị sản xuất ngành xây dựng đạt khoảng 215,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,2% GDP cùng thời kỳ (so với 855,2 nghìn tỷ đồng), và tăng 23,8% so với 6 tháng đầu năm 2009. Từ năm 2006 ,tốc độ tăng trưởng GDP do nhóm xây dựng đóng góp luôn cao hơn tốc độ tăng chung và cao hơn tốc độ tăng GDP do nhóm ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản chỉ đứng sau nhóm ngành dịch vụ.

41

Biểu đồ 2.2. Tốc đô tăng trưởng GDP bình quân theo nhóm ngành thời kì 2006

7.19

8

6.22

7

6.06

6.01

5.33

5.18

6

5

3.37

4

2.96

3

2

1

0

Tổng số

Bình quân 2006-2013 6.06

6 tháng đầu năm 2014 5.18

Nông,Lâm nghiệp,Thủy sản

3.37

2.96

Công nghiệp,Xây dựng

6.22

5.33

Dịch vụ

7.19

6.01

– 2013 và 6 tháng đầu năm 2014 (%)

(Nguồn : TCTK) Nhìn vào biểu đồ trên, ta có thể thấy tốc độ tăng trưởng GDP các nhóm ngành

vào 6 tháng đầu năm 2014 có xu hướng giảm rõ rệt. Mặc dù ngành xây dựng đang

được nhà nước chú trọng đầu tư và có những chính sách hỗ trợ ngành, tuy nhiên do

khó khăn ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế và lạm phát kéo dài nên thị trường bất

động sản vẫn phải đối mặt với rất nhiều sóng gió.

Năm 2013, tình hình thị trường bất động sản có diễn biến trầm lắng. Giá bất động

sản có xu hướng giảm. Một số dự án đã đổ vỡ, một số dự án đã bị thu hồi. Nhiều

doanh nghiệp lớn đã phải tái cấu trúc cả về số lượng dự án, cả về quy mô dự án, cả

về giá thành sản phẩm của dự án. Nhiều doanh nghiệp lớn phải thoái vốn khỏi các

dự án lớn. Tuy nhiên, chưa có đổ vỡ lớn, dây chuyền. Thị trường bất động sản Việt

Nam đang ở thời điểm khó lường...Không chỉ doanh nghiệp bất động sản lao đao vì thiếu vốn mà nhiều nhà đầu tư bất động sản cũng điêu đứng trước những khó khăn về tài chính khiến cho thị trường bất động sản xuất hiện hiện tượng bán tháo, giảm giá và thậm chí vỡ nợ...một số doanh nghiệp và nhà đầu tư bắt đầu rút lui khỏi thị

trường.

42

Dịch vụ

Công nghiệp, Xây dựng

Nông,Lâm nghiệp,Thủy sản

18.39

18.39

19.3

38.3

38.23

38.13

43.31

42.83

42.5

Năm 2005

Năm 2010

Năm 2013

Biểu đồ 2.3. Tỷ trọng đóng góp của ngành xây dựng qua các năm

(Nguồn :TTCK) Thị trường bất động sản năm 2013 có những khó khăn lớn. Giao dịch trầm lắng,

tồn kho bất động sản cao, nợ xấu chưa được giải quyết như mong muốn. Tuy vậy,

một loạt giải pháp của Nhà nước đã được đưa ra. Nợ xấu đã được Công ty quản lý

tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) xem xét mua lại. Nhà ở xã hội đã được xem

xét hỗ trợ bằng Nghị quyết 02 của Chính phủ thông qua gói 30.000 tỷ, quỹ đầu tư bất

động sản cũng được thúc đẩy, ngân hàng tiết kiệm nhà cũng được đề xuất. Cuối năm

2013, một số công trình tại một số vị trí thuận lợi đã tái khởi động. Một số dự án đã

hoàn thành đi vào bàn giao nhà…

Thị trường bất động sản Việt Nam năm 2013 đi ngang, dẫu cuối năm đã có

những điểm sáng. Những tồn đọng đã bước đầu được xử lý. Nguồn tài chính vẫn

chưa vận hành vào. Tình hình có thể có những chuyển biến trong năm 2014. Tuy

nhiên, cần rất nhiều nỗ lực của các bên: Nhà nước, doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, các nhà đầu tư tiềm năng...để khôi phục ngành xây dựng Việt Nam.

2.2.2. Triển vọng của ngành Đầu tư công, FDI và ODA đều tăng khiến triển vọng ngành xây dựng, nhất là

xây dựng cơ sở hạ tầng trong năm 2014 tăng trở lại. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng thực tế của ngành xây dựng còn phụ thuộc vào các nhân tố:

43

Các chính sách hỗ trợ của Chính phủ đối với nhà ở:

- Giảm 50% thuế VAT đối với căn hộ thương mại thuộc dạng đã hoàn thiện, có diện

tích sàn dưới 70 và giá bán dưới 15 triệu từ ngày 30/11/2013 đến hết 30/6/2014.Hỗ

trợ 5% thuế VAT đối với nhà ở xã hội.

- Áp dụng thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp phổ thông 22% và 10% đối với doanh nghiệp kinh doanh nhà ở xã hội.

- Nghị định 188/2013/NĐ-CP về phát triển và quản lý nhà ở xã hội có hiệu lực từ

ngày 10/01/2014.Theo đó, các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và các định

chế tài chính có trách nhiệm dành lượng vốn tối thiểu khoảng 3% tổng dư nợ cho các

chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội và người mua, thuê, thuê mua nhà thu nhập thấp vay với lãi suất ưu đãi thấp hơn thị trường, kỳ hạn trả nợ

phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng. - Giảm 1% lãi suất cho vay hỗ trợ nhà ở: ngày 02/01/2013 Thống đốc NHNN quyết

định mức lãi suất của các ngân hàng thương mại áp dụng trong năm 2014 đối với dư

nợ của các khoản cho vay hỗ trợ nhà ở theo quy định tại Thông tư số 11/2013/TT-

NHNN ngày 15/5/2013 (gói 30,000 tỷđồng) là 5%/năm.

- Dự thảo luật nhà ở sửa đổi: xem xét mở rộng quy định cho đối tượng nước ngoài

được mua nhà ở Việt Nam theo hạn định. Nếu được thông qua, cầu thị trường sẽ tăng

do dòng vốn nước ngoài chảy vào thị trường bất động sản Việt Nam.

Chi đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước tăng:

Quốc hội thông qua việc phát hành thêm 170 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ giai

đoạn 2014-2016, trong đó 61,68 nghìn tỷ đồng đầu tư dự án Quốc Lộ1A và Quốc lộ

14 (Đường Hồ Chí Minh đoạn qua khu vực Tây Nguyên); bổ sung 73,32 nghìn tỷ

đồng cho các dự án đang đầu tư dở dang bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ 2011-

2015; bố trí 20 nghìn tỷ đồng vốn đối ứng các dự án ODA và bố trí 15 nghìn tỷ đồng

đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn.

Dòng vốn FDI và ODA được kỳ vọng sẽ tăng lên trong thời gian tới:

BSC dự báo, năm 2014, FDI đăng ký sẽ tăng với mức trên 22 tỷ USD và vốn giải ngân đạt 10,5-11 tỷ USD, lượng vốn ODA vào Việt Nam sẽ tăng ở mức khoảng 10- 15% so với năm 2013, trong đó Nhật Bản công bố dành 1 tỷ USD vốn ODA cho Việt

Nam được cấp cho 5 dự án hạ tầng cơ sở. Đất nước ta đang đổi mới và bước vào thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Từ đây sẽ tạo ra nhiều thay đổi to lớn về môi trường hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành xây dựng; bời lẽ đây là ngành đi tiên phong, tạo thế và lực cho công cuộc đổi mới. Sự thay đổi to lớn về môi trường kinh doanh có thể đồng thời tạo ra

44

những cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp ngành xây dựng. Thách thức lớn

nhất đó là sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, với các đối thủ rất mạnh

về vốn, về công nghệ, khôn ngoan hơn trong việc sử dụng vốn, cách thức quản lý.

Trong điều kiện gay gắt như vậy, làm thế nào để duy trì hiệu quả hoạt động kinh

doanh, tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đây là một câu hỏi lớn và không dễ trả lời với các doanh nghiệp trong ngành xây dựng.

2.3. Thực trạng về việc quản lý vốn lưu động của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Số lượng về thực trạng quản lý vốn lưu động của 32 công ty ngành xây dụng

niêm yết trên HSX được tổng hợp từ các báo cáo tài chính được công bố trên HSX từ năm 2011 cho đến hết năm 2013. Một số số liệu của các công ty không thu nhập

được do tại thời điểm năm 2011 công ty này chưa niêm yết trên HSX.

2.3.1. Nhóm chỉ tiêu thể hiện tỷ số khả năng sinh lời (ROA, ROE, ROS) Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA

Thu nhập sau thuế ROA = Tổng tài sản

Bảng 2.1. Thống kê ROA từ năm 2011 đến 2013

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

< 0 0 2 3

0 đến 5% 21 22 21

>5% đến 10% 8 5 5

>10% 3 3 3

Tổng 32 32 32

( Nguồn : HSX)

45

80%

69%

66%

66%

70%

60%

50%

40%

25%

30%

16%

16%

20%

9%

9%

9%

9%

6%

10%

0%

0%

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

< 0%

0%

6%

9%

từ 0% đến 5%

66%

69%

66%

từ 5% đến 10%

25%

16%

16%

>10%

9%

9%

9%

Biểu đồ 2.4. Thống kê ROA từ năm 2011 đến 2013

Qua biểu đồ 2.4 – Chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng tài sản có thể thấy từ năm 2011

đến năm 2013, đa số các công ty có tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản từ khoảng 0%

đến 5%. Tỷ lệ các công ty ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán

HSX thuộc nhóm này luôn rất cao và dao động ở mức trên 60%. Đây là mức tỷ lệ

tương đối tốt mà các doanh nghiệp trong nhóm này sở hữu do mức thu nhập sau thuế

đạt được tương đối cao. Có thể kể ra trong năm 2013 đó là các công ty có mã chứng

khoán như CII (EAT = 143.437.434.711 đồng, EAT = 2,1%), SC5 (EAT =

53.722.075.695, EAT = 2,6%) hay HTI (EAT = 37.623.513.424 đồng, EAT = 3,8%).

Ở nhóm có mức tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản cao hơn, từ 5% đến 10% cũng có

rất nhiều công ty trong ngành đạt được đó là các công ty với mã chứng khoán như

CTD (EAT= 257.137.686.890 đồng, ROA = 5,6%), BCE (EAT = 47.055.423.011

đồng, ROA = 6,1%) hay SRF (EAT = 38.572.076.704 đồng, EAT = 5,3%). Có thể

thấy các công ty này đã đạt được tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản khá cao trong năm 2013. Và ở nhóm có tỷ suất sinh lời ROA lớn hơn 10% trong năm 2011 có 3 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng đạt được tỷ lệ này. Đó là Công ty cổ phần Xây dựng Công nghiệp & Dân dụng Dầu khí (PXI) (EAT = 914.473.698.175 đồng,

EAT = 15,4%), đây là tỷ suất sinh lời cao nhất trong tổng số 32 công ty đã thu thập được dữ liệu. Bên cạnh đó là Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) (EAT = 975.754.197.638 đồng, ROA = 14%) và Công ty cổ phần bê tông Becamex (ACC) (EAT = 34.276.418.940 đồng, ROA = 13,9%). Mỗi đồng vốn mà 2 doanh nghiệp này bỏ ra luôn thu về được rất nhiều đồng lãi, điều đó đã cho thấy sự đầu tư đúng đắn

46

vào những công trình xây dựng lớn. Các công trình tiêu của PXI như Khu phức hợp

Thương mại – Dịch vụ - Văn phòng và Căn hộ tại Phường 9, Tp Vũng Tàu hay Khu

du lịch 5 sao Hồng Phúc tại Huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu...Các công

trình tiêu biểu của ACC như Trung tâm chính trị hành chính tỉnh Bình Dương,

Trường Đại học Quốc tế Miền Đông, Khu Công Nghiệp V SIP II...Cuối cùng ở nhóm có tỷ suất sinh lời nhỏ hơn 0 % xuất hiện vào năm 2012 và 2013. Trong năm 2012,

có 2 công ty có tỷ suất sinh lời nhỏ hơn 0% là Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng

Bưu điện (PTC) (EAT = 1.203.444.894 đồng, ROA = -16,3%) và Công ty Cổ phần

Coma18(CIG) (EAT= 1.720.875.931 đồng, ROA = -2,2%). Năm 2013, số lượng

công ty có tỷ suất sinh lời nhỏ hơn 0% tăng thêm một Công ty. Đó là các Công ty Cổ phần Licogi16(LCG) (EAT=- 301.789.902.619 đồng,EAT=-16,2%), Công ty Cổ

phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang(LGL) (EAT=-53.628.886.417đồng, ROA = -9,3%) và Công ty Cổ phần Xây lắp đường ống Bể chứa Dầu khí (PXT) (EAT

= -35.584.340.837 đồng, ROA = -5,5%). Do lợi nhuận sau thuế của những Công ty

trên đều có giá trị âm nên chỉ số ROA cũng mang lại giá trị âm.

Như vậy có thể thấy, năm 2013 thị trường bất động sản tương đối bất ổn và

không còn sôi động như các năm trước. Tuy nhiên, nhìn vào tổng thể qua 3 năm có

thể thấy các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng luôn đạt được mức thu

nhập sau thuế dương đã cho thấy khả năng sử dụng tổng tài sản rất tốt dù việc kinh

doanh trong lĩnh vực này luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Thu nhập sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu

Bảng 2.2. Thống kê ROE từ năm 2011 đến năm 2013

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

<0% 0 2

3

Từ 0% đến 17% 27 26 26

Từ 17% đến 30% 2 4 3

>30% 3 0 0

Tổng 32 32 32

( Nguồn : HSX)

47

85%

90%

82%

81%

80%

70%

60%

50%

40%

30%

20%

13%

9%

9%

9%

6%

6%

10%

0%

0%

0%

0%

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

<0%

0%

6%

9%

Từ 0% đến 17%

85%

81%

82%

Từ 17% đến 30%

6%

13%

9%

>30%

9%

0%

0%

Biểu đồ 2.5. Thống kê ROE từ năm 2011 đến 2013

Qua biểu đồ 2.5 – Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu có thể thấy từ

năm 2011 đến 2013, tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu của các công ty niêm yết trên

HSX tương đối cao. Trong nhóm có mức ROE khoảng từ 0% đến 17%, có khoảng

xấp xỉ 80% đến 85% công ty trong ngành xây dựng. Trong năm 2013, có thể liệt kê

một số công ty tiêu biểu với mã chứng khoán là HTI (ROE = 11,8%), BCE (ROE =

12,6%) hay SC5 (ROE = 16,1%). Những doanh nghiệp này đã tận dụng khá tốt nguồn

vốn chủ sở hữu để đầu tư vào các công trình xây dựng, các công trình tiêu biểu như:

SC5 là Chung cư An Lạc...Qua đó, các doanh nghiệp này đã đạt được những mức lợi

nhuận sau thuế tương đối cao. Ở nhóm tiếp theo, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

từ 17% đến 30% luôn có trung bình khoảng 9% công ty trong ngành thuộc nhóm này.

Đây là mức sinh lời mà mọi công ty hoạt động trong ngành đều mong muốn. Trong năm 2013, có thể kể ra các công ty niêm yết trên HSX thuộc nhóm này là ACC (ROE = 17,3%), REE (ROE = 18,8%) hay HDG (ROE = 19,1%). Sở dĩ mức tỷ suất ROE của các doanh nghiệp thuộc nhóm này cao như vậy là do một đồng vốn chủ sở hữu

bỏ ra để đầu tư vào các doanh mục bất động sản đem lại rất nhiều đồng lãi cho doanh nghiệp đó. Nói cách khác, những doanh nghiệp này đã lựa chọn đầu tư trọng điểm và rất chính xác các công trình xây dựng chính của mình. Ví dụ như của ACC là công trình Khu Đô thị và Công nghệ Mỹ Phước III... REE là Bitexco Land – The Manor Building Quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh, Trung tâm thương mại Sài Gòn, Lega

48

Villa Thủ Đức...Tiếp đến, ở nhóm có tỷ suất sinh lời lớn hơn 30% trong ngành xây

dựng, từ năm 2011 đến năm 2013 có rất ít doanh nghiệp có thể đạt được mức sinh

lời này. Chỉ duy nhất trong năm 2011 có 3 doanh nghiệp đạt được tỷ suất sinh lời

trên vốn chủ sở hữu lớn hơn 30%, đó là các công ty có mã chứng khoán LCG (ROE

= 38,9%), ACC ( ROE = 32%), và FCN (ROE = 30,9%). Sang tới năm 2012 và 2013 không một công ty nào trong số 32 công ty ngành xây dựng đã thu thập số liệu có

mức tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu lơn hơn 30%. Điều này là dễ hiểu do năm

2012 và 2013 vừa qua là năm mà việc hoạt động kinh doanh trong ngành xây dựng

nói chung và thị trường bất động sản nói riêng gặp rất nhiều khó khăn. Cuối cùng là

nhóm có tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu nhỏ hơn 0%, trong năm 2011 không có doanh nghiệp nào trong nhóm này. Sang đến năm 2012 có 2 doanh nghiệp và dần

tăng thêm 1 doanh nghiệp vào năm 2013. Đặc biệt, trong năm 2013 vừa qua phải kể đến công ty với mã chứng khoán LCG (ROE = -37,7%) và LGL (ROE = -18,7%).

Thị trường bất động sản trong năm 2013 luôn ảm đạm và chìm lắng, từ các doanh

nghiệp vừa và nhỏ đến các doanh nghiệp đầu ngành đều rất khó khăn trong việc tìm

nguồn vốn vay cho hoạt động kinh doanh cũng như đầu ra cho các công trình xây

dựng đã hoàn thiện của mình.

Như vậy, có thể thấy các năm qua các doanh nghiệp trong ngành xây dựng đã

hoạt động rất tốt, đạt được hiệu quả cao và nhiều thành tựu lớn. Tuy nhiên, trong

năm 2013 vừa qua, các doanh nghiệp này lại đang gặp rất nhiều khó khăn, tình hình

xây dựng không có nhiều dấu hiệu khả quan. Mặc dù giá vật liệu gần đây đã ổn định

nhưng tình hình xây dựng các công trình nhà dân dụng, các dự án địa phương vẫn

tiếp tục trầm lắng. Dự báo trong năm 2014 sẽ tiếp tục trầm lắng bởi tác động từ các

chính sách cắt giảm đầu tư công, thắt chặt tín dụng của các ngân hàng và lãi suất

cho vay cao. Do vậy nhiệm vụ năm 2014 của các doanh nghiệp hoạt động trong

ngành xây dựng cần cạnh tranh để được tin tưởng và giao phó trọng trách “ nhà thầu chính ” trên các công trình tại chính đất nước mình, không để các doanh nghiệp nước ngoài lấn sân. Bản thân các nhà thầu cũng cần vươn lên để trong tương lai sẽ tiến ra các thị trường xây dựng quốc tế vô cùng rộng lớn, vấn đề ứng dụng công nghệ xây dựng hiện đại cần được áp dụng sâu rộng hơn và mô hình Tổng công ty cổ phần

với những ưu nhược điểm cần được xem xét đánh giá kịp thời để có thể đạt được những kết quả tốt đẹp trong tương lai.

49

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên doanh thu thuần (ROS)

Thu nhập sau thuế ROS = Doanh thu thuần

Bảng 2.3. Thống kê ROS từ năm 2011 đến năm 2013

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

<0% 0 2 3

Từ 0% đến 10% 24 25 25

Từ 10% đến 30% 7 4 2

>30% 1 1 2

Tổng 32 32 32

(Nguồn : HSX)

90%

78%

78%

80%

75%

70%

60%

50%

40%

30%

22%

20%

13%

9%

7%

6%

6%

10%

3%

3%

0%

0%

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

<0%

0%

6%

9%

Từ 0% đến 10%

75%

78%

78%

Từ 10% đến 30%

22%

13%

6%

>30%

3%

3%

7%

Biểu đồ 2.6. Thống kê ROS từ năm 2011 đến năm 2013

Qua biểu đồ 2.6 – Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên doanh thu thuần có thể thấy từ năm 2011 đến 2013, tỷ lệ sinh lời trên doanh thu thuần của các công ty niêm yết trên

HSX tương đối tốt. Đây là chỉ số đo khả năng tạo lợi nhuận từ doanh thu. ROS càng cao chứng tỏ doanh nghiệp quản lý một cách hiệu quả các chi phí hoạt động. ROS

50

cao thể hiện doanh nghiệp làm chủ đầu vào và đầu ra ổn định, không bị sức ép về chi

phí từ giá vốn hàng bán cũng như quản lý luồng tiền phân bổ trong công ty một cách

hiệu quả như các khoản chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh

nghiệp...

Trong nhóm có mức ROS khoảng từ 0% đến 10%, có khoảng xấp xỉ 75% đến 78% công ty trong ngành xây dựng đạt được. Trong năm 2013, có thể liệt kê một số công

ty tiêu biểu với mã chứng khoán là ACC (ROS = 9,5%), PXS (ROS = 7,5%), FCN

(ROS = 6,9%). Những doanh nghiệp này sử dụng và quản lý khá tốt các chi phí phải

bỏ ra trong toàn bộ quá trình sản xuất. Công ty cổ phần bê tông Becamex (ACC)

cũng là một trong những công ty có tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản tương đối cao (ROA = 13,9%). Ở nhóm tiếp theo, tỷ suất sinh lời trên doanh thu thuần từ 10% đến

30% có xu hướng giảm dần qua các năm, tại các năm 2011,2012,2013 lần lượt là 22%, 13% và 6%. Có thể thấy, đây là mức sinh lời lý tưởng mà các công ty hoạt động

trong ngành xây dựng đều mong muốn đạt được. Năm 2011, mặc dù Việt Nam vừa

vực dậy sau cuộc chiến khủng hoảng lây lan toàn cầu năm 2008 nhưng các doanh

nghiệp xây dựng niêm yết trên sàn HOSE vẫn đạt được mức ROE cao hơn so với các

năm trở lại đây. Trong năm 2013 chỉ có 2 công ty nằm trong nhóm này đó là công ty

với mã chứng khoán HTI (ROS = 20,7%), HDG (ROS = 14,5%).

Tiếp đến ở nhóm có tỷ suất sinh lời lớn hơn 30% trong ngành xây dựng, từ năm 2011

đến năm 2013 có rất ít doanh nghiệp có thể đạt được mức sinh lời này. Năm 2011 và

2012 chỉ duy nhất 2 doanh nghiệp đạt được mức này và sang tới năm 2013 là tăng

thêm 1 doanh nghiệp. Năm 2011, đó là công ty với mã chứng khoán CII ( ROS =

121%), công ty này dữ nguyên phong độ trong năm 2013 và cũng đạt tỷ suất sinh lời

trên doanh thu thuần cao lên đến 170%. Tiếp tục, giữ vị trí dẫn đầu năm 2013 CII đạt

ROS = 38,9%. Mặc dù, thấp hơn so với những năm trước tuy nhiên đó cũng là mức

ROS cao mà mọi doanh nghiệp xây dựng đều mong đạt được trong thời buổi biến động tỉ giá như hiện nay. Song song cạnh đó là công ty với mã chứng khoán REE đạt ROS = 40,4%. Đây cũng là công ty đạt mức tỷ xuất sinh lời cao qua các năm, cụ thể 2 năm 2011 và 2012 lần lượt là 28,3% và 27,4%. Cuối cùng là nhóm có tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu nhỏ hơn 0%, trong năm 2011 không có doanh nghiệp nào

trong nhóm này. Sang đến năm 2012 có 2 doanh nghiệp và dần tăng thêm 1 doanh nghiệp vào năm 2013. Đặc biệt, trong năm 2013 vừa qua phải kể đến công ty với mã chứng khoán LGL ( ROS = - 185,4%), LCG ( ROS = -133%) và PXT (ROS = - 10,2%). Hai công ty có mã chứng khoán là ROS và LCG cũng là 2 công ty có mức tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu âm. Mặc dù, cơn khủng hoảng suy thoái kinh tế toàn cầu đã đi qua nhưng các công ty Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn từ việc tìm

51

tòi và sử dụng nguồn đầu vào hợp lý cũng như nghiên cứu đánh giá thị trường để đưa

ra giá thành hiệu quả nhất.

Qua đó, có thể thấy trong những năm trở lại đây các doanh nghiệp ngành xây

dựng đã đạt được những sự khởi đầu tốt đẹp. Việc các doanh nghiệp nước ngoài lấn

sân sang thị trường Việt Nam đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải có những bước chuyển mình mạnh mẽ hơn để tránh bị lép vế với các đối thủ cạnh tranh đầy

tiềm năng. Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp xây dựng thì chi phí giá vốn từ nguồn

nhân công cho đến nguồn nguyên vật liệu trong toàn bộ quá trình sản xuất đóng góp

một phần lớn ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm cũng như khả năng cạnh tranh của

doanh nghiệp. Phải đối mặt với muôn vàn khó khăn biến động giá nguyên vật liệu đầu vào ngày càng tăng cũng như những yêu cầu khắt khe từ phía khách hàng đòi

hỏi các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam phải không ngừng hoàn thiện và đồi mới mình. Dựa vào những điểm mạnh như nguồn nhân công giá rẻ và dồi dào, nguồn tài

nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng và am hiểu thị trường bản địa sẽ giúp các

doanh nghiệp trong nước tạo thế để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.

2.3.2. Chỉ tiêu thể hiện tỷ suất sinh lời Vốn lưu động Trong phân tích tài chính, người ta thường vận dụng mô hình Dupont để phân

tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa

các chỉ tiêu mà người ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu

phân tích theo một trình tự logic chặt trẽ. Dưới đây, tác giả sẽ vẫn dụng mô hình

Dupont phân tích hiệu quả kinh doanh hay cụ thể hơn là phân tích hiệu quả sử dụng

vốn lưu động của các công ty xây dựng niêm yết trên sàn HSX thông qua mối liên

hệ giữa các yếu tố đầu vào và kết quả đầu ra của doanh nghiệp trong một kỳ kinh

doanh nhất định.

Chi phí đầu vào trong trường hợp này được hiểu là vốn lưu động bình quân sử

dụng trong kỳ. Được thể hiện dưới dạng hình thái tài sản là các khoản tiền mặt, đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho, các khoản phải thu ngắn hạn...

Kết quả đầu ra của doanh nghiệp có thể là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận gộp từ bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh hoăc tổng lợi nhuận sau

thuế thu nhập doanh nghiệp...

Mô hình Dupont thường được vận dụng trong phân tích tài chính, có dạng:

52

Thu nhập sau thuế Doanh thu thuần Tỷ suất sinh lời * = vốn lưu động Doanh thu thuần Vốn lưu động bq trong kỳ

Hay chính bằng

Thu nhập sau thuế = Vốn lưu động bp trong kỳ

Từ mô hình phân tích Dupont ở trên cho thấy, số vòng quay của vốn lưu động càng cao, điều đó chứng tỏ rằng sức sản xuất tài sản của doanh nghiệp càng lớn, cũng

như khả năng phân bổ vốn lưu động hiệu quả. Do vậy, làm cho tỉ lệ sinh lời của vốn

lưu động càng lớn, một mặt phải tăng quy mô về thu nhập sau thuế mặt khác phải

sử dụng tiết kiệm và hợp lý nguồn vốn lưu động.

Dựa trên những số liệu từ báo cáo tài chính đáng tin cậy của các công ty xây

dựng và phương pháp phân tích Dupont, dưới đây tác giả sẽ phân tích tình hình sử

dụng vốn lưu động của các công ty cổ phần xây dựng niêm yết trên sàn HSX hiện nay.

Bảng 2.4. Thống kê Tỷ suất sinh lời vốn lưu động từ năm 2011 đến 2013

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

<0% 0 2 3

Từ 0% đến 10% 22 24 24

Từ 10% đến 30% 7 5 3

>30% 3 1 2

Tổng 32 32 32

(Nguồn: HSX)

53

75%

75%

80%

69%

70%

60%

50%

40%

30%

22%

16%

20%

10%

9%

9%

6%

6%

10%

3%

0%

0%

<0%

Năm 2011 0%

Năm 2012 6%

Năm 2013 9%

Từ 0% đến 10%

69%

75%

75%

Từ 10% đến 30%

22%

16%

10%

>30%

9%

3%

6%

Biểu đồ 2.7. Thống kê Tỷ suất sinh lời vốn lưu động từ năm 2011 đến 2013

Qua biểu đồ 2.7 – Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn lưu động bình quân có thể

thấy từ năm 2011 đến năm 2013, tỷ lệ sinh lời trên vốn lưu đọng của các công ty

niêm yết trên HSX tương đối tốt. Đây là một chỉ tiêu quan trọng, phản ảnh rõ rệt kết

quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ số này cho biết cứ một

đồng vốn lưu động bình quân tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ

thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Khi hệ số này càng lớn càng tốt thì điều

đó cho thấy doanh nghiệp chỉ cần dùng ít đồng vồn lưu động nhưng vẫn tạo ra đươc

lợi nhuận cao.

Trong nhóm có mức tỷ suất sinh lời vốn lưu động khoảng từ 0% đến 10% có khoảng

xấp xỉ từ 70% đến 75%. Trong năm 2013, có thể liệt kê một số công ty tiêu biểu với mã chứng khoán là HDG đạt 7,8%, CTD đạt 6,4% hay SRF đạt 6,3%. Những doanh nghiệp này sử dụng và phân bổ khá tốt nguồn vốn lưu động dưới hình thái là các tài

sản bằng tiền, khoản phải thu, hàng tồn kho...Nhóm này chiếm tỉ trọng chủ yếu do đây là mặt bằng chung của các công ty xây dựng, việc sử dụng và sinh lời ở mức

tương đối nên có khá nhiều doanh nghiệp trong ngành đạt được. Ở nhóm tiếp theo, tỷ suất sinh lời trên vốn lưu động bình quân từ 10% đến 30% có xu hướng giảm dần qua các năm, tại các năm 2011,2012 và 2013 lần lượt là 22%, 16% và 10%. Có thể

thấy, đây là mức sinh lời lý tưởng mà các công ty hoạt động trong ngành xây dựng

54

đều mong muốn có thể đạt được. Dù không đạt tỷ lệ cao, nhưng cũng có một số doanh

nghiệp đầu ngành đạt được mức sinh lời đó, trong nă 2013 có thể kể đến như công

ty với mã chứng khoán ACC đạt 17,8%, PXS đạt 11,4% hay CII đạt 11,1% các công

ty này trong 3 năm gần đây đều có mức tỷ suất sinh lời trên vốn lưu động cao. Tiếp

đên ở nhóm có tỷ suất sinh lời lớn hơn 30% trong ngành xây dựng, từ năm 2011 cho đến hết năm 2013 có rất ít doanh nghiệp đạt được mức này. Năm 2011, có 3 doanh

nghiệp trong nhóm này sang tới năm 2012 là 1 doanh nghiệp và tăng lên 2 doanh

nghiệp và năm 2013. Theo dõi số liệu qua các năm, công ty với mã chứng khoán HTI

qua 3 năm liên tiếp đều đạt tỷ suất trong nhóm này và là công ty có tỷ suất sinh lời

trên vốn lưu động bình quân cao nhất so với các công ty cổ phần cùng ngành khác niêm yết trên HSX. Cuối cùng là nhóm có tỷ suất sinh lời trên vốn lưu động nhỏ hơn

0%, trong năm 2011 không có doanh nghiệp nào trong nhóm này. Sang đến năm 2012 có 2 doanh nghiệp và dần tăng thêm 1 doanh nghiệp vào năm 2013. Đặc biệt,

trong năm 2013 vừa qua phải kể đến công ty với mã chứng khoán LGL với mức tỷ

suất -15,6%. Điều này cho thấy các công ty trong nhóm này đã sử dụng không hiệu

quả nguồn vốn lưu động.

2.3.3. Nhóm chỉ tiêu thể hiện khả năng thanh toán: Hệ số thanh toán hiện thời :

Hệ số thanh toán hiện thời = Tài sản lưu động

Nợ ngắn hạn

Bảng 2.5. Thống kê hệ số thanh toán hiện thời từ năm 2011 đến 2013

Năm 2011 Năm 2013 Năm 2013

21 23 21 1

8 6 9 2

3 3 1 3

0 0 1 4

32 32 32 Tổng

Biểu đồ 2.8. Thống kê hệ số thanh toán hiện thời từ năm 2011 đến 2013

55

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

1

2

3

4

1

2

3

4

1

2

3

4

3% 3%

0%

0%

9%

9%

28%

19%

25%

66%

72%

66%

Qua biểu đồ 2.8 – Chỉ tiêu hệ số thanh toán hiện thời có thể thấy từ năm 2011

đến năm 2013, hệ số thanh toán hiện thời của các công ty niêm yết trên HSX tương

đối tốt. Đây là một chỉ tiêu quan trọng, phản ảnh rõ rệt khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Tỷ số này lớn hơn 1 thể hiện khả năng thanh toán

ngắn hạn của doanh nghiệp trong tình trạng tốt. Nếu tỷ số này quá cao thì lại là một

biểu hiện không tốt do việc tài sản ngắn hạn quá nhiều (tiền mặt, khoản phải thu,

hàng tồn kho...) ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của công ty. Chỉ tiêu này cho biết

với tổng số tài sản lưu động hiện có, doanh nghiệp có đảm bảo trang trải được các

khoản nợ phải trả hay không. Nói cách khác, một đồng nợ của doanh nghiệp được

đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản. Theo dõi, tình hình biến động qua các năm ta

có thể thấy đa phần các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên HSX có chỉ số này là

1 chiếm từ 66% đến 72%. Đây là một chỉ số ổn định, điều này cho thấy đa phần các

doanh nghiệp xây dựng đều đủ khả năng để thanh toán hết khoản nợ lúc đáo hạn.

Chiếm tỷ trọng cao tiếp theo là hệ số thanh toán bằng 2, đây là một giá trị tốt mà

chứng tỏ doanh nghiệp có thừa khả năng chi trả những khoản nợ ngắn hạn và chỉ số

này chiếm tỷ trọng trung bình từ 19% đến 28%. Hệ số thanh toán bằng 3 chỉ có 3

công ty đạt được vào năm 2011 và 2012, sang đến năm 2013 giảm xuống còn 1công ty. Cuối cùng là hệ số thanh toán hiện thời bằng 4 có duy nhất 1 công ty đạt vào năm 2013.

Đứng trên góc độ tổng quát thì các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên HSX đạt chỉ tiêu thanh toán hiện thời tốt, không có công ty nào ở trong tình trạng khó khăn hay mất khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán nhanh:

56

Hệ số thanh toán nhanh = Tài sản lưu động - Hàng tồn kho

Nợ ngắn hạn

Bảng 2.6. Thống kê hệ số thanh toán nhanh từ năm 2011 đến 2013

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

5 24 2 1 32 0 1 2 3 Tổng 4 23 4 1 32 5 23 3 1 32

Biểu đồ 2.9. Thống kê hệ số thanh toán từ năm 2011 đến 2013

Năm 2011

Năm 2013

Năm 2012

0

1

2

3

0

1

2

3

0

1

2

3

3%

3%

3%

6%

16%

12%

9%

16%

13%

72%

72%

75%

Qua biểu đồ 2.8 – Chỉ tiêu hệ số thanh toán nhanh có thể thấy từ năm 2011 đến

năm 2013, hệ số thanh toán nhanh của các công ty niêm yết trên HSX tương đối tốt.

Hệ sô này phản ánh khả năng thanh toán thực sự của doanh nghiệp vì đã loại ra khoản

mục có tính thanh khoản thấp là hàng tồn kho. Chính vì vậy, khi xem xét đến chỉ tiêu này đã có một số doanh nghiệp trong ngành có hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1. Nếu 1 công ty có hệ số thanh toán hiện thời lớn hơn 1, tuy nhiên khi xem xét đến chỉ tiêu hệ số thanh toán nhanh lại chỉ đạt 0 thì chứng tỏ tài sản lưu động phụ thuôc rất

nhiều vào hàng tồn kho, đây la một ví dụ điển hình của các công ty bán lẻ. Quan sát biểu đồ trên qua 3 năm liên tiếp các doanh nghiệp có hệ số thanh toán nhanh bằng 1 chiếm trung bình 73%. Điều này, cho thấy rằng đa số các công ty cổ phần xây dựng niêm yết trên HSX có tài sản lưu động vừa đủ để thanh toán những khoản nợ ngắn hạn. Tiếp theo là nhóm công ty có hệ số thanh toán bằng 0 chiếm từ 12% đến 16%.

Đối với các công ty cổ phần việc để chỉ tiêu hệ số thanh toán bằng 0 là một điều khá

57

bất lợi khiến công ty giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường cũng như thu hút vốn

từ các nhà đầu tư. Điển hình là các công ty có mã chứng HU1 và SC5 trong 3 năm

liên tiếp chỉ có hệ số thanh toán nhanh bằng 0. Xếp thứ 3 là nhóm công ty có chỉ tiêu

khả năng thanh toán nhanh bằng 2, đây là mức hợp lý mà các công ty đều mong muốn

đạt được. Tuy nhiên, tỷ trọng các công ty thuộc nhóm này có xu hướng giảm dần qua các năm trờ lại đây. Năm 2011 có 4 công ty nằm trong nhóm này, sang đến năm 2012

là 3 công ty và giảm xuống 2 công ty vào năm 2013. Cuối cùng, là nhóm công ty có

chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh bằng 3. Đều đặn trong 3 năm liên tiếp, mỗi năm

có 1 công ty thuộc nhóm này. Năm 2011 và 2012 là công ty có mã chứng khoán HAS

sang đến năm 2013 là công ty có mã chứng khoán ACC. Nhìn chung, đa phần các công ty hoạt động trong ngành xây dưng đang đứng

trước những khó khăn về việc xử lý hàng tồn kho. Tình hình kinh tế khó khăn kéo theo bất động sản đi xuống, nguồn đầu tư cũng không còn nên các dự án bị chậm

tiến độ hoặc tạm ngừng dẫn đến chậm trễ trong việc bàn giao. Chậm tiến độ đồng

nghĩa với việc chậm nguồn thu từ bên đầu tư, chủ thầu khi đó các doanh nghiệp xây

dựng gặp khó khăn khi phải đối mặt với những khoản nợ đến ngày đáo hạn. Tuy

nhiên, đối mặt với nhiều khó khăn như vậy nhưng phần lớn các công ty vẫn đạt hệ số

thanh toán nhanh bằng 1, đó là mức an toàn đối với các công ty xây dựng trong thời

buổi kinh tế khó khăn hiện nay.

Hệ số thanh toán tức thời :

Hệ số thanh toán thức thời = Vốn bằng tiền

Nợ ngắn hạn

Bảng 2.7. Thống kê hệ số thanh toán nhanh tức thời từ năm 2011 đến 2013

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

30 30 30 0

2 2 2 1

32 32 32 Tổng

58

6%

0

1

94%

Biểu đồ 3.1. Thống kê hệ số thanh toán tức thời từ năm 2011 đến 2013

Qua biểu đồ 3.1 – Chỉ tiêu hệ số thanh toán tức thời có thể thấy trong 3 năm liên

tiếp 2011, 2012 và 2013 có đến 30 công ty trong ngành (chiếm tỷ trọng 94%) đạt tỷ

số này bằng 0. Tỷ số này nói lên với số vốn bằng tiền hiện có và các khoản phải thu

hồi có thể đáp ứng nhu cầu thanh toán nhanh số nợ đến hạn của doanh nghiệp. Khả

năng thanh toán bằng tiền của công ty cao sẽ biểu hiện tình hình thanh toán tốt. Tuy

nhiên, việc để lượng vốn của công ty tồn tại dưới hình thái tiền tệ lớn sẽ làm giảm

hiệu quả sử dụng vốn. Chỉ số này đạt giá trị từ 1 đến 2 được xem là hợp lý đối với

các doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ có rất ít doanh nghiệp trong ngành đạt được chỉ

tiêu này. Sẽ rất khó khăn cho các doanh nghiệp khi khoản nợ đến hạn mà số vốn bằng

tiền để thanh toán ngay không đáp ứng đủ. Trong các công ty cùng ngành phải kể

đến công ty có mã chứng khoán HAS trong 2 năm 2011 và 2012 đều đạt chỉ tiêu hệ

số thanh toán tức thời bằng 1. Chứng tỏ công ty chủ động tốt trước các khoản nợ.

Nhìn chung, các công ty trong ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng

khoán HSX cần có những chiến lược tài chính cụ thể và quản lý lượng tiền mặt trong công ty hợp lý để sẵn sàng ứng phó với các khoản nợ. Qua phân tích cho thấy các công ty xây dựng niêm yết trên HSX vẫn chưa quản lý tốt lượng tiền mặt trong công ty nên chỉ số này không cao. Rất nhiều công ty trong ngành gặp khó khăn và phải

tuyên bố phá sản khi các khoản nợ đến hạn. Chính vì vậy, để tránh rủi ro như trên các công ty cần có những tầm nhìn chiến lược và thu thập thông tin đầy đủ về các dự án hay những hợp đồng ký kết với đối tác để chủ động trong mọi tình huống.

2.3.4. Nhóm chỉ tiêu phân tích vốn lưu động : Tốc độ luân chuyển vốn lưu động

59

Doanh thu thuần Số vòng quay của VLĐ = Vốn lưu động bq trong kỳ

Bảng 2.8. Thống kê tốc độ luân chuyển vốn lưu động từ năm

2011 đến năm 2013

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

0 1 2 3 >3 7 18 5 1 1 7 19 4 1 1 9 18 4 0 1

20

19

18

18

18

16

14

0

12

1

10

2

9

8

3

7

7

>3

6

5

4

4

4

2

1 1

1 1

0

1 0

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Biểu đồ 3.2. Thống kê tốc độ luận chuyển vốn lưu động từ năm 2011 đến 2013

Qua biểu đồ 3.2. Thống kê tốc độ luân chuyển vốn lưu động từ năm 2011 đến năm 2013 có thể thấy chiếm tỉ trong cao nhất là mức màu đỏ cho biết tốc độ lưu

chuyển vốn lưu động bằng 1. Có khoảng 18, 19 công ty cổ phần xây dựng nằm trong nhóm này. Tiếp theo là nhóm công ty có tốc độ luân chuyển vốn lưu động bằng 0

chiếm trung bình 8 công ty. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động bằng 0 cho thấy các

công ty chưa tổ chức các khâu trong qua trình sản xuất tốt dẫn đến tốc độ luân chuyển chậm, hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong nhóm này là chưa cao. Nhóm có chỉ số

60

này bằng 2 chỉ có 4,5 công ty đạt được, chỉ số luận chuyển vốn lưu động bằng 2 là

chỉ số khá tốt mà nhiều công ty đều mong muốn đạt được. Tốc độ luân chuyển vốn

lưu động càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty càng tốt và

ngược lại. Hai nhóm xếp hạng cuối là bằng 3 và lớn hơn 3, do nhóm chỉ tiêu này là

khó có thể đạt được nên chỉ có số ít doanh nghiệp trong ngành nằm trong nhóm này. Điển hình là công ty có mã chứng khoán HTI đều đạt chỉ số giá trị tốc độ luân chuyển

vốn lưu động cao trong 3 năm liên tiếp. Cho thấy lợi nhuận được tạo ra từ vốn lưu

động là cao và được doanh nghiệp sử dụng 1 cách hiệu quả.

Thời gian của một vòng luân chuyển

Thời gian của kỳ phân tích Thời gian của một vòng = Số vòng quay vốn lưu luân chuyển động trong kỳ

Bảng 2.9. Thống kê thời gian của một vòng luân chuyển

Số vòng luân chuyển 1 2 3 >3 Thời gian của một vòng luân chuyển( ngày) 360 180 130 < 130

Chỉ tiêu này làm rõ hơn về thời gian vòng vốn luân chuyển, số vòng quay vốn

càng lớn thì thời gian luân chuyển vốn lưu động càng ngắn và ngược lại. Trung bình

các công ty nằm trong nhóm có số vòng luân chuyển bằng 1 điều này có nghĩa rằng

phải hết 1 năm mới hết 1 vòng quay vốn lưu động. Để chỉ tiêu này tăng ngoài việc nâng cao doanh thu thuần thì công ty cũng phải sử dụng hiệu quả và tiết kiệm vốn lưu động tránh lãng phí trong quá trình kinh doanh sản xuất.

Hàm lượng vốn lưu động:

Hàm lượng VLĐ = Vốn lưu động bình quân Doanh thu thuần

61

Bảng 3.1. Thống kê tỉ số hàm lượng vốn lưu động từ năm 2011 đến 2013

Qua bảng 3.1. Thống kê tỉ số hàm lượng vốn lưu động cho ta thấy có đến 60% các

công ty xây dựng niêm yết trên HSX nằm trong nhóm có hàm lượng vốn lưu động bằng 1. Tức là để tạo ra một đồng doanh thu thuần các công ty này cần phải sử dụng 1 đồng vốn lưu động. Chỉ tiêu này là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động. Chỉ tiêu này

Năm 2011 4 18 6 1 3 Năm 2012 2 18 5 3 4 Năm 2013 1 19 5 1 6 <1 1 2 3 >4

biến động ngược chiều với chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động và nó có cùng nguyên nhân

thay đổi với chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động.

2.3.5. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý từng thành phần vốn lưu động Quản lý hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho:

Doanh thu thuần Vòng quay hàng tồn kho = Hàng tồn kho

Bảng 3.2. Thống kê vòng quay hàng tồn kho từ năm 2011 đến 2013

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

2 5 4 6 15 2 9 4 4 13 5 6 4 4 13 0 1 2 3 >3

Qua bảng 3.2. Thống kê vòng quay hàng tồn kho từ năm 2011 đến năm 2013 của

các công ty cổ phần xây dựng niêm yết trên sở giao dịch Tp Hồ Chí Minh có thể thấy các công ty quản lý hàng tồn kho chưa thật sự tốt. Lý do chính ở đây là do công ty xây dựng luôn dự trữ một lượng hàng tồn kho lớn để tránh rủi ro biến động tỷ giá cũng như chủ động trong việc cạnh tranh những gói thầu mới, hợp đồng lớn...Chỉ có

khoảng 50% số công ty xây dựng có vòng quay hàng tồn kho lớn hơn 3. Một số công ty tiêu biểu trong ngành đạt chỉ số vòng quay hàng tồn kho cao như công ty có mã

chứng khoán HTI (84 lần), CTD (25 lần). Chỉ tiêu này càng cao đồng nghĩa với việc tổ chức quản lý dữ trữ của doanh nghiệp là tốt có thể rút ngắn được chu kỳ sản xuất kinh doanh, giảm được lượng vốn ứ đọng vào hàng tồn kho.

62

Thời gian quay vòng hàng tồn kho

360

𝟑𝟔𝟎

= Vòng quay hàng tồn kho Thời gian quay vòng hàng tồn kho (Hệ số lưu kho)

𝟏𝟓

=

= 24 ( ngày)

Chỉ tiêu này cho biết trong một chu kỳ kinh doanh cụ thể ở đây là 1 năm kế toán, hàng tồn kho quay một vòng cần trung bình 24 ngày. Do phụ thuộc vào đặc điểm

ngành nghề xây dựng nên chỉ tiêu này không cao so với các ngành khác.

Nguyên nhân chính khiến tỷ số này không cao là do ngành bất động sản và xây

dựng chiếm 53% tồn kho toàn thị trường. Tổng giá trị hàng tồn kho toàn thị trường

tính đến 30/06/2013 ở mức gần 216,208 tỷ đồng, tăng 8.11% so với cùng thời điểm

này năm trước và tăng 6.47% so với cuối năm 2012 (31/12/2012). Nhóm ngành xây

dựng, với tổng giá trị hàng tồn kho gần 37,820 tỷ đồng, chiếm 18% tổng tồn kho toàn

thị trường. Trong đó phần lớn tồn kho nằm ở các công trình tiện ích công, xây dựng

nhà ở và khu dân cư. Gộp chung ngành xây dựng và BĐS, giá trị hàng tồn kho đã

chiếm đến 53% tồn kho toàn thị trường. Nút thắt ở đây chính là thị trường bất động

sản vẫn đang trong tình trạng “ngủ đông”. Đó là chưa kể nhiều người lo ngại “cơn

sốt” về gói 30,000 tỷ của chính phủ sẽ có thể tạo ra nguồn cung mới trong thời gian

tới mặc dù nhu cầu không thấy cải thiện.

(Nguồn :vietstock.vn)

Tý suất sinh lời hàng tồn kho

Tỷ suất sinh lời hàng tồn kho =

Lợi nhuận sau thuế Hàng tồn kho

63

Bảng 3.3. Thống kê tỷ suất sinh lời hàng tồn kho

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

0 3 7 22 22 8 1 1 23 7 1 1 0 1 2 >3

Qua bảng 3.3. Thống kê tỷ suất sinh lời vốn lưu động có thể thấy chỉ tiêu này

biến động mạnh từ năm 2011 cho đến 2 năm trở lại đây. Tỷ suất sinh lời hàng tồn

kho của các công ty có xu hướng giảm mạnh. Tồn kho cao dẫn đến tỷ suất sinh lời vốn lưu động thấp. Hàng tồn kho nhiều, tức là tính thanh khoản của doanh nghiệp, thị trường rất kém, độ hấp thụ rất thấp, chu chuyển vốn bị ứng đọng rất lớn. Đầu ra của các doanh nghiệp xây dựng nhưng lại là đầu vào của các ngành doanh nghiệp

khác, hàng tồn kho tăng cao nghĩa là nền kinh tế đình đốn, trì trệ, tốc độ tăng trưởng

của quốc gia sụt giảm, dấu hiệu của giảm phát. Để giải quyết hàng tồn kho, cần có

giải pháp tổng lực, phải kích đầu ra - tức là kích thích nhu cầu tiêu dùng nội địa,

chính sách tín dụng với lãi suất hợp lý”. Để kịp thời xử lý số hàng tồn kho dữ trữ lớn

các doanh nghiệp cần có những biện pháp nhanh và kịp thời như xuất khẩu ra thị

trường nước ngoài để giảm bớt chi phí lưu kho và chi phí khấu hao.

Quản lý phải thu khách hàng tại Công ty cổ phần xây dựng becamex(ACC) Công ty cổ phần xây dựng becamex mã chứng khoán ACC là một trong 32 công ty

xây dựng niêm yết trên HSX có chỉ tiêu hệ suất sinh lời vốn lưu động đạt bình quân

của ngành, vì vậy tác giả xin lấy số liệu từ báo cáo tài chính của công ty để phân tích

2 chỉ số sau:

Vòng quay các khoản phải thu

Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần

Kỳ thu tiền bình quân

64

Bình quân các khoản phải thu

360

Kỳ thu tiền bình quân = Vòng quay các khoản phải thu

Bảng 3.4. Thống kê tình hình quản lý khoản phải thu tại ACC

(Đơn vị: triệu đồng)

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

336,335 90,597 116,772 103,68 3 377,421 116,772 86,672 101,72 3 361,050 86,672 26,370 56,52 6

120 120 60 Doanh thu thuần KPT đầu kỳ KPT cuối kì KPT bình quân Vòng quay các KPT Kỳ thu tiền bình quân

Vòng quay các khoản phải thu càng thấp cho thấy vốn của Công ty bị ứ đọng

dưới dạng khoản phải thu nhiều. Trong điều kiện nền kinh tế hiện còn nhiều biến

động, việc gia tăng doanh thu và giảm bớt khoản phải thu khách hàng là cần thiết để giúp cho doanh nghiệp có thể đứng vững trên thương trường. Do đó, Công ty cần có

những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình này. Sang tới năm 2013, khoản phải

thu được công ty quản lý tốt hơn chính vì thế đã tăng lên 6 vòng/ năm thay vì 3

vòng/năm so với 2 năm trước.

2.4. Đánh giá hiệu quả quản lý vốn lưu động

Ưu điểm

Qua những phân tích về kết cấu vốn lưu động cũng như những chỉ tiêu phản ánh hiệu

quả sử dụng vốn lưu động của các công ty cổ phần xây dựng niêm yết trên HSX, có

thể đưa ra những thành tựu đã đạt được và những hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động của các công ty như sau.

Giai đoạn 2011 – 2013 mặc dù gặp phải những khó khăn không nhỏ do phải đối mặt với tình hình lạm phát vào năm 2011 và đầu năm 2012, cộng với cuộc khủng

hoảng kinh tế diễn ra trên quy mô toàn cầu nhưng Công ty đã có những thành tích

nhất định trong quản lý và sử dụng vốn lưu động. Cụ thể: - Phần lớn các công ty đã sử dụng vốn lưu động đảm bảo quá trình sản xuất kinh

doanh diễn ra thường xuyên và liên tục.

65

- Cơ cấu nguồn tài trợ vốn lưu động khá an toàn với tỷ suất tài trợ từ nguồn thường

xuyên khá cao, điều này mang lại sự ổn định cho việc sử dụng vốn lưu động, chủ

động hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Giá trị sản xuất ngành Xây dựng năm 2013 (theo giá hiện hành) đạt 770,41 nghìn

tỷ đồng (tăng 7% so với năm 2012), chiếm tỷ trọng 5,94% GDP cả nước và được đánh giá là một trong những yếu tố tích cực trong tăng trưởng kinh tế của năm 2013.

Nhóm ngành xây dựng được đánh giá là chiếm tỉ trọng cao trong GDP so với các

nhóm ngành khác.

Biểu đồ 3.3. Tốc độ tăng GDP bình quân năm thời kỳ 2006 – 2013 và 6 tháng

đầu năm 2014 (%)

Hạn chế và nguyên nhân. Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, tình hình sử dụng vốn lưu động của Công ty vẫn còn khá nhiều những nhược điểm và vướng mắc. - Kết cấu vốn lưu động chưa thực sự hợp lý. Khối lượng hàng tồn kho hàng năm còn

quá lớn, trong khi lượng vốn bằng tiền lại ít ỏi gây khó khăn cho việc thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền. Điều này gây ứ đọng vốn, giảm đáng kể hiệu quả sử dụng vốn lưu động của . - Công tác xác định nhu cầu vốn lưu động cho từng khâu vẫn còn nhiều yếu điểm, chưa sát với thực tế sử dụng .

66

- Sự bất hợp lý trong phân bổ vốn lưu động đã gây ảnh hưởng xấu đến một số chỉ

tiêu về khả năng thanh toán, đặc biệt là chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời. Nó cho

thấy tình hình tài chính đang có dấu hiệu không tốt và cần phải điều chỉnh trong thời

gian tới.

- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động đang được cải thiện dần qua các năm tuy nhiên các chỉ tiêu này chưa có sự cải thiện đáng kể. Điều này phản ánh

việc sử dụng vốn lưu động chưa thực sự hiệu quả đối với một doanh nghiệp xây dựng.

Vì vậy, để cạnh tranh được trên thị trường cần có biện pháp để nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn lưu động.

Nguyên nhân:

Từ những phân tích về thực trạng như trên, có thể thấy việc sử dụng vốn lưu

động ở Công ty chưa thực sự hiệu quả như mong muốn. Để đưa ra được giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty, cần tìm ra những nguyên

nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém trên từ đó đề xuất biện pháp khắc phục. Nhìn

chung, nguyên nhân có cả về khách quan lẫn chủ quan.

Trong năm 2012, mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô đã ổn định hơn, lạm phát được

kiềm chế, lãi suất cho vay đã giảm đáng kể so với cuối năm 2011 nhưng các doanh

nghiệp ngành Xây dựng vẫn phải đối mặt với những khó khăn thách thức lớn. Các

doanh nghiệp thiếu vốn nghiêm trọng cho sản xuất và đầu tư phát triển nhưng không

đủ chuẩn, lãi suất cho vay tuy đã giảm nhưng vẫn còn ở mức cao khiến nhiều doanh

nghiệp chưa tiếp cận được vốn vay. Ngành xây dựng là lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực

tiếp, nhiều nhất từ sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Hầu hết các doanh nghiệp thuộc

ngành xây dựng đều phải hứng chịu khó khăn do việc chậm tiêu thụ, tồn đọng hàng

hoá, thiếu việc làm. Trong khi đó, chủ đầu tư các dự án lại chậm thanh toán, lãi suất

cho vay còn cao, khó tiếp cận nguồn vốn...

Lĩnh vực xây lắp, nhiều công trình không thể triển khai thi công tiếp do việc thu xếp vốn của chủ đầu tư không kịp thời, dẫn đến bị đình trệ hoặc tạm hoãn, khiến nhiều doanh nghiệp bất động sản phải “oằn mình” gánh chi phí lãi vay và các chi phí đầu vào liên tục tăng cao. Về nhà ở và hạ tầng, lượng vốn huy động từ xã hội đạt rất thấp do thị trường bất động sản đang đóng băng cùng những khó khăn, hạn chế trong

việc tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng đã làm cho nhiều dự án phát triển nhà và đô thị hoặc phải dừng đầu tư, hoặc triển khai rất chậm.

Thị trường BĐS đóng băng không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh BĐS mà còn ảnh hưởng tới thanh khoản của ngân hàng, gây đình trệ sản xuất cho các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, xây lắp, sản xuất, kinh doanh hàng trang trí nội thất... Nhiều doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng hoạt động cầm

67

chừng, lượng tồn kho lớn. Một số doanh nghiệp rơi vào tình trạng kinh doanh thua

lỗ, phá sản, không tự cân đối được nguồn trả nợ các khoản đã vay để đầu tư. Các

doanh nghiệp xây dựng gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới cũng như

trong thực hiện các công trình dở dang, công nợ tại các công trình rất lớn.

Tính đến 31/12/2012, tổng số doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh BĐS có lãi là 37.197 doanh nghiệp; số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ là 17.000 doanh nghiệp;

Tổng số các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh BĐS dừng hoạt động hoặc giải

thể là 2.637 doanh nghiệp, trong đó có 2.110 doanh nghiệp xây dựng, 527 doanh

nghiệp kinh doanh BĐS. So với năm 2011, tỷ lệ doanh nghiệp xây dựng dừng hoạt

động, giải thể tăng 6,2%, doanh nghiệp kinh doanh BĐS giải thể tăng 24,1%.

Công tác xác định nhu cầu vốn lưu động tại doanh nghiệp xây dựng chưa được

chú trọng đúng mức. Hiện nay, các công ty chủ yếu chỉ dựa vào kết quả kinh doanh của năm báo cáo để xác định nhu cầu vốn lưu động cho kỳ kế hoạch, trong khi thị

trường thì có nhiều biến động khó lường vì vậy nên mức độ chính xác vẫn chưa cao.

Nhiều khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh chưa được chú trọng đúng mức dẫn

đến hiện tượng ứ đọng vốn lưu động còn xảy ra trong thời gian qua, đặc biệt là ứ

đọng vốn trong khâu sản xuất (giá trị sản xuất kinh doanh dở dang quá lớn) xảy ra

liên tục trong nhiều năm liền. Nguyên nhân là do đặc thù hoạt động kinh doanh của

các công ty xây dựng việc tồn kho có giá trị lớn là điều không thể tránh khỏi.

Công tác quản lý vốn lưu động còn khá nhiều bất cập, thường ở thế bị động trước

những biến đổi của thị trường nên dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn không cao. Ví dụ

như năm 2013, lượng hàng dự trữ trong kho là khá cao nên bị ứ đọng vốn ở khâu

này, trong khi lượng tiền mặt thiếu hụt, gây khó khăn cho thực hiện giao dịch hàng

ngày...

Trên đây chỉ là một số nguyên nhân chính, ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác

dẫn đến những tồn tại, yếu kém trong sử dụng vốn lưu động của các doanh nghiệp xây dựng. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong thời gian tới, cần kịp thời có những điều chỉnh trong công tác quản lý, sử dụng vốn lưu động sao cho hợp lý nhất.

68

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÔN LƯU ĐỘNG TẠI CÁC

CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH

3.1. Phương hướng phát triển ngành xây dựng: Trong nền kinh tế thị trường, mỗi ngành cơ bản đều chọn cho mình một hướng đi

riêng cũng như những phương pháp kinh doanh phù hợp nhằm đáp ứng được nhu

cầu của thị trường, tránh việc tự mình loại mình ra khỏi nền kinh tế sôi động đó.

-Phương hướng xây dựng các công ty ngày một lớn mạnh, tìm hiểu và tham gia với

bạn bè quốc tế để mở rộng thị trường tiêu thụ. -Học hỏi công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn từ các doanh nghiệp nước ngoài.

-Thực hiện đa dạng hóa ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh trên cơ sở duy trì và phát triển hơn nữa công việc kinh doanh vật liệu xây dựng và xây dựng dân dụng và công

nghiệp, đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu của khách hàng trên toàn địa bàn.

- Ngày càng mở rộng hơn nữa các mối quan hệ với ngân hàng và các bạn hàng để có

thể tận dụng tối đa nguồn vốn với hiệu quả cao nhất.

-Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho toàn thể cán bộ, công

nhân viên trong toàn công ty. Thường xuyên mở các lớp tập huấn và đào tạo trình độ

chuyên môn nghiệp vụ cho họ, giúp họ có thể ứng dụng tốt những tiến bộ của khoa

học công nghệ.

-Thực hiện tốt những quy định của pháp luật, không ngừng củng cố và hoàn thiện

nội dung, quy chế của công ty…

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động của các công ty xây

dựng.

3.2.1. Giải pháp xác định nhu cầu vốn lưu động

Để chủ động trong việc quản lí vốn lưu động, trước mỗi năm kế hoạch doanh nghiệp phải căn cứ những tiêu chí có căn cứ khoa học như kế hoạch sản xuất kinh doanh, tiêu chí kinh tế kỹ thuật, định mức hao phí vật tư, giá cả và trình độ năng lực quản lí để lập kế hoạch vốn lưu động vững chắc và tiết kiệm

Nếu lượng vốn dự tính thấp hơn so với nhu cầu thực sự thì sẽ gây khó khăn cho

quá trình luân chuyển vốn trong kinh doanh, thiếu vốn sẽ gây ra nhiều tổn thất như việc kinh doanh chậm trễ, không đáp ứng được nhu cầu thị trường, mất uy tín đối với nhà cung cấp. Ngược lại, nếu nhu cầu vốn lưu động xác định qua cao thì sẽ gây tác hại cho bản thân công ty, gây nên tình trạng ứ đọng vật tư hàng hoá, lãng phí, luân chuyển vốn chậm phát sinh nhiều chi phí không hợp lí làm tổng chi phí tăng ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty.

69

Yêu cầu đặt ra là làm thế nào có một tỉ lệ vốn lưu động phù hợp với kết quả kinh

doanh. Theo em, công ty có thể áp dụng phương pháp sau đây:

Phương pháp tỷ lệ phần trăm trên doanh thu .Phương pháp này dựa trên quy luật của

mối quan hệ giữa doanh thu tiêu thụ sản phẩm với tài sản, tiền vốn rồi tiến hành như

sau: - Chọn các khoản mục của VLĐ có liên quan và các khoản mục có mối quan hệ chặt

chẽ với doanh thu và tính tỷ lệ phần trăm của khoản đó so với doanh thu thực hiện

trong kì.

- Dùng lỷ lệ phần trăm để ước tính nhu cầu vốn cho năm dựa trên doanh thu dự kiến.

Nguồn vốn bổ sung này có thể huy động bằng cách vay ngắn hạn ngân hàng; chiếm dụng vốn của người bán; khoản vốn ứng trước của người mua,…. Công ty nên

dựa vào tình hình hoạt động hiện tại của mình, phân tích thị trường và khách hàng để có thể đưa ra được phương án huy động vốn bổ sung hợp lý nhất.

3.2.2. Tăng cường công tác quản lý và sử dụng hàng tồn kho. Khoản mục này nhìn chung được quản lý tương đối tốt. Song cần lưu ý quản

lý khoản mục này nhằm hạn chế những thất thoát trong khâu dự trữ, giảm chi

phí bảo quản, đảm bảo thu hồi lượng vốn ứ đọng này.Nguyên vật liệu là khoản

mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá thành xây lắp nên công ty cần phải quan

tâm nhiều hơn nữa, để tăng cường tính kiểm tra, giám đốc vật tư, phòng kế toán

chi nhánh cần bố trí nhân viên thường xuyên theo dõi chi phí vật tư tại các đội

công trình, phòng kinh tế kỹ thuật cần bố trí cán bộ quản lý có kinh nghiệm về

tổ chức, giám sát thi công tại công trường hỗ trợ các đội trưởng về kỹ thuật, quản

lý xây lắp và lập kế hoạch thi công.

Trong thi công đôi khi công ty phải ngừng thi công do phải chờ chỉnh sửa thiết

kế, để có thể phần nào khắc phục thiệt hại trong trường hợp này, trước khi thi công

chi nhánh cần yêu cầu chủ đầu tư khảo sát thiết kế thật kỹ lưỡng. Bên cạnh đó chi nhánh cần đưa ra những điều khoản cam kết thoả thuận cụ thể về trách nhiệm vật chất đối với việc làm chậm tiến độ thi công, lấy đó làm căn cứ yêu cầu chủ đầu tư có trách nhiệm bồi thường đối với những tổn thất do ngừng thi công gây ra. Đối với sản phẩm kinh doanh dở dang: Các công trình, hạng mục công trình

sau khi đã khởi công xây dựng công ty nên tập trung nhân lực, vật lực để đẩy nhanh tốc độ thi công, phấn đấu bàn giao cho chủ đầu tư đúng và trước thời hạn của hợp đồng. Với những công trình đã hoàn thành, chi nhánh cần đẩy mạnh khâu xúc tiến thẩm định để sớm được bàn giao cho chủ đầu tư. Tránh tình trạng công trình đã hoàn thành mà chưa được thẩm định bàn giao, làm ứ đọng vốn, tăng chi phí bảo quản, lãng phí nhân công, vật tư.

70

3.2.3 Quản lý các khoản phải thu: Áp dụng mô hình chính sách tiêu chuẩn bán chịu

Bán chịu là một chính sách kinh doanh mà bất cứ công ty nào cùng phải có. Để

quản lý được tốt khoản phải thu thì ta phải có được chính sách bán chịu tốt. Nhưng

làm thế nào để biết được chính sách bán chịu đó là tốt hay chưa, thì ngoài việc công ty phân tích và phân loại khách hàng, thì công ty có thể đặt ra các mô hình chính sách

bán chịu để có thể đưa ra quyết định bán chịu đúng nhất không ảnh hưởng đến tình

hình kinh doanh của công ty mà vẫn hấp dẫn khách hàng.

Việc đưa ra mô hình chính sách bán chịu này giúp công ty có thể xác định rõ

được các ảnh hưởng của chính sách mà công ty áp dụng đối với từng khách hàng. Việc tính toán xác định các bước trong mô hình giúp công ty ước lượng được rõ ràng

các lợi ích có được hay chi phí mà công ty phải chịu. Tránh việc công ty quyết định chính sách theo cảm tính.

.

Mô hình 1: Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu

Là mô hình giúp cho công ty có thể đưa ra quyết định có nên cho khách hàng gia hạn thêm thời gian trả nợ không. Từ mô hình này doanh thu bán ra được khuyến khích bằng các điều khoản bán chịu rộng rãi, nhờ đó khoản phải thu cũng tăng lên.

Do đó cần phải xem xét việc nới lỏng chính sách bán chịu, gia hạn thêm thời gian thu nợ có ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh, cũng như lợi nhuận của công ty theo chiều hướng tốt hay không. Chính sách này giúp cho công ty thu hút được khách hàng, nhưng khoản phải thu tăng, chi phí cũng tăng, và dễ gặp rủi ro trong thanh toán.

71

Mô hình 2: Mô hình thắt chặt chính sách bán chịu

Với mô hình thắt chặt chính sách bán chịu, công ty cũng phải phân tích tình hình kinh doanh của khách hàng xem có nên thúc giục, đặt ra hạn thời gian trả nợ, hay các

biện pháp cần thiết để bắt khách hàng trả nợ đúng hạn hay không. Việc thắt chặt

chính sách bán chịu đó sẽ giúp công ty giảm được chi phí tài chính nhưng có đủ bù

đắp được lợi nhuận không.

Chính sách bán chịu thắt chặt có nghĩa là công ty đưa ra các điều kiện đối với

khách hàng rõ ráng trong hợp đồng:

- Có tài sản đảm bảo, có bảo lãnh của ngân hàng

- Có hạn mức bán chịu, qui trình thu tiền cụ thể (có ghi trong hợp đồng)

- Đặt ra các trường hợp phải yêu cầu sự tham gia của bên thứ 3, có thể là các công

ty mua bán nợ chuyên nghiệp, thậm chí là tòa án. (điều này có thỏa thuận trong hợp

đồng)

Mô hình chính sách này giúp cho công ty giảm được khoản phải thu tới mức thấp

nhất, giảm rủi ro do nợ quá hạn, nhưng với chính sách này sẽ không hấp dẫn khách

hàng mới, thậm chí sẽ mất khách hàng.Việc đưa ra các mô hình chính sách bán chịu thì là một việc dễ dàng với công ty, nhưng để thực hiện theo mô hình và ước lượng được lợi ích của việc sử dụng mô hình thì công ty cần có bộ phận chuyên trách có kinh nghiêm. Để quyết định xem công ty nên áp dụng mô hính chính sách bán chịu

nào cho công ty, thì ta có thể kiểm nghiệm được qua việc so sánh giữa lợi nhuận công ty thu được với chi phí cho khoản phải thu công ty phải bỏ ra. Qua việc phân tích chính sách bán chịu và phân tích uy tín khách hàng thì công ty có thể quyết định ra được tiêu chuẩn bán chịu. Công ty có thể có những chính sách bán chịu khác nhau tùy vào từng loại khách hàng.

72

Quản lý tốt khoản phải thu sẽ làm tăng tốc độ luân chuyển của vốn lưu động,

tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, làm tăng doanh thu và lợi

nhuận cho công ty. Đồng thời, điều này còn tạo uy tín và thế đứng vững vàng

cho công ty trên thị trường trên cơ sở thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp với bạn

hàng, hạn chế khoản vốn bị chiếm dụng đến mức thấp nhất. Tuy nhiên, việc quản lý các khoản phải thu, phải trả cũng cần đảm bảo sao cho phù hợp lợi ích giữa

các bên với nhau.

Để thúc đẩy tốc độ thu hồi công nợ, chi nhánh cần chú ý đến các vấn đề sau:

-Tìm hiểu rõ thực trạng nguồn vốn của các công trình mà chi nhánh thi công.

Tại công ty cũng như nhiều công ty xây dựng khác, các công trình có nguồn vốn đầu tư khác nhau sẽ ảnh hưởng tới tiến độ thi công và có quá trình thanh quyết

toán khác nhau. -Đối với các công trình có vốn ngân sách nhà nước cấp thì quá trình thanh quyết

toán phải chờ kết quả thẩm định giá trị khối lượng công việc hoàn thành bàn

giao của các cơ quan có thẩm quyền, sau đó quá trình thanh toán còn có thể bị

chậm chễ do chờ chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước hay các bộ ngành…

-Theo kinh nghiệm thực tế thi công qua các năm tại công ty, thì thường các công

trình có nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước được thanh toán nhanh nhất, sau

đó là các công trình do ngân sách nhà nước cấp phục vụ sử dụng kinh doanh,

chậm chế nhất là các công trình có vốn từ ngân sách nhà nước dành cho phúc lợi

dân sinh. Việc tìm hiểu nguồn gốc nguồn vốn đầu tư cho các công trình mà chi

nhánh trúng thầu như trên sẽ giúp cho chi nhánh đề ra được phương án thi công

phù hợp, phương án huy động vốn cho việc khởi đầu thi công cũng như kế hoạch

thu hồi vốn sau này.

-Thực hiện tốt công tác hoàn thiện hồ sơ quyết toán.

Hồ sơ quyết toán là cơ sở đầu tiên trong quá trình thu hồi vốn của mỗi công ty xây dựng, nên dù có cần qua thẩm định hay không thì ngay từ bước khởi đầu này chi nhánh cũng cần thực hiện tốt công tác hoàn thiện hồ sơ quyết toán với chủ đầu tư. Đối với các công trình có nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp thì ngoài việc hoàn thiện hồ sơ quyết toán thì công ty còn nên thống nhất với chủ đầu tư

về cơ quan thẩm định công trình, tránh tình trạng sau khi thi công và hoàn thiện hồ sơ quyết toán song chi nhánh xin thẩm định tại một cơ quan còn chủ đầu tư lại xin thẩm định tại một cơ quan khác… Ngoài ra chi nhánh còn có thể lựa chọn phương án thống nhất với chủ đầu tư thẩm định từng hạng mục công trình, làm đến đâu kiểm tra đến đó tránh tình trạng phá đi làm lại. -Nhất quán chính sách thu hồi công nợ.

73

Ngoài việc tìm hiểu nguồn gốc vốn đầu tư và hoàn thiện hồ sơ quyết toán thì

chính sách tín dụng khách hàng là khâu quan trọng quyết định sự thành công của

hai giải pháp trên, cụ thể là:

+ Đối với khách hàng mới, ít uy tín: Chi nhánh cần yêu cầu khách hàng có thế

chấp, ký cước bảo lãnh, bảo đảm thanh toán của ngân hàng hay một tổ chức có tiềm lực về tài chính. Trên cơ sở hợp đồng đã ký kết, nếu vi phạm sẽ phạt theo

lãi suất quá hạn đã thoả thuận trong hợp đồng.

+ Với khách hàng truyền thống, khách hàng lớn, có uy tín: áp dụng hình thức

thanh toán trả chậm đến 30 ngày, tối đa là 60 ngày sau khi hoàn thành thủ tục

bàn giao công trình xây lắp và 30 ngày nếu là cung cấp các sản phẩm, dịch vụ. + Khách hàng trong nội bộ công ty: Xác định dư nợ thường xuyên với thời hạn

thanh toán không quá 30 ngày đối với sản phẩm hàng hoá dịch vụ, không quá 60 ngày đối với sản phẩm xây lắp, thường xuyên đối chiếu bù trừ công nợ đối với

các khoản nợ đến hạn.

+ Ngoài ra, công ty cần tính toán tỷ lệ chiết khấu trong thanh toán để khuyến

khích khách hàng thanh toán sớm.

Thực tế tại các công ty, việc quản lý các khoản phải thu, phải trả, nhất là đối với

các khoản quá hạn chưa được phân tích đánh giá một cách chính xác. Việc lập dự

phòng chưa dựa trên cơ sở phân độ rủi ro dự tính, số liệu chi tiết phản ánh trên sổ

kế toán chưa chính xác. Cần đối chiếu xem xét các khoản nợ quá hạn có đúng là

khó đòi hay không và đánh giá chính xác các khoản nợ khó đòi đã bị xoá sổ.

3.2.4. Quản lý và sử dụng ngân quỹ

Trong công tác quản lý ngân quỹ ở công ty, công ty vẫn chưa lập kế hoạch tiền

mặt, đây chính là hạn chế cơ bản trong việc xác định lượng dự trữ tiền mặt hợp lý.

Vì vậy việc xác định mức tồn quỹ tối thiểu và lập kế hoạch tiền mặt là rất cần thiết

đối với công ty. Công ty cần phải lập bảng thu-chi ngân quỹ và so sánh giữa thu và chi bằng tiền để tìm nguồn tài trợ nếu thâm hụt ngân quỹ, hoặc đầu tư ngắn hạn nếu dư thừa ngân quỹ, trong đó có tính đến số dư bằng tiền đầu kỳ và cuối kỳ tối ưu. Chứ không nên chỉ gửi các khoản tiền dư thừa vào ngân hàng như hiện nay vì tỷ lệ sinh lời của nó là rất thấp gây ra sự kém hiệu quả trong sử dụng vốn bằng tiền tại công ty.

Có rất nhiều hình thức đầu tư ngắn hạn khác nhau có khả năng sinh lời cao mà công ty có thể lựa chọn như cho vay, đầu tư chứng khoán, góp vốn liên doanh… Công ty cần đa dạng hóa danh mục đầu tư hơn nữa để tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, một trong những hình thức đầu tư thường được sử dụng đó là đầu tư chứng khoán có tính thanh khoản cao đặc biệt là trong điều kiện hiện này khi thị trường chứng

74

khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động và gặt hái được những thành công nhất định.

Khi cần thiết công ty có thể chuyển đổi những chứng khoán này ra tiền mặt.

Khi lập kế hoạch tiền mặt chi nhánh nên lưu ý những vấn đề sau:

Xác định mức số dư tiền mặt phù hợp. Lượng tiền mặt dự trữ tối ưu của doanh nghiệp

phải thỏa mãn được 3 nhu cầu chính: 1. Chi cho các khoản phải trả phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh hàng ngày

của doanh nghiệp như: Trả cho nhà cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ, trả người lao

động, trả thuế

2. Dự phòng cho các khoản chi ngoài kế hoạch

3. Dự phòng cho các cơ hội phát sinh ngoài dự kiến khi thị trường có sự thay đổi đột ngột.

Công ty có thể sử dụng phương pháp Baumol hoặc mô hình Miller Orr để xác định mức dự trữ tiền mặt hợp lý. Sau khi xác định được lưu lượng tiền mặt dự trữ

thường xuyên, doanh nghiệp nên áp dụng những chính sách, quy trình sau để giảm

thiểu rủi ro cũng như những thất thoát trong hoạt động.

Số lượng tiền mặt tại quỹ giới hạn ở mức thấp chỉ để đáp ứng những nhu cầu thanh

toán không thể chi trả qua ngân hàng. Ưu tiên lựa chọn nhà cung cấp có tài khoản

ngân hàng. Thanh toán qua ngân hàng có tính minh bạch cao, giảm thiểu rủi ro gian

lận, đáp ứng yêu cầu pháp luật liên quan. Theo Luật thuế Giá trị gia tăng (sửa đổi),

có hiệu lực từ ngày 01/01/2009, tất cả các giao dịch từ 20 triệu đồng trở lên nếu

không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng sẽ không được khấu trừ thuế giá trị gia

tăng đầu vào.

Xây dựng quy trình thu chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, bao gồm: danh sách các

mẫu bảng biểu, chứng từ (hợp đồng kinh tế, hóa đơn, phiếu nhập kho, biên bản giao

nhận...). Xác định quyền và hạn mức phê duyệt của các cấp quản lý trên cơ sở quy

mô của từng doanh nghiệp. Đưa ra quy tắc rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của các bộ phận liên quan đến quá trình thanh toán để việc thanh toán diễn ra thuận lợi và chính xác.

Tuân thủ nguyên tắc bất kiêm nhiệm, tách bạch vai trò của kế toán và thủ quỹ. Có kế hoạch kiểm kê quỹ thường xuyên và đột xuất, đối chiếu tiền mặt tồn quỹ thực

tế, sổ quỹ với số liệu kế toán . Đối với tiền gửi ngân hàng, định kỳ đối chiếu số dư giữa sổ sách kế toán của doanh nghiệp và số dư của ngân hàng để phát hiện kịp thời và xử lý các khoản chênh lệch nếu có.

3.3. Một số kiến nghị với Nhà nước: Trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại, mức độ cạnh tranh giữa các công ty ngày một khốc liệt, các công ty không ngừng tìm kiếm các biện pháp hợp lý nhằm nâng

75

cao hiệu quả hoạt động tài chính. Và các giải pháp đã đưa ra ở trên là thiết thực đối

với các công ty ngành xây dựng. Tuy nhiên, để các giải pháp được thực hiện tốt, có

động lực thúc đẩy đối với công ty thì từ phía Nhà nước cần có sự hỗ trợ tích cực

thông qua ban hành các quy định, các chính sách cụ thể về phân tíh tài chính, quản

lý tài chính, môi trường kinh doanh thuận lợi... cho các công ty. Xuất phát từ suy nghĩ đó em xin đề xuất một số ý kiến đối với các cơ quan nhà nước.

3.3.1.Phát triển thị trường bất động sản lành mạnh Có thể nhận thấy rằng ngành xây dựng có mối quan hệ mật thiết với thị trường

bất động sản (BĐS). Khi thị trường BĐS phát triển bền vững thì thị trường xây dựng

kéo theo cũng bền vững. Mặc dù thời gian qua thị trường bất động sản có nhiều tiến triển nhưng có thể nhận thấy rằng năm 2013 thị trường hoạt dộng kém hiệu quả, điều

này có thể xuất phát từ những nguyên nhân cụ thể sau: Trước hết là cơ cấu hàng hóa BĐS còn thiếu cân đối. Thị trường nhà ở những

năm trước có sự phát triển mất cân đối, các doanh nghiệp (DN) chú trọng nhiều vào

đầu tư các loại nhà cao cấp. Đến nay, thị trường căn hộ cao cấp dần rơi vào bão hòa,

nhà xây nhiều trong khi nhu cầu có khả năng thanh toán thực tế lại thấp. Thị trường

thiếu hàng hóa có quy mô và giá cả phù hợp phần lớn nhu cầu người dân, đặc biệt

thiếu loại hình nhà ở cho thuê. Theo thống kê, loại hình này chỉ chiếm 6,5% tổng số

trên cả nước.

Ngoài ra hệ thống tài chính BĐS chưa hoàn thiện, thị trường BĐS vẫn phụ thuộc

lón vào động thái của chính sách tiền tệ tín dụng. Nguồn vốn cho thị trường BĐS chủ

yếu từ hệ thống Ngân hàng và tiết kiệm của người dân. Nguồn tín dụng trong trung

và dài hạn hầu như không có, lãi suất cho vay rất cao dẫn đến ngân hàng siết chặt

cho vay.

Cuối cùng là tiến đọ khai thác các dự án BĐS vẫn chậm, làm giảm khả năng cung

hàng hóa cho thị trường. Mặc dù cơ chế chính sách đã được tháo gỡ thủ tục hành chính đơn giản hơn nhưng tốc độ triển khai các dự án BĐS vẫn chưa được cải thiện. Để chấn chỉnh thị trường BĐS, không để thị trường BĐS trở thành nhân tố tác động gây ra lạm phát cao và nền kinh tế “bong bóng”, kiểm soát hiệu quả dòng vốn đầu tư vào thị trường BĐS để chống đầu cơ, nhưng cũng tránh gây sốc, làm đóng

băng thị trường BĐS, gây tác động xấu lan truyền đến hệ thống các tổ chức tín dụng và đời sống xã hội, cần tập trung một số nội dung quan trọng như sau: -Tái cơ cấu hàng hóa BĐS cho phù hợp với nhu cầu của thị trường. -Kiểm soát hiệu quat dòng vốn đầu tư vào thị trường BĐS để chống đầu tư cơ nhưng cũng tránh gây sốc, làm đóng băng thị trường BĐS.

76

-Cần nghiên cứu sớm, tạo hành lang pháp lý để hình thành các định chế tài chính phi

ngân hàng.

-Thực hiện ngay các biện pháp nhằm tăng tính thanh khoản cho các hợp đồng tín

dụng để các sản phẩm BĐS nhà ở đủ điều kiện tham gia thị trường.

-Coi trọng tính khả thi của các dự án BĐS cả từ phía Nhà nước trong khâu quy hoạch. -Tiếp tục tập trung nguồn lực đẩy mạnh các chương trình nhà ở xã hội trọng điểm.

-Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật.

3.3.2. Một số kiến nghị khác: Ngoài việc phát triển thị trường BĐS nhằm đảm bảo sự bền vững của các công

ty xây dựng thì Chính phủ cần xác định rõ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế, hướng đầu tư, có chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần một cách ổn định lâu

dài, đúng định hướng. Cụ thể là ổn định thị trường, ổn định giá cả, duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức độ hợp lý. Việc tạo ra môi trường kinh tế - chính trị - xã hội ổn định là

điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và mức sống

của dân cư, khiến cho khả năng tích lũy và tiêu dùng của dân chúng ngày một tăng

lên, thúc đẩy mạnh mẽ cầu hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng. Hơn nữa, việc có được môi

trường kinh tế - chính trị - xã hội ổn định cũng giúp cho các doanh nghiệp an tâm sản

xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú về hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng

của dân cư.

Để nâng cao hoạt động tài chính của công ty, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện

hệ thống cơ chế quản lý tài chính đối với công ty. Hệ thống cơ chế quản lý tài chính

đóng vai trò quan trọng trong quản trị tài chính công ty. Đây là cơ sở pháp lý thống

nhất để các đơn vị tiến hành hạch toán kinh doanh, lập báo cáo tài chính phục vụ cho

công tác phân tích tài chính và quản trị tài chính đơn vị mình. Chính phủ cần có biện

pháp hoàn thiện và phát triển thị trường tài chính mà đặc biệt là thị trường chứng

khoán để tạo nhiều kênh huy động vốn cho các công ty ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.

Kết Luận

Khóa luận này được thực hiện với mục đích là nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động của các công ty xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HSX), việc nghiên cứu về vốn lưu động là chủ đề chính nghiên cứu trong suốt 3 chương. Cụ thể như sau: Chương 1 là Cơ sở lý luận chung về quản lý vốn lưu động và hiệu quả quản lý vốn lưu động của các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Chương 2 là

77

thực trạng về việc quản lý vốn lưu động của các công ty ngành xây dựng niêm yết

trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Từ những cơ sở lý luận trên

để đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vôn lưu động tại các công ty cổ

phần niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong Chương

Chương 3 là chương kết hợp 2 chương trước để đư ra những đề suất, giải pháp 3.

em cảm thấy cần thiết và phù hợp nhất đối với các công ty cổ phần xây dựng niêm

yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HSX).

Do trình độ và thời gian còn hạn chế nên khóa luận của em còn nhiều sai sót, rất

mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô. Một lần nữa em xin đặc biệt cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của cô giáo Ths. Chu Thị Thu Thủy để em có thể hoàn thiện tốt khóa

luận tốt nghiệp của mình.

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà nội, ngày 25/10/2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Ngọc Diệp

78

PHỤ LỤC

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Mã CK

ACC

61.426.782.292

61.402.585.081

34.276.518.940

BCE

56.504.999.518

51.553.698.858

47.055.423.011

BT6

47.753.305.880

49.252.097.846

18.153.960.657

C47

24.280.988.317

21.486.743.390

21.589.412.138

CDC

17.065.013.505

2.469.311.727

2.125.415.477

CIG

1.626.847.560

- 11.922.031.969

1.720.875.931

CII

184.003.411.387

265.834.226.590

143.437.434.711

CLG

23.504.772.342

11.138.381.484

9.533.799.207

CTD

211.064.102.351

218.527.457.715

257.137.686.890

CTI

6.986.870.529

1.210.957.945

2.736.746.254

FCN

78.980.444.791

99.552.765.907

76.676.470.566

HAS

516.865.845

4.953.117.595

3.502.557.294

HBC

149.552.740.761

130.888.432.550

23.708.219.994

HDG

131.320.482.902

39.138.964.103

143.196.843.087

HTI

45.599.653.169

39.883.906.082

37.623.513.424

HU1

52.735.132.487

19.115.915.032

7.352.572.201

HU3

48.269.891.375

24.063.087.531

14.309.211.773

LCG

437.855.734.758

5.047.359.868

- 301.789.902.619

LGC

5.323.405.420

839.662.064

3.896.262.276

LGL

5.664.787.476

4.759.594.337

- 53.628.886.417

MDG

5.696.092.961

4.294.685.127

1.752.698.277

PPI

6.707.040.698

916.245.725

87.533.093

PTC

1.835.550.833

- 58.543.778.537

1.203.444.894

PXI

49.913.678.588

7.533.302.150

1.727.648.633

1.1 Thu nhập sau thuế: (Đơn vị : đồng)

79

PXS

117.291.266.650

67.429.844.870

75.946.101.769

PXT

34.666.316.257

4.690.396.604

- 35.584.340.837

REE

512.811.192.270

656.841.850.289

975.754.197.638

19.160.438.297

8.733.234.605

53.722.075.695

SC5

52.764.843.189

39.132.149.919

38.572.076.704

SRF

UDC

11.306.456.315

6.471.207.529

1.581.011.954

VNE

22.354.955.446

12.415.351.420

15.159.555.031

VSI

34.285.433.886

11.557.982.120

6.592.131.286

1.2. Doanh thu thuần

Mã CK

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

336.370.374.295

377.423.309.351

361.050.436.868

ACC

605.890.234.455

719.464.853.517

762.567.372.198

BCE

1.208.837.095.017

1.242.600.549.176

1.031.026.779.86

BT6

3

1.295.434.231.083

995.658.237.997

1.426.359.784.39

C47

8

269.448.394.848

208.293.218.143

189.644.670.365

CDC

78.673.547.279

43.255.256.004

146.089.415.488

CIG

151.929.796.830

156.002.482.044

368.835.865.782

CII

205.976.313.324

143.666.225.685

367.772.519.611

CLG

4.509.632.778.509

4.477.276.306.689

6.189.651.406.15

CTD

1

367.973.377.889

330.352.541.534

612.593.803.907

CTI

907.456.429.012

966.008.096.751

1.103.888.856.07

FCN

6

57.741.663.749

127.893.884.354

83.010.027.981

HAS

1.768.168.209.514

3.055.297.567.051

3.432.447.311.41

2

1.117.187.679.950

930.451.919.719

988.682.967.327

HBC HDG

80

HTI

164.320.625.458

155.108.447.516

182.071.717.413

1.022.909.408.774

465.380.084.762

585.352.881.757

HU1 HU3

767.084.674.926

378.370.944.808

362.632.741.254

LCG

1.799.924.065.687

1.017.204.474.662

226.926.342.348

LGC

179.949.532.321

144.352.265.400

211.904.544.002

358.486.488.788

81.710.529.135

28.928.642.601

LGL MD G

146.478.915.606

166.283.339.569

207.165.119.815

PPI

158.093.613.582

191.574.017.582

103.626.860.986

PTC

247.287.171.939

163.150.866.668

101.054.289.142

PXI

1.651.895.150.986

846.211.140.715

683.206.318.466

1.061.913.056.154

1.196.874.258.212

1.009.344.450.99

PXS

0

PXT

870.121.869.168

663.536.180.092

349.989.525.446

1.810.439.179.855

2.395.619.558.460

2.413.406.985.29

REE

3

1.112.135.997.258

1.351.090.624.783

1.235.004.885.68

SC5

5

SRF

597.739.031.961

653.350.914.987

585.879.829.182

UDC

452.882.195.980

325.714.100.200

224.765.144.770

VNE

534.196.000.537

635.283.626.284

872.706.198.544

VSI

386.306.404.137

250.650.075.674

272.112.343.849

81

ROA

ROE

ROS

Mã CK ACC BCE BT6 C47 CDC CIG CII CLG CTD CTI FCN HAS HBC HDG HTI HU1 HU3 LCG LGC LGL MDG PPI PTC PXI PXS PXT

24% 8% 3% 2% 3% 0% 4% 3% 9% 1% 12% 0% 5% 1% 9% 5% 7% 19% 1% 1% 1% 1% 0% 4% 7% 4%

22% 7% 3% 1% 0% -2% 5% 1% 6% 0% 11% 2% 3% 2% 6% 2% 3% 0% 0% 1% 1% 0% -16% 1% 5% 1%

14% 6% 1% 1% 0% 0% 2% 1% 6% 0% 5% 1% 1% 6% 4% 1% 2% -16% 1% -9% 0% 0% 0% 0% 5% -5%

32% 15% 11% 16% 7% 1% 13% 16% 15% 4% 31% 0% 23% 20% 15% 29% 29% 39% 3% 2% 3% 3% 1% 15% 25% 15%

30% 14% 10% 14% 1% -9% 19% 5% 10% 1% 28% 3% 17% 6% 13% 11% 15% 0% 1% 1% 2% 0% -31% 2% 14% 2%

17% 13% 4% 13% 1% 1% 10% 4% 11% 1% 13% 2% 2% 19% 12% 5% 9% -38% 2% -19% 1% 0% 1% 1% 12% -20%

18,3% 9,3% 4,0% 1,9% 6,3% 2,1% 121,1% 11,4% 4,7% 1,9% 8,7% 0,9% 8,5% 11,8% 27,8% 5,2% 6,3% 24,3% 3,0% 1,6% 3,9% 4,2% 0,7% 3,0% 11,0% 4,0%

16,3% 7,2% 4,0% 2,2% 1,2% -27,6% 170,4% 7,8% 4,9% 0,4% 10,3% 3,9% 4,3% 4,2% 25,7% 4,1% 6,4% 0,5% 0,6% 5,8% 2,6% 0,5% -35,9% 0,9% 5,6% 0,7%

9,5% 6,2% 1,8% 1,5% 1,1% 1,2% 38,9% 2,6% 4,2% 0,4% 6,9% 4,2% 0,7% 14,5% 20,7% 1,3% 3,9% -133,0% 1,8% -185,4% 0,8% 0,1% 1,2% 0,3% 7,5% -10,2%

1.3. Chỉ tiêu ROA, ROE, ROS

82

REE SC5 SRF UDC VNE VSI

10% 1% 7% 1% 1% 4%

10% 0% 6% 0% 1% 2%

14% 3% 5% 0% 1% 1%

13% 6% 17% 3% 3% 18%

16% 3% 13% 2% 2% 7%

19% 16% 11% 0% 2% 4%

28,3% 1,7% 8,8% 2,5% 4,2% 8,9%

27,4% 0,6% 6,0% 2,0% 2,0% 4,6%

40,4% 4,3% 6,6% 0,7% 1,7% 2,4%

Tỷ suât sinh lời VLĐ

Thời gian của 1 vòng luân chuyển

hàm lượng vốn lưu động

Tốc độ luân chuyên VLĐ

Mã CK

ACC

34,4%

28,9%

17,8%

203

191

192

BCE

8,9%

7,5%

6,7%

345

376

332

BT6

4,1%

4,3%

1,6%

331

347

396

C47

2,7%

1,9%

1,6%

405

254

340

CDC

2,8%

0,4%

0,3%

807

1182

1308

CIG

0,4%

-2,4%

0,4%

1.968

4172

1146

12

CII

13,6%

24,7%

11,1%

3.205

2481

1261

CLG

6,5%

3,0%

1,5%

628

940

636

143

CTD CTI

11,8% 1,6%

7,2% 0,3%

6,4% 0,5%

2 1 1 1 0 0 0 1 3 1

2 1 1 1 0 0 0 0 1 1

2 1 1 1 0 0 0 1 2 1

426

245 458

232 295

1 1 1 1 2 5 9 2 0 1

1 1 1 1 1 1 1 1 4 3 3 4 7 2 3 1 1 1 1

1.4. Các chỉ tiêu về vốn lưu động

83

FCN

20,7%

18,3%

7,7%

203

151

324

HAS

0,3%

2,9%

1,7%

489

1.133

892

HBC

11,7%

5,1%

1,0%

300

259

192

HDG

11,4%

3,1%

7,8%

489

373

193

HTI

246,2%

104,2%

90,2%

89

194

5,5%

2,4%

0,9%

HU1

605

338

195

7,5%

3,5%

HU3

657

302

196

LCG

33,8%

0,5%

2,2% - 31,0%

396

259

197

5,7%

1,0%

LGC

212

186

198

1,2%

1,1%

2,8% - 15,6%

LGL

464

1974

199

MDG

1,8%

1,6%

0,7%

784

589

200

1,0%

0,1%

0,0%

PPI

1511

1298

201

0,6%

-23,5%

0,5%

PTC

440

549

202

6,2%

1,6%

0,2%

PXI

176

202

203

PXS

16,8%

19,3%

11,4%

237

105

204

5,2% 20,7%

0,7% 21,0%

-6,4% 38,1%

PXT REE

2 0 1 1 9 1 1 1 2 1 0 0 1 2 2 1 1

2 1 1 1 4 1 1 1 2 0 1 0 1 2 3 1 1

1 0 1 1 4 41 1 1 0 2 0 1 0 0 1 2 1 278 493 1

387 469

205 206

0 3 1 1 0 1 1 1 1 1 2 4 1 0 1 1 1

1 1 2 1 1 1 2 1 0 0 1 2 2 2 1 4 1 1 5 12 1 2 4 7 2 2 1 1 1 0 2 1 1 1

84

SC5

1,1%

0,4%

3,5%

572

207

SRF

9,0%

6,7%

6,3%

323

352

208

UDC

1,1%

0,6%

0,1%

853

1150

209

VNE

2,1%

1,5%

1,5%

702

465

210

VSI

11,0%

4,2%

2,4%

1 1 0 1 1

1 1 0 1 1

1 589 1 0 1 1

291

396

211

2 1 2 2 1

1 2 1 1 5 3 1 1 1 1

85

Tài liệu tham khảo

1.Silde Quản lý tài chính doanh nghiệp của cô giáo Ths Chu Thị Thu Thủy

2.GT- Phân tích báo cáo tài chính,NXB Đại học KTQD – Hà Nội(2011)

3.GT- Phân tích hoạt động kinh doanh , NXB Thống Kê – Hà Nội (2004)

4.GT – Quản lý tài chính doanh nghiệp , NXB Lao động – Xã hội Hà Nội ( 2008) 5.GT- Phân tích kinh doanh , NXB Đại học KTQD – Hà Nội(2013)

6.Tài chính doanh nghiệp,NXB Tài Chính (2009)

7.Higgins (2004) Analysis Financial Management . New York : McGraw-Hill

8. www.hsx.com

9.www.cafef.vn 10.www.stock.vn

11.www.cophieu68.com 12.www.gos.gov.vn

13.www.baoxaydung.com.vn

14.www.hbbs.com.vn

86