intTypePromotion=1

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số phương pháp dạy và học luyện viết chữ cho học sinh ở trường tiểu học

Chia sẻ: Sinh Sinh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:14

0
19
lượt xem
1
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số phương pháp dạy và học luyện viết chữ cho học sinh ở trường tiểu học

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chữ viết luôn giữ vai trò quan trọng trong mọi thời đại, nó phản ánh, ghi lại quá trình phát triển của xã hội. Trong các nhà trường, chữ viết là phương tiện dạy học chủ yếu giúp truyền tải nội dung kiến thức đến người học. Không những thế, thông qua “rèn nét chữ” còn giúp chúng ta “luyện nết người”. Luyện chữ là rèn người, lưu truyền nét đẹp chữ Việt góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc. Như vậy mỗi giáo viên cần quan tâm đến việc luyện chữ cho bản thân đồng thời rèn chữ viết cho học sinh góp phần xây dựng và đẩy mạnh phong trào thi đua “giữ vở sạch - viết chữ đẹp” ở địa phương mình.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Một số phương pháp dạy và học luyện viết chữ cho học sinh ở trường tiểu học

  1.                                       ĐẶT VẤN ĐỀ I. LỜI MỞ ĐẦU: Ngôn ngữ  là một  sáng tạo kì diệu của loài người. Đặc biệt hơn con  người đã biết dùng hệ  thống kí tự  để  ghi lại lời nói, hệ  thống các kí tự  đó  chính là chữ  viết. Từ  khi có chữ  viết, mọi thông tin liên lạc và giao lưu của  con người đã vượt không gian và thời gian. Theo đó là sự  phát triển như  vũ  bão của khoa học kĩ thuật và công nghệ. Chữ viết đã giúp giao lưu tri thức của  nhân loại. Trên thế giới có nhiều hệ thống ngôn ngữ  cũng như  có nhiều hình   thức, nhiều kiểu chữ viết khác nhau. Song dù có kiểu chữ viết nào (chữ tượng  hình, ghi chú hay ghi âm…) thì yêu cầu quan trọng nhất vẫn là sự chuẩn xác.  Sự  chuẩn xác của chữ  viết giúp người đọc không hiểu sai nội dung, sai ý  người viết. Do đó, yêu cầu viết đúng, viết đẹp, viết nhanh luôn đặt ra với bất  cứ thứ ngôn ngữ nào.   Vấn đề  chữ  viết được người xưa rất coi trọng. Cha ông ta dùng câu  thành ngữ  “Văn hay chữ  tốt” để  khen người chữ  đẹp, học rộng tài cao. Đặc   biệt cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng rất quan tâm đến vấn đề này:  “Chữ  viết cũng là biểu hiện của nết người. Dạy học cho học sinh viết đúng, viết   cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, tính kỉ   luật, lòng tự  trọng đối với mình cũng như  đối với thầy cô và bạn đọc bài vở   của mình”. Điều đó chứng tỏ vấn đề chữ viết được quan tâm như thế nào. Có   thể nói chữ viết góp phần nào phản ánh được trình độ văn hoá của con người  cũng như  của xã hội. Không những chữ  viết làm phương tiện giao lưu, học   tập nghiên cứu, truyền thụ kiến thức … mà chữ viết còn thể hiện óc sáng tạo,  tính thẩm mĩ của con người. Ngày nay mặc dù có nhiều phương tiện in  ấn  hiện đại, song chữ  viết vẫn có vai trò quan trọng đối với xã hội nhất là đối  với công tác giáo dục “Nét chữ ­ Nết người”.  Có nhiều thế  hệ  thầy cô giáo đã trăn trở  suy nghĩ góp nhiều công sức   nghiên cứu sáng tạo kiểu chữ, thay đổi mẫu chữ  và phương pháp dạy luyện  viết với mục đích duy nhất là gíúp học sinh viết đúng, viết đẹp, viết nhanh.  Đây cũng là vấn đề  mà tôi băn khoăn, trăn trở  rất nhiều trong quá trình công  tác nên tôi mạnh dạn đưa ra một số cách mà tôi áp dụng trong quá trình luyện  viết cho học sinh trường tôi. II. THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC LUYỆN VIẾT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC   HỒI XUÂN – HUYỆN QUAN HOÁ – THANH HOÁ. 1. Cơ sở lý luận:  1
  2.   Chữ viết luôn giữ vai trò quan trọng trong mọi thời đại, nó phản ánh, ghi  lại quá trình phát triển của xã hội. Trong các nhà trường, chữ  viết là phương   tiện dạy học chủ  yếu giúp truyền tải nội dung kiến thức đến người học.   Không   những   thế,   thông   qua   “rèn   nét   chữ”   còn   giúp   chúng   ta   “luyện   nết  người”. ­ Đối với học sinh: Các em luôn sử dụng chữ viết để học tập và tiếp thu   kiến thức khoa học, thường xuyên chép bài học nên luyện kĩ năng viết rõ ràng,   nhanh, đẹp là rất cần thiết.   ­ Đối với giáo viên:  Viết đẹp là một trong những yêu cầu quan trọng và  cần thiết vì chữ viết là phương tiện dạy học chử yếu. Khi giảng bài chữ viết   đẹp thì chất lượng bài giảng được tốt hơn, học   sinh tiếp thu bài hứng thú  hơn. ­ Đối với xã hội: Nhu cầu sáng tạo và thưởng thức cái đẹp luôn có ở mỗi   con người. Chúng ta sinh ra trưởng thành ai cũng hướng tới yếu tố chân, thiện,  mỹ. Luyện chữ  là rèn người, lưu truyền nét đẹp chữ  Việt góp phần gìn giữ  bản sắc văn hoá dân tộc. Như vậy mỗi giáo viên cần quan tâm đến việc luyện  chữ  cho bản thân đồng thời rèn chữ  viết cho học sinh góp phần xây dựng và  đẩy mạnh phong trào thi đua  “giữ  vở  sạch ­ viết chữ  đẹp”  ở  địa phương  mình. 2. Cơ sở thực tiễn : a. Về phía giáo viên. Chữ  viết của một số  giáo viên còn xấu nhưng chưa có ý thức rèn luyện   viết chữ, dẫn đến không thực sự có mẫu mực trong chữ viết ở bảng lớp cũng  như chấm bài cho học sinh. Có những giáo viên không nhớ quy trình viết, các  kĩ thuật viết đúng dẫn đến hướng dẫn hoặc sửa lỗi cho học sinh chưa chính  xác. b. Về phía học sinh Học sinh ngại viết, không có hứng thú và lòng mê say khi viết chữ  mà   chủ  yếu là dừng  ở  mức độ  viết xong bài.  ở  cấp tiểu học, ngay từ  đầu cấp  như  lớp 1 kĩ năng viết chữ  đúng mẫu là rất quan trọng, nhưng học sinh lại   không nắm được cấu tạo con chữ  và kỹ  năng viết đúng dẫn đến sai ngay từ  những giờ  tập viết đầu tiên của cấp học nên chữ  viết của các em hâù như  viết chưa đúng, chưa đẹp. Trong   quá   trình   hướng   dẫn   luyện   viết   tôi   nhận   thấy   học   sinh   trong  trường chữ  viết còn xấu, còn sai nhiều lỗi chính tả, kĩ năng viết còn chậm,  chưa đúng kĩ thuật. nhìn chung các em còn mắc một số lỗi cơ bản sau: 2
  3.        ­ Tư thế ngồi, việc cầm bút, khoảng cách giữa mắt và vở chưa đảm bảo.        ­ Viết thiếu nét, thừa nét, sai các nét cơ bản. ­ Viết sai khoảng cách các con chữ. ­ Đặt dấu chữ, dấu thanh sai.         ­ Cách trình bày,  tốc độ viết chưa đúng. Đó là những nguyên nhân chủ  quan, ngoài ra còn các nguyên nhân khách   quan như bàn ghế không đúng quy định chuẩn, ánh sáng phòng học chưa đảm  bảo. Vì vậy để  các em viết đúng, viết đẹp người giáo viên cần tìm hiểu rõ  nguyên nhân để  có kế  hoạch, biện pháp cụ  thể  hướng dẫn phù hợp với các  đối tượng học sinh. III. NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH  KHẮC PHỤC 1. Tư  thế  ngồi, để  vở, cách cầm bút: Do thói quen của các em từ  khi  các em mới bắt đầu tập viết mà không được giáo viên uốn nắn ngay. Giáo  viên cần chú ý để hướng dẫn cho các em về:  ­ Tư  thế  ngồi viết: Ngồi ngay ngắn, lưng thẳng không tỳ  ngực vào bàn,  vai thăng bằng, đầu hơi cúi và nghiêng sang trái, mắt cách vở từ 25cm đến 30   cm, hai tay để lên bàn, tay trái giữ phía góc trên vở, tay phải cầm bút. Hai chân  để song song phía trước cho thoải mái. ­   Để   vở:   Vở   để   mở   không   gập   đôi,   để   hoàn   toàn   trên   mặt   bàn,   hơi  nghiêng về  bên trái khoảng 15 độ  ( bên trái thấp, bên phải cao ) sao cho mép  vở song song với cánh tay. ­ Cách cầm bút: Cầm bút bằng ba ngón tay. Ngón tay giữa  ở  phía dưới,  ngón trỏ, ngón cái ở phái trên. Lưu ý ngón tay cái phải cùng phương với cánh  tay. Bàn tay để nghiêng trên trang vở, cổ tay thẳng thoải mái. Bút nghiêng về  phía cánh tay khoảng 45 độ so với mặt phẳng của trang giấy. Ngòi bút úp hoàn  toàn. 2. Viết thiếu nét, thừa nét, sai các nét cơ bản :  2.1. Thiếu nét: Do học sinh chưa nắm được tên gọi, cách viết các nét cơ  bản hoặc do thói quen, tính cẩu thả  của học sinh chưa viết hết nét chữ  đã  dừng .Giáo viên cần nhắc nhở thường xuyên tạo thói quen viết đủ nét và dừng  bút đúng điểm. Yêu cầu học sinh thêm nét cho đủ  ngay những chữ  học sinh  vừa viết thiếu. Giáo viên  phải hướng dẫn cho học sinh nắm chắc quy trình  viết các nét  bản: 3
  4. *Giáo viên giới thiệu quy ước đơn vị chữ (đvc) đường kẻ ngang, dọc, ô  li. ĐK đậm ĐK 3 ĐK 2 li  3 ĐK 1 li  2 ĐK đậm li  1 ô  li   ĐK dọc Các đường kẻ (đk) ngang gồm đk đậm, đk 1, 2, 3. Khoảng giới hạn giữa hai đường kẻ ngang là một li. Ô giới hạn giữa hai đường kẻ ngang và đường kẻ dọc là ô li. ô li chính là   ô đơn vị chữ. Các đường kẻ dọc định hướng góc nghiêng của chữ viết. * Giáo viên hướng dẫn viết các nét cơ bản: + Nét thẳng  ( nét xổ  thẳng, nét ngang thẳng, nét xiên  phải, xiên trái ) : điểm đặt bút trên đường kẻ  đậm  ở  góc ô  đưa lên theo hướng xiên phải cao đến đường kẻ  2 thì kéo   nét xổ trùng với đường kẻ dọc. Không dừng bút mà đưa liên  tục tạo thành các nét xiên xổ liên hợp cho đến hết dòng mới   dừng bút. + Nét khuyết :  Khuyết trên : điểm đặt bút giữa đvc đưa một nét xiên qua  điểm giao nhau giữa đường kẻ  lượn dần lên đến độ  cao 2,5   đv thì kéo xuống trùng với đk dọc, dừng bút tại dòng kẻ đậm. Khuyết dưới : Hoàn toàn giống nét khuyết trên về  hình  dáng và kích thước nhưng ngược lại về quy trình viết . Điểm  đặt bút tại dòng kẻ ngang đưa nét lượn ngược với nét khuyết   trên, dừng bút giữa đv chữ. Nét khuyết cao 2,5đv, phần khuyết rộng 0,5 đv. Chú ý: Thân của nét khuyết phải thật thẳng đường nét đưa lên cắt đường  nét đưa xuống ở li ngang 1 đơn vị. khi dạy học sinh lớp 1 cần chú ý quy trình  viết tất cả các chữ cái. + Nét móc : điểm đặt bút giữa đv ( giữa ô ly ) đưa lên  theo hướng xiên phải đến gần đk 1 uốn cong tròn đầu và   4
  5. xổ  thẳng xuống trùng với đk dọc đến đk đậm thì uốn cong đưa lên, dừng bút  giữa đv. + Nét cong kín :  Điểm đặt bút trên đk 1 giữa hai đk dọc viết một nét  cong tròn đều bên trái đến đk đậm cong sang phải cong   lên, điểm dừng bút trùng với điểm đặt bút. + Các nét liên hợp:  Các nét liên hợp được cấu tạo từ các nét cơ  bản nhằm mục đích tạo sự  mềm mại cho chữ và giúp  củng cố tốc độ. Trong khi  viết ta chú ý  hướng dẫn  học   sinh   viết   đúng   quy  trình của từng nét và nối  các   nét   đó   lại   với   nhau  liền mạch. + Nét xổ lượn:  Tạo sự mềm mại cho chữ và dễ dàng luyện tập chữ hoa. Đặt bút giữa ô   li, viết nét xổ theo đường kẻ dọc rồi lượn hai đầu vào nửa ô li. 2.2. Thừa nét: Do học sinh viết sai quy trình, điểm đặt bút ban đầu, nét   bút viết không đúng hướng, dừng bút không đúng. Giáo viên phải hướng dẫn  lại quy trình viết bao gồm điểm đặt bút, hướng di chuyển của nét viết ( lên  trên, xuống  dưới , sang phải, trái , nét thẳng hay cong…) và điểm dừng bút.  Để viết đúng quy trình cần nắm chắc hình dáng, cấu tạo, kích thước của từng   chữ, từng nhóm chữ. + Nhóm chữ thường : Giáo viên chia nhóm các chữ thường như sau: Nhóm 1: i, u, ư, t, p, y, n, m, v, r, s Nhóm 2: b, l, h, k Nhóm 3: o, ô, ơ, a, ă, â, d, đ, q, g, c, e, ê, x Hướng dẫn học sinh viết các chữ đại diện trong nhóm Ví dụ:  Chữ  i:  Điểm đặt bút giữa ô 1 đưa nét hất đến đk 1, góc ô. Xổ  xuống đến đk đậm uốn cong tạo móc, dừng bút giữa ô.      Chữ n: đặt bút giữa đk dọc, cao 3/4đv viết nét móc trên đến đk đậm đưa  liền bút lên viết nét móc hai đầu rộng 3/4đv, dừng bút ở 1/2đv. 5
  6. Chữ  l : Đặt bút cao 1/2 , lệch 3/4 sang phải đv đưa một nét xiên, lượn   cong cao 2,5 đv uốn cong và kéo nét xổ  trùng với đk dọc đến đk đậm tạo nét  móc, dừng bút cao1/2 đv. Chữ b: Viết giống chữ l, kéo dài nét móc đưa lên đến đk 1 tạo nét thắt ,   dừng bút dưới đk ngang 1. Chữ o, ô, ơ: Viết nét cong kín cao 1đv, rộng 3/4đv rồi đánh dấu chữ. Chữ  a, ă, â: Viết nét cong kín  rồi đặt bút trên đk 1 viết 1 nét móc tiếp  xúc với nét cong, dừng bút cao 1/2đv sau đó đánh dấu chữ.     Chữ d, đ: Tương tự chữ a nhưng khi viết nét móc đặt bút trên đk 2. + Nhóm chữ số: tất cả các chữ số đều cao 2 đv, rộng khoảng 1 đv riêng  số 1 rộng 0,5 đv. Bao gồm tất cả các số có nét thẳng như chữ số 1, 4, 7. Gồm   nét cong phối hợp với nét thẳng như chữ số 2, 3, 5. Nét cong như các chữ sạo   nét 0, 6, 8, 9. + Nhóm chữ hoa: Các chữ hoa cao 2,5 đv, rộng khoảng 2 đv. Có chữ Y,G   cao 4 đv. Ví dụ: Chữ A: Đặt   bút   đk   1   giữa   hai   đường   dọc.   Hướng   di  chuyển : Viết nét cong trái 1/2 ô xuống đến đường đậm,  đưa lượn phải lên đến vị  trí cao 2,5 đv tới đk dọc sổ  thẳng theo đk dọc đến đk đậm rồi móc lên dừng bút ở ½   đvc.Viết nét ngang là nét lượn chia đôi chiều cao của chữ  A. Chữ C:  Đặt bút cao 2,5 đv đúng đk dọc viết nét cong sang trái 1  đv tiếp xúc với đk dọc, tiếp tục cong xuống đến điểm giữa  chiều cao của chư, cong phải lên 2,5 đv tiếp xúc với đk dọc   rồi cong liên tục đến đường đậm, cong lên 1đv cong xuống   dừng bút giữa ô. 2.3. Sai nét: Do học sinh cầm bút sai, các ngón tay quá  gần bút hoặc cổ  tay cong.Khi viết biên độ  giao hẹp, đầu ngòi bút di chuyển   không linh hoạt m cho nét chữ  bị  cong vẹo gây sai nét. Giáo viên hướng dẫn  học sinh cầm bút cho đúng, luyện tay cử  động linh hoạt phối động với cử  động của cổ tay và cánh tay.  6
  7.  Hướng dẫn học sinh luyện tay: Khi viết cử động, điều khiển bút bằng 3   ngón tay theo cử động lên xuống đưa ngang sang phải, trái  hoặc xoay tròn nhẹ  nhàng linh hoạt. Cổ tay, cánh tay phối hợp dịch chuyển nhẹ nhàng theo chiều   ngang. khi đưa tay lên tỳ  xuống tạo nét đậm. Không đưa bút lên xuống bằng  cánh tay hay cổ tay.  cử động linh hoạt phối động với cử  động của cổ  tay và  cánh tay.  3. Viết sai khoảng cách: Lỗi này thường mắc với những học sinh viết hay nhấc bút, không viết   liền mạch, không đưa tay đều. Giáo viên hướng dẫn kĩ thuật viết các nét nối  cơ  bản ( viết liền mạch ): Khi viết các con chữ  trong một chữ  ta cần chú ý  viết liền mạch. Trong một chữ  ta sử  dụng kỹ thuật lia bút, rê bút, thuật kéo  dài nét và thêm nét phụ để viết cho liền mạch. Khi nối liền các con chữ trong  một chữ  xuất hiện hai trường hợp: Nét nối thuận lợi và nét nối không thuận  lợi. + Nét nối thuận lợi: Trong khi viết nét nối các con chữ  có những trường  hợp dừng bút của chữ  trước trùng với điểm đặt bút của chữ  tiếp theo, ta chỉ  cần đưa bút lần lượt từ  trên xuống dưới, từ  trái sang phải liền mạch, viết   xong chữ rồi đánh dấu chữ, dấu thanh. Ví dụ: Viết cụm từ :  + Nét nối không thuận lợi: Khi điểm dừng bút của con chữ  trước không  trùng với điểm đặt bút của con chữ sau. Những trường hợp này khi viết ta cần  dùng các kĩ thuật tạo ra nét nối để các con chữ được liền mạch. + Thay đổi, kéo dài, thêm nét nối. + Thay đổi quy trình viết của chữ. Có các trường hợp nối không thuận lợi như sau: (nét móc nối với nét cong ) kéo dài nét móc của con chữ n đến  đk ngang 1 là điểm đặt bút của chữ  o rồi tiếp tục viết chữ o   bình thường. Từ điểm đặt bút của chữ o ( dưới đk ngang 1, góc trên ô đv )   viết chữ  o tạo thêm nét xoắn, kéo dài nét xoắn nối vào nét  móc của chữ n. 7
  8. Tương tự  như nối  oa o  ta tạo thêm nét xoắn của chữ   , kéo  dài nét xoắn đến điểm đặt bút của nét cong tiếp theo, viết nét  cong sau đó viết nét móc của chữ  .a o Tạo nét xoắn của chữ     đưa lên đến đk ngang 1 rồi lia bút  c đến điểm đặt bút của chữ     viết bình thường. Tất cả  các  trường hợp nối với chữ  từ  điểm dừng bút của chữ  đứng trước đều phải lia  bút đến điểm bắt đâu của chữ  .c Ngoài ra cần phải chú ý các trường hợp nối từ  chữ  hoa hay một số chữ  đứng trước có điểm dừng phía bên trái mà chữ tiếp theo không có nét nối như:  ba, ca, sa…Ta cần thêm vào nét nối để đảm bảo liền mạch, tính thẩm mỹ  và   khoảng cách giữa các con chữ. + khoảng cách giữa hai chữ là 1đv đây là khoảng cách cố định không thay  đổi. Khi có dấu câu thì khoảng cách được tính từ vị trí đặt dấu câu. + Khoảng cách giữa các con chữ không cố  định mà thay đổi tuỳ  theo nét  chữ  ê ( từ  1/3 đến 3/4 đv ) thông thường tương đương với việc cộng các nét   móc, nét hất giữa hai con chữ. Một số trường hợp khi viết ta nên điều chỉnh  khoảng cách cho phù hợp, đảm bảo tính thẩm mỹ. Khi viết thì viết liền mạch  xong chữ mới đánh dấu chữ và dấu ghi thanh. Ví dụ : Viết chữ  : trắng ­ hướng dẫn viết : trang ­ liền mạch, xong mới  đánh dấu t, ă, và dấu sắc ­ trắng. 4. Đặt dấu chữ, dấu thanh sai Học sinh thường mắc lỗi đánh dấu quá to, quá nhỏ, không đúng vị  trí.  Giáo viên củng cố lại quy định về dấu thanh, dấu chữ như sau: ­ Kích thước: dấu thanh bằng 1/2 đơn vị chữ, nằm trong ô 1/4đv. ­ Vị  trí dấu chữ: Dấu của các chữ  ă, â, ê, i, ô đánh ngay sát phía trên và  cân đối ở giữa chữ. Dấu của các chữ  ơ, ư đánh lệch về bên phải và ngang đk  1 . Đánh dấu của chữ  đ đánh ngang bằng và ở giữa đv 2. Dấu của chữ   t đánh  ngang đk 1. ­ Vị  trí dấu thanh: dấu thanh đánh vào âm chính của vần và không vượt  quá đơn vị chữ ( ly ) thứ hai. Nếu chữ có mũ thì các dấu thanh nằm bên phải   dấu mũ. 8
  9. + Với các âm tiết có âm chính là nguyên âm đơn : đặt dấu thanh vào vị trí  của chữ cái ghi âm chính đó. Ví dụ : á, tã, nhà… + Với các âm tiết có âm đệm được biểu diễn bằng “o, u’’ có âm chính là   nguyên âm đơn thì cũng đặt dấu thanh vào vị trí chữ cái ghi âm chính. Ví dụ :  hoà, quà, nguỵ, hoàn, suýt… + Với các âm tiết có âm chính là nguyên âm đôi được viết là: “iê, yê, uô,  ươ” ; có âm cuối được viết bằng “ p, t, c, ch, m, n, ng, nh, o, u, i” thì đặt dấu  thanh vào con chữ thứ hai. Nếu là âm tiết có nguyên âm đôi được viết là: “ia,  ya, ua, ưa” không có âm cuối thì đặt dấu vào vị trí chữ cái thứ nhất. Ví dụ: tỉa, tủa, cứa, thùa, khứa… Với “ia” có “g” thì đặt vào “a”( già,   giá,giả..)   không   có   “g”   thì   đặt   vào   i.   Với   “ua”   có   “q”   thì   đặt   vào   “a”  (quán,quà…), không có “q” thì đặt vào “u” (túa, múa, chùa…) . ­ Thứ tự  đánh dấu: Dấu chữ  đánh trước, dấu thanh đánh sau theo thứ  tự  từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Học   sinh  thực  hành viết:  Thực hiện viết theo quy trình sau:  + Đặt bút trên ĐK dọc viết chữ C, lia bút lên giữa ly 1 tại vị trí nét cong  của chữ  C tiếp xúc với ĐK dọc viết chữ h, kéo dài điểm dừng bút chữ  h lên  ĐK 1 rồi viết liền nét cong của chữ   ă, lia bút lên ĐK 1 viết nét móc chữ  ă rồi  nối liền chữ m. Đánh dấu chữ ă. + Từ  chữ  Chăm sang chữ  ngoan cách nhau 1 đv. Viết chữ  n kéo dài nét  móc lên ĐK 1 viết nét cong của chữ  g, lia bút lên ĐK 1 viết nét khuyết rồi lại  kéo dài lên ĐK 1 viết chữ o. Lia bút sang phải dưới ĐK 1 chạm vào chữ  o đưa  lên nét móc và viết nét cong của chữ a. Tiếp tục lia bút lên ĐK 1, viết nét móc  của chữ a rồi nối liền chữ n. Từ  chữ  ngoan  sang chữ  học  cách nhau 1 đv. Viết chữ  h, kéo dài điểm  dừng bút lên ĐK 1 rồi viết chữ o. Lia bút sang phải dưới ĐK 1 chạm vào chữ  o đưa lên nét móc đến ĐK 1 tiếp tục đưa bút xuống dưới ĐK 1 viết chữ  c,  đánh dấu nặng (.) dưới chữ o. Từ chữ học sang chữ giỏi cách nhau 1 đv. Viết chữ g nối liền sang chữ i,  kéo cao điểm dừng bút của chữ  i lên ĐK 1 viết chữ  o. Lia bút sang phải dưới  9
  10. ĐK 1 chạm vào chữ  o viết liền chữ i. Đánh dấu theo thứ  tự  dấu chữ  trước,   dấu thanh sau. 5. Cách trình bày, tốc độ viết: Một bài viết đẹp không phải chỉ  viết đúng, viết chữ  đẹp mà còn phụ  thuộc vào cách trình bày.Vì thế khi học sinh viết xong một bài tôi thường chú  ý hướng dẫn học sinh cách trình bày sao cho đúng, đẹp và phù hợp với từng  dạng bài. Đối với học sinh bên cạnh việc rèn viết tôi còn phải luôn chú ý rèn   cho học sinh tốc độ  viết nhanh hơn . Bởi bất cứ  môn học nào đều phải đạt  yêu cầu trọng tâm về  kiến thức và kĩ năng. Qua đó giáo dục cho các em tính  thẩm mĩ, giáo dục tính kiên trì, thận trọng và chính xác. Tóm lại: Để  học sinh viết đẹp thì trước tiên phải viết đúng mẫu chữ,  kích cỡ, độ cao, tốc độ viết đảm bảo. Vì thế trong giờ tập viết, chính tả trên   lớp giáo viên cần cung cấp cho học sinh những khái niệm cơ bản tên gọi các  nét chữ, cấu tạo chữ cái , vị trí dấu thanh, dấu chữ, các khái niệm liên kết nét   chữ hoặc liên kết chữ cái… Từ đó hình thành ở các em những biểu tượng về  hình dáng, độ  cao, sự  cân đối, tính thẩm mĩ của chữ  viết. Bên cạnh đó giáo   viên cần dạy học sinh các thao tác viết chữ  từ  đơn giản đến phức tạp, bao   gồm các kĩ năng viết nét, liên kết nét tạo các chữ  cái và liên kết chữ  cái tạo  thành tiếng. Đồng thời giúp các em xác định khoảng cách, vị trí, cỡ chữ trên vở  kẻ ô li để hình thành kĩ năng viết đúng mẫu, rõ ràng và cao hơn là viết nhanh   và viết đẹp. Dạy tập viết và luyện chữ đẹp cho học sinh, điều quan trọng là phải gây  được hướng thú cho học sinh. Khi các em yêu thích chữ đẹp thì các em sẽ say  mê và quyết tâm luyện chữ  cho đẹp. Giáo viên nên nêu những gương về  rèn  chữ, những gương người thật việc thật để động viên các em cố gắng, kiên trì  rèn luyện . Giáo viên phải phô tô các bài viết của học sinh đạt giải thi viết   chữ  đẹp các cấp để  cho các em xem và học tập . Khi đã gây được hứng thú   cho học sinh, các em đã thích rèn viết chữ lúc này giáo viên nên cung cấp các  bài tập để học sinh rèn kỹ năng viết.Các dạng bài tập như sau: + Bài tập viết đúng quy trình: cho học sinh luyện viết chữ hoa.Giáo viên   chú ý xem học sinh viết đúng quy trình không để sửa lỗi kịp thời. + Bài tập các kĩ thuật viết chữ: Cho học sinh viết từ, câu .Giáo viên quan  sát xem học sinh viết có liền mạch, viết có đúng khoảng cách, đánh dấu chữ,  dấu thanh có đúng không? từ  đó giáo viên hướng dẫn ngay để  học sinh viết   đúng mẫu.  10
  11. + Bài tập tổng hợp: cho học sinh viết một bài thơ, đoạn văn ngắn. mỗi   bài thơ, đoạn văn giáo viên cho các em viết lần thứ  nhất, giáo viên quan sát  nhắc nhở  chỉnh sửa lỗi sai cho từng em. Cho học sinh viết lại câu, từ  lỗi sai   trước khi viết lại toàn bài lần hai. + Bài tập sáng tạo: Cho học sinh viết các mẫu chữ hoa sáng tạo,trình bày  bài thơ, bài văn ngắn theo mẫu chữ  sáng tạo. Trong quá trình học sinh thực  hành giáo viên chú ý hướng dẫn các em cách trình bày, yêu cầu học sinh sáng  tạo cách trình bày. Các bài tập cho học sinh luyện tập cần chú ý : chỉ cho học sinh luyện tập   kỹ năng đúng. số lượng bài tập ít nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần với yêu cầu  cao dần. Việc cho học sinh viết đi viết lại nhiều lần một bài sẽ  dễ  nhận ra   lỗi sai của học sinh đồng thời cũng dễ nhận xét sự tiến bộ học sinh. Sau mỗi bài tập tôi thu bài tôi kiểm tra và nhận xét thật tỉ mỉ các nét chữ  trong con chữ mà học sinh vừa viết và phân tích rõ nguyên nhân học sinh viết  chưa đúng, chưa đẹp để các em biết những lỗi mình còn vướng mắc mà khắc   phục.  Đối với những em chưa nắm chắc cấu tạo con chữ hay kĩ thuật viết  như; Lia bút, rê bút hay viết liền mạch thì phải cung cấp biểu tượng về  con  chữ đó để học sinh nắm chắc hơn và hướng dẫn thêm về kĩ thuật viết cho các  em.       * Trong quá trình luyện viết cho học sinh, ngoài việc hướng dẫn học sinh   viết đúng, muốn học sinh viết đẹp, tôi đã hướng dẫn học sinh viết chữ thanh  đậm. Đây là kiểu chữ  mà tôi tâm huyết và say mê nhất trong quá trình dạy  luyện chữ cho học sinh .Tôi định hướng và tư  vấn cho học sinh mua bút ngòi  mài nét thanh, nét đậm. Trong các giờ luyện viết, tôi đã đưa kiểu chữ sáng tạo   vào hướng dẫn học sinh viết. Trước tiên tôi hướng dẫn các em viết nét thanh,   nét đậm theo các bước sau:  Đầu tiên tôi viết một chữ cái lên bảng hướng dẫn cho học sinh nét nào lia  bút từ dưới lên trên là nét thanh, nét nào lia bút từ trên xuống dưới là nét đậm.  Nét thanh khi viết đưa nhẹ  nét bút, ngòi bút hơi  nghiêng hướng về  phía trái.   Nét đậm khi viết cần đưa bút xuống mạnh hơn một chút. Khi viết tới điểm  dừng bút của nét thanh các em hơi xoay ngòi bút thẳng hướng để  viết nét  đậm. Sau đó tôi cho học sinh thực hành viết nét, viết chữ nào đó thành thạo. sau   cùng tôi đọc cho học sinh viết một cum từ nào đó. nhận xét kịp thời cho từng  em, để các em nhận ra lỗi và sửa ngay. Một số em đã được tôi viết mẫu cho   một dòng để nhìn đó làm mẫu luyện viết theo.  11
  12. Mỗi học sinh có một quyển vở  luyện viết riêng. Một tuần tôi giao cho   học sinh viết 2 bài. Rồi tôi kiểm tra và sửa chữa kịp thời, nhận xét cụ  thể, rõ  ràng chỉ ra từng nét viết chưa đạt yêu cầu cho học sinh nhận thấy để sửa. * Khi hướng dẫn luyện viết  ngoài hướng dẫn học sinh khắc phục những  lỗi sai cơ bản để học sinh viết đẹp, tôi còn áp dụng một số biện pháp sau: ­ Vào đầu năm sau khi nhận lớp, giáo viên tiến hành kiểm tra sách vở, đồ  dùng học tập của học sinh, hướng dẫn học sinh nên dùng loại vở  nào, dùng   loại bút nào để luyện viết. ­ Khảo sát phân loại học sinh ngay từ  đầu năm để  có hướng kèm cặp  những  học sinh viết chưa đẹp và có kế  hoạch bồi dưỡng những học sinh có  năng khiếu, viết đẹp. ­ Hàng tuần trong các giờ tăng buổi tôi dành ít thời gian nhận xét chữ viết  của từng học sinh. Biểu dương, khen ngợi để  học sinh cố  gắng hơn  ở  tuần  tiếp theo. ­ Trưng bày những bài viết đẹp của học sinh trong lớp dán vào tờ giấy A0  treo trên tường lớp để khích lệ các em. Một điều tôi tự thấy rằng không thể thiếu và bỏ  qua được đó là sự  mẫu   mực và cẩn thận của người giáo viên, nhất là vai trò của giáo viên chủ nhiệm   vì chúng ta thường nói rằng “Thầy nào – trò nấy”. Chính vì vậy tôi luôn cẩn  thận trong từng việc làm của mình. Từ  khâu viết trong giờ tập viết đến khâu  viết trong các giờ học khác tôi cố gắng viết thật nắn nót, rõ ràng, đúng , đẹp   vì các em sẽ nhìn, quan sát và bắt chước những nét chữ từ đơn giản đến phức   tạp của cô giáo . Thực tế  cho thấy rằng nếu giáo viên viết chữ  đẹp và có ý   thức rèn chữ viết thì chất lượng chữ viết của lớp đó sẽ  cao. Trong giờ luyện  viết tôi kiểm tra nhắc nhở  và uốn nắn thường xuyên để  các em có thể  viết   đúng, đẹp, đạt yêu cầu.   III. KẾT LUẬN 1. Kết quả thực hiện: Qua việc áp dụng một số kinh nghiệm trên vào việc rèn chữ viết cho học  sinh trong trường.Tuy là một trường miền núi thuộc vùng khó khăn nhưng tôi  thấy kết quả  viết của giáo viên cũng như  học sinh đạt được cũng rất đáng   mừng.  ­ Về giáo viên: Chữ viết của các đồng chí giáo viên đã có chuyển biến rõ  rệt. Các đồng chí đã rất quan tâm đến phong trào luyện viết của lớp mình.  Không những  thế các đồng chí còn  hưởng ứng ,tham gia rất nhiệt tình cuộc  thi viết chữ đẹp cấp huyện, cấp tỉnh tổ chức. Kết quả: 12
  13. Cấp huyện: 6 đồng chí tham gia thi thì cả 6 đồng chí đều đạt giải cao. Cấp tỉnh: 2 đồng chí tham gia , trong đó 1 đồng chí đạt giải nhất, 1 đồng   chí đạt giải nhì. ­ Về học sinh:  + Chất lượng chữ  viết của học sinh nói chung được nâng lên rất nhiều,  đa số các em đã có ý thức trong việc luyện chữ ở lớp, ở nhà. + Học sịnh viết đúng mẫu, viết đảm bảo tốc độ, kĩ thuật viết được các   em vận dụng và nhiều em đã có nét chữ đẹp và sáng tạo. + Số học sinh đạt giải năm học 2010 – 2011 như sau:  Cấp huyện: 38 em tham gia thi thì 36 em đạt giải. Cấp tỉnh: 2 em tham gia, trong đó 1 em đạt giải Nhất, một em đạt giải   Nhì.     2. Bài học kinh nghiệm: Đạt được kết quả  như  trên, tôi rất phấn khởi, tự  tin vào khả  năng sư  phạm của mình. Các em học sinh vui vẻ, phấn khởi chăm chỉ  học  hơn. Qua   thực tế, tôi nhận thấy khi rèn chữ đẹp cho học sinh cần chú ý đến một số vấn  đề sau:  ­ Giáo viên cần thực sự hăng say, đi sâu đi sát từng học sinh để kèm cặp,   uốn nắn kịp thời. Đồng thời mỗi giáo viên cũng phải tự rèn chữ của mình sao  cho thật mẫu mực để học sinh học tập và noi theo. Cẩn thận khi chấm và ghi   lời nhận xét vào bài làm, bài kiểm tra của học sinh, khi ghi sổ  liên lạc cũng   như khi viết bài trên lớp. ­ Giáo viên cần nắm được những kĩ năng cơ  bản, quy trình, các kĩ thuật  viết từng con chữ để hướng dẫn cho các em thật chính xác các kĩ năng đó. ­ Giáo viên phải nắm được lỗi mà học sinh mình mắc phải, tìm ra nguyên  nhân và cách khắc phục lỗi cho học sinh. ­ Giáo viên luôn phải sử  dụng linh hoạt nhiều phương án, nhiều cách tổ  chức học cho học sinh hứng thú, tích cực hơn trong việc luyện chữ. ­ Gíáo viên thường xuyên khích lệ, động viên, khơi dậy ở các em lòng say   mê về rèn chữ bằng những hình thức khen thưởng, bằng cách trưng bày thành  quả hàng năm của học sinh. ­ Thường xuyên trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp trong khi họp nhóm ,   họp tổ để tìm ra biện pháp phối hợp hiệu quả, tích cực tham gia chuyên đề để  tìm ra nhiều phương pháp dạy luyện viết đẹp.  13
  14. 3. Kiến nghị và đề xuất:     Để  nâng cao chất lượng chữ  viết cho học sinh, tôi xin có một vài đề  xuất như sau: 3.1. Các cấp, các ngành quan tâm đến đồ  dùng thiết bị dạy học, tổ  chức  nhiều hơn nữa các lớp, các chuyên đề  rèn chữ  đẹp để  nâng cao chất lượng  chữ viết. 3.2. Giáo viên cần đầu tư thời gian công sức hơn nữa để luyện chữ viết,  dám nghĩ, dám làm, sáng tạo trong dạy học. 3.3. Học sinh chuẩn bị  đủ  các phương tiện học tập, có nhận thức đúng  đắn về môn học. 3.4. Phụ  huynh tạo mọi điều kiện để  con em mình học tốt hơn, tạo cơ  hội để các em phát triển tài năng của mình. Trên đây là kinh nghiệm bản thân rút ra từ thực tế hướng dẫn luyện viết.   Chỉ  là một việc làm và ý kiến nhỏ  của bản thân tôi nên sẽ  không tránh khỏi  thiếu sót.   Tôi rất mong sự  góp ý, bổ  sung của các đồng nghiệp nhằm góp  phần nâng cao chất lượng chữ  viết trong các nhà trường nói riêng và chất  lượng giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học nói chung. Tôi xin chân thành cảm ơn!                                                                                                                       Hồi Xuân, ngày 20 tháng 4 năm 2011                                                                             Người thực hiện                                                                             Nguyễn Thị Lệ Thu                                                                                   14
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2