
MỤC LỤC
Mục lục Trang
Thuyết minh mô tả giải pháp và kết quả thực hiện sáng kiến
1.Tên sáng kiến: Phát triển năng lực đặc thù cho học sinh thông qua
phân tích kênh hình phần di truyền học và sinh lý động vật trong bồi
dưỡng HSG quốc gia, HSG cấp tỉnh môn Sinh học
2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
3.Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không.
4.Mô tả các giải pháp cũ thường làm (Nêu rõ tên giải pháp, tình trạng
và nhược điểm, hạn chế của giải pháp cũ):
5.Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến:
6.Mục đích của giải pháp sáng kiến
7.Nội dung
1
1
2
2
2
3
5
6
27
1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP
VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến: Phát triển năng lực đặc thù cho học sinh thông qua phân tích kênh
hình phần Di truyền học và Sinh lý động vật trong bồi dưỡng HSG quốc gia, HSG cấp
tỉnh môn Sinh học
2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 01/04/2022
3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không.
4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm
Tổ chức dạy học môn Sinh học từ trước đến nay giáo viên thực hiện soạn theo
định hướng Chương trình giáo dục phổ thông 20061 chủ yếu ngữ liệu được sử dụng từ
sách giáo khoa, giáo viên và học sinh vốn quen thuộc với cách dạy tương tác trực tiếp
thầy – trò, việc học tập của học sinh phần lớn chỉ đơn thuần nhận thông tin một chiều
từ giáo viên, tiếp thu một cách thụ động hoặc lĩnh hội kiến thức đã được giáo viên
giảng dạy, nghiên cứu thay vì học sinh tự tìm tòi nghiên cứu để nâng cao kiến thức.
Việc sử dụng ngữ liệu dạy học như kênh hình, bảng biểu ngoài sách giáo khoa gần
như chưa được thực hiện. Với cách dạy đó, học sinh chưa có nhiều cơ hội để bộc lộ và
phát triển năng lực bản thân do chưa được giao nhiệm vụ phù hợp với năng lực bản
thân, nó sẽ không còn phù hợp với mục tiêu đổi mới trong Chương trình giáo dục phổ
thông mới ban bắt đầu thực hiện ở cấp THPT từ năm học 2022 – 20232.
Có thể thấy thực hiện theo giải pháp cũ có tồn tại
Một là các kế hoạch dạy học không định hướng hình thành, phát triển năng lực
học sinh theo yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới, mới dừng lại việc ghi nhớ
kiến thức sách giáo khoa.
Hai là chỉ có giáo viên là người trình bày nhưng chỉ là trình bày nội dung kiến
thức sách giáo khoa nên hầu hết học sinh đều mệt mỏi khi phải ngồi lắng nghe mà
không được chủ động tham gia vào bài giảng. Điều này không thể khuyến khích học
sinh tự học và có tâm lý ỷ lại vào giáo viên vào dữ liệu sách giáo khoa. Trong thực tế,
rất nhiều học sinh không thể nhớ được hết những gì mà giáo viên trình bày theo từng
bài riêng rẽ và thậm chí còn nhớ rất ít. Hơn nữa, việc học sinh ghi nhớ những kiến
thức mà giáo viên truyền đạt trên lớp không đồng nghĩa với việc học sinh hiểu và có
thể vận dụng được trong thực tế. Bên cạnh đó, vì học sinh không có kỹ năng phân tích
kênh hình, bảng số liệu nên học sinh khó có thể ứng dụng kiến thức để giải quyết các
vấn đề thực tiễn theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới.
5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến
1 Quyết định 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ GD&ĐT ban hành Chương trình GDPT cấp THCS,
THPT
2 Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về việc ban hành
Chương trình giáo dục phổ thông (Chương trình tổng thể, Chương trình bộ môn: trong đó có bộ môn Sinh học)
2

Thứ nhất: xuất phát từ chủ trương đổi mới mục tiêu tổ chức dạy học theo
chương trình giáo dục phổ thông mới chuyển từ việc học sinh ghi nhớ kiến thức sang
phát triển năng lực cho học sinh, điều này được thể hiện rõ trong Thông tư
32/2018/TT-BGDĐT ngày 27/12/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT). Cụ thể:
Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo mô hình phát triển năng
lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp
tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành và phát triển
những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kì vọng. Để hình thành, phát
triển năng lực cho học sinh trong quá trình dạy học thì nguyên lí “học đi đôi với hành,
lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội”là một trong
những nguyên lí quan trọng. Các thành tố của hoạt động sản xuất, kinh doanh là một nguồn
nhận thức, một phương tiện trực quan quý giá trong dạy học nói riêng, giáo dục nói chung.
Thứ hai: xuất phát từ thực tiễn việc tổ chức dạy học phát triển năng lực học
sinh thông qua việc khai thác kênh hình, bảng biểu
* Đối với giáo viên (GV)
Năm 2018 sau khi Bộ GDĐT ban hành Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, chúng
tôi tiến hành điều tra thực tế 100 giáo viên dạy môn Sinh học tại trường 15 trường
THPT trên địa bàn tỉnh3 về việc tổ chức thực hiện dạy học phát triển năng lực cho học
sinh bằng 4 câu hỏi, cụ thể:
Với 3 câu hỏi 1, 2, 3 chúng tôi thu được kết quả
Câu hỏi Các phương án trả
lời
Kết quả
SL %
1) Theo thầy (cô) tổ chức dạy học phát
triển năng lực cho HS qua việc khai khác
kênh hình, bảng số liệu trong dạy học Sinh
học có cần thiết không?
Rất cần thiết 75 75
Cần thiết 25 25
Không cần thiết 0 0
2) Thầy (cô) có thường xuyên sử dụng câu
hỏi, bài tập phân tích kênh hình, bảng số
liệu khi tổ chức dạy học phát triển năng
lực cho HS không?
Thường xuyên 28 28
Thỉnh thoảng 47 47
Chưa bao giờ 25 25
3) Thầy (cô) đã xây dựng hệ thống bài tập,
câu hỏi kênh hình, bảng số liệu ngoài tài
liệu sách giáo khoa để tổ chức dạy học
phát triển năng lực cho HS theo chủ đề
chưa?
Xây dựng được 100
bài tập tự luận và câu
hỏi trắc nghiệm
0 0
Bắt đầu xây dựng
được một số bài tập
tự luận câu hỏi trắc
nghiệm
24 24
Chưa xây dựng được 76 76
Bảng kết quả trên cho thấy, đa số giáo viên đánh giá cao vai trò và sự cần thiết
phát triển năng lực cho HS (75%) thông qua quá trình dạy học. Việc tổ chức dạy học
để phát triển năng lực cho HS thông qua hệ thống bài tập, câu hỏi khai thác kênh hình,
bảng số liệu được thực hiện thường xuyên còn hạn chế. Đặc biệt còn đến 76% giáo
3THPT Chuyên Bắc Giang, THPT Ngô Sĩ Liên, THPT Thái Thuận, THPT Giáp Hải, THPT Việt Yên 1, THPT
Việt Yên 2, THPT Yên Dũng 1, THPT Yên Dũng 2, THPT Yên Dũng 3, THPT Lạng Giang 1, THPT Lạng Giang
2, THPT Lục Nam, THPT Tân Yên 1, THPT Nhã Nam, THCS Lê Quý Đôn.
3

viên chưa xây dựng hệ thống bài tập, câu hỏi phân tích kênh hình, bảng số liệu theo
từng chuyên đề tổ chức dạy học phát triển năng lực cho học sinh.
Với câu hỏi 4 “Theo thầy (cô) việc xây dựng hệ thống bài tập, câu hỏi kênh
hình, bảng số liệu ngoài tài liệu sách giáo khoa để tổ chức dạy học phát triển
năng lựctrong dạy học gặp khó khăn gì?”
Kết quả thu được như sau:
+ 89/100 (chiếm 89%) GV được phỏng vấn cho biết: Không đủ thời gian thực
hiện vì lượng kiến thức cho mỗi tiết học còn nặng, số tiết đứng lớp của GV trong một
tuần còn nhiều và mục tiêu dạy học cũng như kiểm tra, đánh giá theo chương trình
giáo dục phổ thông 2006 vẫn nặng ghi nhớ kiến thức sách giáo khoa.
+ 94/100 (chiếm 94%) GV được phỏng vấn cho biết: không có nguồn tài liệu để biên
soạn hệ thống bài tập, câu hỏi.
* Đối với học sinh (HS)
Chúng tôi tiến hành điều tra thực tế 100 học sinh tại trường 15 trường THPT
trên địa bàn tỉnh về việc tổ chức thực hiện dạy học phát triển năng lực cho học sinh
bằng 4 câu hỏi, kết quả cụ thể như sau:
Câu hỏi Các phương
án trả lời
Kết quả
SL %
1) Em có thường xuyên được làm các câu hỏi, bài tập
phân tích kênh hình, bảng số liệu trong học tập môn
sinh học hay không?
Thường
xuyên
37 37
Thỉnh thoảng 38 38
Chưa bao giờ 25 25
2) Em có hứng thú khi được làm các câu hỏi, bài tập
phân tích kênh hình, bảng số liệu trong học tập môn
sinh học không? (Câu hỏi áp dụng với 75 học sinh đã
được làm)
Không hứng
thú
2 3
Hứng thú 21 28
Rất hứng thú 52 69
3) Khi thường xuyên được thực hiện các câu hỏi, bài
tập phân tích kênh hình, bảng số liệu trong học tập
môn sinh học, em thấy các kỹ năng giải các câu hỏi,
bài tập dạng này của bản thân có tăng lên không?
(Câu hỏi áp dụng với 37 học sinh đã được làm thường
xuyên)
Tăng lên
nhiều
26 70
Tăng vừa
phải
11 30
Không tăng 0 0
4) Theo em, việc làm các câu hỏi, bài tập phân tích
kênh hình, bảng số liệu trong học tập môn sinh học
có cần thiết không?
Rất cần thiết 65 65
Cần thiết 35 35
Không cần
thiết
0 0
Bảng kết quả trên cho thấy, việc làm các câu hỏi, bài tập phân tích kênh hình,
bảng số liệu trong học tập môn sinh học của học sinh chưa thực sự thường xuyên, vẫn
còn 25% số học sinh chưa bao giờ được giải các câu hỏi, bài tập dạng này. Tuy nhiên,
4

có tới 97% số học sinh đã được làm các câu hỏi, bài tập dạng này cảm thấy hứng thú
hoặc rất hứng thú, học sinh cũng cảm thấy các kỹ năng giải các câu hỏi, bài tập dạng
này tăng lên ở các mức độ khác nhau. Học sinh cũng nhận thấy sự cần thiết của việc
làm các câu hỏi, bài tập phân tích kênh hình, bảng số liệu trong học tập môn sinh học.
Thứ ba: xuất phát từ việc thay đổi nội dung trong thi chọn học sinh giỏi cấp
tỉnh theo định hướng thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia.
Từ năm học 2022-2023 trong chương trình thi học sinh giỏi lớp 9 cấp THCS
của tỉnh Bắc Giang được bổ sung phần kiến thức chuyên sâu của Di truyền học và
Sinh lý động vật nên nhiều giáo viên gặp khó khăn trong công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi, đặc biệt là những câu hỏi liên quan đến việc khai thác kênh hình mang tính suy
luận và mới lạ. Trong đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Sinh học THPT, kiến thức sử
dụng kênh hình phần di truyền có cả trong các câu hỏi trắc nghiệm và tự luận. Trong
đề thi học sinh giỏi cấp quốc gia môn Sinh học, phần Sinh lý động vật và Di truyền
học cũng chiếm vai trò vô cùng quan trọng và quyết định đến số lượng cũng như chất
lượng giải. Cụ thể, trong năm học 2022-2023, số lượng câu hỏi của phần Di truyền
học chiếm tới 7/12 câu hỏi của ngày thi thứ hai; tổng số điểm là 10/40 điểm của hai
ngày thi, chiếm tới 50% số điểm của ngày thi thứ hai và chiếm tới 25% số điểm của cả
hai ngày thi. Số lượng câu hỏi phần Sinh lý động vật chiếm 4/12 câu hỏi của ngày thi
thứ nhất, tổng số điểm là 10/40 điểm của hai ngày thi, chiếm tới 50% số điểm của
ngày thi thứ hai và chiếm tới 25% số điểm của cả hai ngày thi.
Từ những lí do trên, chúng tôi đề xuất giải pháp: “ Phát triển năng lực đặc thù
cho học sinh thông qua phân tích kênh hình phần Di truyền học và Sinh lý động vật
trong bồi dưỡng HSG quốc gia, HSG cấp tỉnh môn Sinh học’’
6. Mục đích của giải pháp sáng kiến
- Tạo sản phẩm ứng dụng trong bồi dưỡng, nâng cao dạy học sinh giỏi cấp quốc gia,
học sinh giỏi cấp tỉnh, bao gồm hệ thống các câu hỏi, bài tập kênh hình phần di truyền
học và sinh lý động vật.
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho giáo viên, giúp tiết kiệm về mặt kinh tế, sức lực
cũng như thời gian cho giáo viên, giúp nâng cao số lượng cũng như chất lượng dạy
học sinh giỏi cấp quốc gia, học sinh giỏi cấp tỉnh.
- Phát triển các năng lực đặc thù cho học sinh thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập kênh
hình phần di truyền học và sinh lý động vật.
7. Nội dung
7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến
5

