1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH

Mã số: .................................... (Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Quản lý hoạt động liên kết đào tạo (ĐH, CĐ, THCN) tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai

Người thực hiện: LƯƠNG TRỌNG THÔNG

Lĩnh vực nghiên cứu:

- Quản lý giáo dục

- Phương pháp dạy học bộ môn:

(Ghi rõ tên bộ môn)

- Lĩnh vực khác: ....................................................... 

(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN

 Hiện vật khác

 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh

Đồng Nai, 2015

2

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1. Họ và tên:

LƯƠNG TRỌNG THÔNG

2. Ngày tháng năm sinh:

01/01/1962

3. Nam, nữ:

Nam

4. Địa chỉ: K3/63A, Nguyễn Tri Phương, Bửu Hòa, Biên Hòa, Đồng Nai

5. Điện thoại: 061.3825391 (CQ)/ ĐTDĐ: 0913939296

6. E-mail: thong1162@gmail.com

7. Chức vụ: Phó Giám đốc

8. Đơn vị công tác: Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai

II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị: Đại học

- Năm nhận bằng: 1989

- Chuyên ngành đào tạo: ĐHSP Hóa học

III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh Vực: QLGD

Số năm kinh nghiệm 25

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: QL liên kết đào tạo

Số năm có kinh nghiệm: 10

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: 04

3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 5 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 5 2. Tình hình nghiên cứu đề tài................................................................................ 6 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................... 7 3.1. Mục đích nghiên cứu....................................................................................... 7 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................... 8 4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài ............................................ 8 4.1. Khách thể nghiên cứu ..................................................................................... 8 4.2. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................... 8 4.3. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................ 8 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu .................................................. 8 5.1. Phương pháp luận ........................................................................................... 8 5.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 8 5.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu ....................................................................... 8 5.2.2. Phương pháp xử lý dữ liệu ........................................................................... 9 6. Giả thuyết của đề tài .......................................................................................... 9 7. Ý nghĩa và những đóng góp của đề tài ............................................................... 9 8. Kết cấu, nội dung của luận văn .......................................................................... 9 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN .......................................... 10 1.1 Các khái niệm cơ bản ..................................................................................... 10 1.1.1 Khái niệm cơ bản quản lý giáo dục ............................................................. 10 1.1.2 Liên kết đào tạo........................................................................................... 10 1.1.2 Quản lý trong hoạt động liên kết đào tạo ..................................................... 11 1.2.2.1 Trung tâm GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân ................................ 11 1.2.2.2 Các hoạt động của TTDGTX.................................................................... 11 1.2.2.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của TTDGTX ..................................................... 12 1.2.2.4 Nhân sự và học viên ................................................................................. 12 1.1.3 Quản lý hoạt động liên kết đào tạo .............................................................. 14 1.1.3.1 Cơ sở thực hiện công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo ..................... 14 1.1.3.2 Chủ thể và khách thể quản lý.................................................................... 15 1.2 Nội dung quản lý hoạt động liên kết đào tạo .................................................. 16 1.3 Phương thức quản lý ...................................................................................... 18 1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động liên kết đào tạo ................... 18 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH ĐỒNG NAI ................... 19 2.1. Sơ lược về giáo dục tỉnh Đồng Nai ............................................................... 19 2.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Đồng Nai ...................................................... 19 2.1.2 Kết quả giáo dục tỉnh Đồng Nai .................................................................. 19 2.2. Lịch sử hình thành và phát triển TTGDTX tỉnh Đồng Nai ............................. 20 2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển ............................................................... 20 2.2.2 Cơ sở vật chất ............................................................................................. 20 2.2.3 Tình hình nhân sự ....................................................................................... 21 2.2.4 Tình hình liên kết đào tạo của TTGDTX tỉnh Đồng Nai .............................. 22 2.2.5 Thành tựu đạt được ..................................................................................... 23 2.3. Thực trạng quản lý hoạt động LKĐT của TTGDTX tỉnh Đồng Nai............... 24 2.3.1 Quản lý về công tác tổ chức liên kết đào tạo................................................ 24

4

2.3.2 Quản lý về công tác tuyển sinh .................................................................... 27 2.3.3 Quản lý về nội dung đào tạo ........................................................................ 28 2.3.4 Quản lý năng lực và trình độ đào tạo ........................................................... 29 2.3.5 Quản lý hoạt động học tập ........................................................................... 31 2.3.6 Quản lý nhân lực và cơ sở phục vụ đào tạo ................................................. 32 2.4 Những hạn chế trong liên kết đào tạo của TTGDTX tỉnh Đồng Nai ............... 33 2.4.1 Vấn đề pháp luật, cơ chế ............................................................................. 33 2.4.2 Từ phía các đơn vị liên kết của Trung tâm................................................... 33 2.4.3 Từ phía Trung tâm ...................................................................................... 34 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH ĐỒNG NAI ............ 35 3.1 Các nguyên tắc và định hướng đề xuất biện pháp ........................................... 35 3.2 Biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại TTGDTX tỉnh Đồng Nai ..... 36 3.2.1 Hoàn thiện các quy định về quản lý hoạt động liên kết đào tạo .................... 36 3.2.2 Lựa chọn đơn vị liên kết và đối tượng tuyển sinh ........................................ 37 3.2.3 Quản lý chặt chẽ về nội dung đào tạo, kế hoạch đạo tạo .............................. 38 3.2.4 Nâng cao chất lượng cán bộ giảng viên và quản lý chặt hoạt động giảng dạy của giảng viênQuy trình tuyển sinh tại TTGDTX tỉnh Đồng Nai (Nguồn: Tổng hợp của tác giả)............................................................................. 39 3.2.5 Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giảng dạy ............................. 39 3.2.6 Thực hiện tốt công tác kiểm tra đánh giá kết quả của các khóa liên kết ....... 40 3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất ......... 40 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ....................................................................... 43 1. Kết luận ........................................................................................................... 43 2. Khuyến nghị .................................................................................................... 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO

5

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong suốt quá trình lịch sử, sự phát triển của xã hội thường đi đôi với vấn đề giáo dục.Trong lịch sử phát triển của loài người, dân tộc nào có chính sách quản lý tốt giáo dục, đề cao vấn đề giáo dục thì dân tộc đó sẽ phát triển nhanh hơn.Trên thế giới, vấn đề phát triển giáo dục đào tạo rất được chú trọng.Ở các nước phương Tây, việc cải tiến các phương pháp quản lý giáo dục và phương pháp dạy học khiến cho nền giáo dục luôn có kết quả tốt. Một số nước và lãnh thổ ở Châu Á – Thái Bình Dương thành công nhanh chóng trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore đều là những nước và vùng lãnh thổ có nền giáo dục phát triển cao, có trình độ tiên tiến, đào tạo đội ngũ tri thức lớn.

Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước cũng như các thời đại trước vẫn xem giáo dục là quốc sách hàng đầu để đưa đất nước phát triển, và ngày nay cũng vậy. Tuy nhiên, không phải ai cũng có cơ hội để có thể học tập tại các cơ sở giáo dục chính quy, chính vì vậy nhà nước đã có phương án để xây dựng một xã hội luôn học tập, học tập cho tất cả mọi người, như gần đây nhất là đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 – 2020”1 trong đó nhấn mạnh:

“Trong xã hội học tập, mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả ngày càng cao; học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc; học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại.

Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cộng đồng dân cư và gia đình có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được học tập suốt đời.

Xây dựng xã hội học tập dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết và liên thông giữa giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên; đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời ở ngoài nhà trường; ưu tiên các đối tượng chính sách, người dân tộc, phụ nữ, người bị thiệt thòi”.

Vậy, cùng với xu thế phát triển của xã hội, thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước đã có nhiều cơ chế, chính sách để hệ thống các cơ sở giáo dục chính quy và không chính quy, trong đó có các Trung tâm giáo dục thường xuyên (TTGDTX), đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa đạng của người dân, trong đó có người dân tại tỉnh Đồng Nai, góp phần không nhỏ vào kết quả giáo dục và đào tạo của đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

TTGDTX là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân2. Nhiệm vụ chính của TTGDTX là tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục: Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ; Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin - truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức công tác tại vùng dân tộc, miền núi theo kế hoạch hằng năm của địa phương; Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông3. 1Thủ tướng chính phủ, Quyết định 89/QĐ-TTg về Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 – 2020, ban hành ngày 09 tháng 01 năm 2013 2 Quốc hội Việt Nam, Luật giáo dục 2005, ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2005. 3 Bộ GD và Đào tạo, quy chế Tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên, ban hành ngày 02 tháng 01 năm 2007.

6

Ngoài ra cũng theo quyết định này các TTGDTX cấp tỉnh được tổ chức liên kết đào tạo với các trường trung cấp chuyên nghiệp, cơ sở giáo dục đại học tại địa phương khi bảo đảm các yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết bị và cán bộ quản lý phải phù hợp với yêu cầu của từng ngành được liên kết đào tạo.

Theo các quy định trên thì TTGDTX tỉnh Đồng Nai có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện việc liên kết đào tạo, hỗ trợ các trường đại học, cao đẳng thực hiện chương trình đào tạo hệ không chính quy cao đẳng, đại học tại địa phương và hiện nay Trung tâm đang thực hiện một số khóa liên kết với các trường trong nước. Bước đầu Trung tâm đã làm tốt các nhiệm vụ của mình, đặc biệt là nhiệm vụ liên kết đào tạo, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, đào tạo theo địa phương, phục vụ nhu cầu học tập cho cán bộ cho tỉnh nhà. Tuy nhiên, đây là một hình thức mới nên lãnh đạo và các thành viên của các bộ phần quản lý cũng như giảng dạy còn nhiều thiếu sót. Bên cạnh đó còn có những hạn chế như cán bộ quản lý thiếu kinh nghiệm, hiệu quả quản lý chưa cao dẫn đến chưa tạo được lòng tin tưởng tuyệt đối với người học và xã hội.

Bản thân là một cán bộ quản lý tại Trung tâm, nhận thấy nhu cầu học tập của người dân ở địa phương về các trình độ cao hơn mà không có điều kiện đi xa và mục tiêu trong công tác liên kết giáo dục của Trung tâm là nâng cao chất lượng giáo dục bằng chất lượng công tác quản lý, tôi đã lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai” để tìm ra các cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý về hoạt động liên kết tại Trung tâm trong thời gian tới, từ đó mang lại chất lượng đối với các lớp đào tạo theo hình thức liên kết đào tạo của Trung tâm. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Nhìn chung về tình hình nghiên cứu đề tài có liên quan đến đề tài của tác giả rất ít nhưng là người trực tiếp quản lý hoạt động này tại Trung tâm nên tác giả cố gắng nghiên cứu. Có thể kể ra đây một vài đề tài:

“Quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trung tâm giáo dục thường xuyên Phố Nối, tỉnh Hưng Yên” -Đặng Thị Phương- có liên quan tới đề tài khi tác giả nghiên cứu cùng vấn đề. Trình bày cơ sở lý luận về quản lý hoạt động liên kết đào tạo. Trong nghiên cứu tác giả đã tìm hiểu về thực trạng quản lý các hoạt động liên kết đào tạo Trung tâm Giáo dục thường xuyên Phố Nối tỉnh Hưng Yên .Trình bày các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên.Và thực hiện khảo sát mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất. Tác giả đã thành công khi đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm này với mức đồng ý về tính khả thi.

Tuy nhiên, ở mỗi Trung tâm lại có một nền tảng khác nhau, đề tài tuy có liên quan nhưng không thể thay thế và giảm mức độ cần thiết khi nghiên cứu tại một Trung tâm khác ở tỉnh khác.

“Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo hình thức vừa làm vừa học thông qua ứng dụng công nghệ thông tin tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên” -Hoàng Văn Thể-, tác giả nghiên cứu những lý luận về quản lý, quản lý đào tạo, việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào quản lý đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo dựa vào việc tăng cường ứng dụng CNTT. Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những nội dung quản lý liên kết đào tạo hệ vừa làm vừa học, những khâu trong quá trình có thể sử dụng công nghệ thông tin có hiệu quả.

Ở nghiên cứu này tác giả đã đi vào nghiên cứu vấn đề liên kết đào tạo và đề xuất chấn chỉnh công tác liên kết trong những khóa do trường tổ chức. Tuy nhiên đây là chỉ là một mặt, một hình thức và nội dung quản lý với hoạt động liên kết đào tạo tại trường.

7

“Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” -Hoàng Thị Tú Oanh-, đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận về giáo dục - đào tạo và lý luận quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo. Nêu kinh nghiệm của một số quốc gia có nền giáo dục - đào tạo tốt để có thể vận dụng vào thực tiễn giáo dục - đào tạo ở nước ta. Nghiên cứu các nội dung của quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo và làm sáng rõ thực trạng của giáo dục - đào tạo cũng như quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở nghiên cứu những nguyên tắc xây dựng nền giáo dục nước ta đã được Đảng và Nhà nước chỉ rõ trong giai đoạn từ 2001- 2020, đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục-đào tạo của nước ta thời gian tiếp theo. Đề tài này chỉ nói chung về quản lý giáo dục chứ không nêu cụ thể về đối tượng

được quản lý nào. Vì thế không vận dụng được nhiều trong nghiên cứu của chúng tôi.

“Trường tư và trường ngoài công lập ở các nước phát triển phương Tây” - Nguyễn Thị Hiền, tạp chí Thông tin giáo dục, số 64.. Tác giả đã khái quát sự khác biệt giữa trường công lập cũng như chính sách phát triển các trường tư ở một số nước phát triển như: Anh, Pháp, Đức…

“Một số vấn đề cấp bách trong công tác tổ chức quản lí các trường phổ thông dân lập” của Nguyễn Văn Đản, Thông tin khoa học giáo dục, số 67. Bài báo nêu lên những hạn chế trong công tác quản lý các trường phổ thông ngoài dân như: sự quan tâm chưa đúng mức của các cơ quan quản lý, hệ thống văn bản pháp luật cho các trường này cũng thiếu, chưa rõ, sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền cũn lỏng lẻo...; những khó khăn của các trường phổ thông dân lập về đất đai, tài chính, đối tượng tuyển sinh, chất lượng giáo viên... Trên cơ sở đó, bài báo đó nêu ra một số vấn đề cần thực hiện như: cần có những quy định cụ thể về trường phổ thông dân lập, có cơ chế cụ thể về đất đai, tài chính cho trường phổ thông ngoài dân lập, tăng cường công tác kiểm tra đối với giáo dục phổ thông ngoài dân lập. Tuy nhiên các nghiên cứu trên không liên quan nhiều đến quản lý của Nhà nước trong vấn đề giáo dục tại các TTGDTX.

“Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy tại các Trung tâm Giáo dục thường xuyên – Kỹ thuật – Hướng nghiệp tỉnh Bình Dương” của Hoàng Thị Thanh Thúy (2011), đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài; Khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân của thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy bổ túc văn hóa (BTVH) của Giám đốc tại các Trung tâm GDTX- KT-HN tỉnh Bình Dương; và đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giảng dạy BTVH của Giám đốc tại Trung tâm GDTX- KT-HN tỉnh Bình Dương.

Tuy có nghiên cứu về các quản lý tại Trung tâm giáo dục thường xuyên nhưng đề tài này lại nghiên cứu về công tác quản lý tại trường với các khóa do trường tổ chức, không có hoạt động liên kết.

Có nhiều đề tài nghiên cứu có liên quan ít nhiều nhưng cho đến nay chưa thấy có nghiên cứu nào thực hiện về đề tài Quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh.Chính vì vậy, do yêu cầu thực tế mà đề tài này của tác giả là cần thiết phải thực hiện. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, cơ sở pháp luật và phân tích thực trạng, dựa vào những điều kiện thực tế của TTGDTX tỉnh Đồng Nai về công tác tổ chức và quản lý liên kết giáo dục, tác giả sẽ tổng hợp, phân tích, nhận định những thành công, tồn tại của công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm, từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai.

8

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thống kê, phân tích các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề quản lý giáo dục nói chung, các TTGDTX nói riêng và đối với việc quản lý hoạt động liên kết của các Trung tâm này.

- Tiến hành phân tích thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại TTGDTX tỉnh Đồng Nai.

- Từ thực tế của công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai đưa ra nhận định về những nội dung chính sách quản lý, cũng như công tác thực hiện nội dung quản lý của Trung tâm đối hoạt động này. Tìm ra những thành công, những tồn tại, từ đó đưa ra hướng khắc phục những tồn tại và phát huy những thành công bằng những giải pháp cụ thể, khả thi. 4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 4.1. Khách thể nghiên cứu Khách thể nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý các hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai. 4.2. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tìm hiểu các các quy định của pháp luật về quản lý các TTGDTX. Đề tài đi sâu nghiên cứu lý luận, các quy định của pháp luật về quản lý hoạt

động liên kết đào tạo tại các TTGDTX. Chủ thể quản lý, nội dung quản lý, và phương tiện quản lý hoạt động liên kết đạo tạo tại TTGDTX tỉnh Đồng Nai.

Đối tượng trong khảo sát thực nghiệm là các cán bộ quản lý tại Trung tâm, các giáo viên, giảng viên của TTGDTX tỉnh Đồng Nai và TTGDTX các tỉnh có loại hình liên kết tương đồng. 4.3. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai. Trong thời gian từ khi có quyết định số 42/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28/07/2008 của Bộ GD & ĐT quy định về liên kết đào tạo THCN, Cao đẳng, Đại học có hiệu lực. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Đề tài dựa vào hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước về quản lý giáo dục và hoạt động liên kết giáo dục như Luật giáo dục, các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn, quyết định của các cấp ban ngành có liên quan đến Trung tâm và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến công tác quản lý hoạt động liên kết giáo dục của Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai. Đề tài sử dụng cách tiếp cận vấn đề theo quan điểm hệ thống - cấu trúc; lịch sử - logic, trên cơ sở đó, kết hợp với thực tế tình hình quản lý hoạt động liên kết của Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua mà tiến hành định hướng cho Trung tâm quản lý hiệu quả hơn hoạt động liên kết giáo dục trong thời gian tới. 5.2. Phương pháp nghiên cứu 5.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả dùng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp trên cơ sở các báo cáo tổng kết của các cơ quan quản lý Nhà nước, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các thông tin đánh giá tại các sách báo, trang tài liệu, ý kiến chuyên gia… đã được công bố trong phạm vi nghiên cứu, nhằm đánh giá những kết quả đã đạt được và chưa được.

Đề tài còn sử dụng phương pháp điều tra thực nghiêm thông qua bảng câu hỏi đối với bộ quản lý và giáo viên của Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai và TTGDTX các tỉnh tương đồng.

9

5.2.2. Phương pháp xử lý dữ liệu

Từ các dữ liệu trên, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các lý thuyết có liên quan nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn bản chất của vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

Luận văn nghiên cứu dựa trên chính sách, pháp luật của Nhà nước trong công tác quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động liên kết tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai nói riêng; sử dụng kết hợp các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp nhằm đảm bảo tính khoa học và thực tiễn của đề tài. 6. Giả thuyết của đề tài Hiệu quả của công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai sẽ được nâng cao nếu thực hiện tốt các công tác hoàn thiện các quy định về quản lý hoạt động liên kết đào tạo; Lựa chọn đơn vị liên kết và đối tượng tuyển sinh; Quản lý chặt chẽ về nội dung đào tạo, kế hoạch đạo tạo; Nâng cao chất lượng cán bộ giảng viên và quản lý chặt hoạt động giảng dạy của giảng viên; Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giảng dạy và thực hiện tốt công tác kiểm tra đánh giá kết quả của các khóa liên kết. 7. Ý nghĩa và những đóng góp của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần: - Đánh giá tình hình thực tế của công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai nói riêng và các Trung tâm GDTX trong cả nước nói chung.

- Tìm hiểu những thiếu sót trong công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm nói riêng và các TTGDTX nói chung.

- Sẽ nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai; có giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực, hiệu quả của công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai.

- Nghiên cứu sẽ trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho các cán bộ quản lý, công chức, giáo viên, sinh viên, học viên có liên quan đến quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại các Trung tâm GDTX cấp tỉnh. 8. Kết cấu, nội dung Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 03 chương. Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm

giáo dục thường xuyên Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm

giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai

10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1.1 Khái niệm cơ bản quản lý giáo dục

Con người là thực thể của tự nhiên, phương thức tồn tại và phát triển của con người là hoạt động. Trong quá trình hoạt động con người luôn tác động lẫn nhau, chi phối lẫn nhau tạo thành các mối quan hệ. Trong các hoạt động chung người có ưu thế hơn sẽ chi phối người khác, trở thành “thủ lĩnh, nhạc trưởng”. Như vậy quản lý ra đời trong quá trình hoạt động của con người. Quản lý có thể hiểu theo những khuynh hướng sau:

- Quản lý là quá trình điều khiển của một hệ thống. - Quản lý là hoạt động tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện, môi trường cho sự phát triển của đối tượng quản lý. (Quản: Trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì trạng thái “ổn định”; Lý: Sắp xếp, sửa sang, đổi mới để phát triển). (từ điển Hán Việt)

- Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Tuy cách diễn đạt khác nhau song nội dung cơ bản của quản lý là thống nhất. Quản lý là một thuộc tính nội tại, bất biến của mọi quá trình hoạt động xã hội.Lao động quản lý là tất yếu và quan trọng để làm cho xã hội loài người vận hành, tồn tại và phát triển.

Các lĩnh vực của quản lý bao gồm: Giới vô sinh, giới sinh vật và quản lý xã hội. Quản lý xã hội là dạng quản lý cơ bản của con người đối với các hoạt động của con người trong một tổ chức nào đó, nên có thể hiểu: Quản lý là quá trình tiến hành các hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi hay hiệu quả cần thiết cho sự tồn tại, ổn định và phát triển của tổ chức trong môi trường luôn biến động.

Còn theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010) đã xác định một cách cụ thể “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”.

Quản lý nhà nước về giáo dục: Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục (Lê Thị Thu Hà, 2009).

Từ các khái niệm của quản lý tác giả đi đến khái niệm về quản lý giáo dục riêng như sau: QLGD là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng. 1.1.2 Liên kết đào tạo Liên kết là “kết, buộc lại với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau” (từ điển Từ và Ngữ Hán Việt).

Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một

11

sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người”

Theo Quyết định số 42 /2008/QĐ-BGDĐT thì “Liên kết đào tạo là sự hợp tác giữa các bên để tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học”. Vậy liên kết đào tạo là sự kết hợp giữa các tổ chức giáo dục với nhau nhằm tác

động làm cho các học viên lĩnh hội và nắm vững tri thức trong nội dung đào tạo. 1.1.2 Quản lý trong hoạt động liên kết đào tạo 1.2.2.1 Trung tâm GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân Theo luật giáo dục 2005 và luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật giáo dục thì hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam hiện nay bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. Hệ thống này được chia thành các cấp học và trình độ đào tạo gồm:

Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo; Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.4

Vị trí của giáo dục thường xuyên đã được khẳng định “hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên”. Giáo dục thường xuyên hiện nay có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu thay đổi công nghệ trong sản xuất và đời sống, xây dựng xã hội học tập. Sự thay đổi này đòi hỏi người lao động luôn phải học tập, không ngừng nâng cao trình độ tay nghề, cập nhật kiến thức và hơn nữa học để có thể thay đổi nghề nghiệp theo yêu cầu của cá nhân và xã hội. 1.2.2.2 Các hoạt động của TTDGTX

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, giáo dục thường xuyên đã được phát triển nhanh chóng và từng bước đáp ứng nhu cầu học tập cho hàng triệu người có nhu cầu học tập liên tục, học tập suốt đời. Ở nhiều nước, giáo dục thường xuyên phát triển rất mạnh, rất đa dạng về mô hình tổ chức và chương trình giảng dạy, học tập, nhằm tạo các điều kiện tốt nhất đáp ứng mọi yêu cầu học tập suốt đời, học tập liên tục của mọi công dân. Giáo dục thường xuyên một mặt vừa là phương thức học tập, mặt khác do nhu cầu phát triển đã trở thành một bộ phận quan trọng bên cạnh giáo dục chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Theo quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giáo dục thường xuyên thì Trung tâm giáo dục thường xuyên là cơ sở giáo dục thường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân. Trung tâm giáo dục thường xuyên bao gồm Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện, và Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh. Trung tâm giáo dục thường xuyên có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng5.

Cơ sở giáo dục thường xuyên trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều luật Giáo dục năm 2005 được bổ sung thêm Trung tâm ngoại ngữ, tin học do tổ chức, cá nhân thành lập nhằm khẳng định về mặt pháp lý đối với hình thức tổ chức này, vốn đã phát triển rất mạnh mẽ trong mấy năm vừa qua nhằm huy động tiềm năng của cộng đồng để đáp ứng nhu cầu học tập của mọi tầng lớp nhân dân và xây dựng một xã hội học tập.

4 QHVN, Điều 4 Luật giáo dục 2005 5 Bộ GDĐT, Quyết định 01/2007/QĐ-BGDĐT, Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên.

Vậy TTDGTX là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân. Nó giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất

12

lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội. Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập. 1.2.2.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của TTDGTX

Nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm giáo dục thường xuyên là: Thứ nhất, … đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ; Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin - truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ…

Thứ hai, thực hiện điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề xuất với sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng.

Thứ ba, tổ chức các lớp học theo các chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông dành riêng cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàn tật, khuyết tật, theo kế hoạch hằng năm của địa phương. Thứ tư, tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập.

Thứ năm, nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên6.

Ngoài ra TTDGTX còn có quyền tổ chức liên kết đào tạo. Theo đó, đối với trường trung cấp chuyên nghiệp, cơ sở giáo dục đại học khi thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên lấy bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, được phép liên kết với TTDGTX, với điều kiện TTDGTX phải bảo đảm các yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết bị và cán bộ quản lý phải phù hợp với yêu cầu của từng ngành được liên kết đào tạo; Và việc liên kết đào tạo được thực hiện trên cơ sở hợp đồng liên kết đào tạo; trường trung cấp chuyên nghiệp, cơ sở giáo dục đại học chịu trách nhiệm toàn diện về việc liên kết đào tạo.

Đối với cơ sở giáo dục đại học khi thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên lấy bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học, được phép liên kết với TTDGTX cấp tỉnh với điều kiện là TTDGTX cấp tỉnh phải bảo đảm các yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết bị và cán bộ quản lý phải phù hợp với yêu cầu của từng ngành được liên kết đào tạo; Và việc liên kết đào tạo được thực hiện trên cơ sở hợp đồng liên kết đào tạo; cơ sở giáo dục đại học chịu trách nhiệm toàn diện về việc liên kết đào tạo7. Vậy trước hết các TTDGTX có nhiệm vụ tuân thủ các quy định của pháp luật trong quản lý giáo dục của nhà nước Việt Nam. Từ đó các TTDGTX đóng góp một phần quan trọng vào chương trình dạy học quốc dân; Các chương trình bồi dưỡng kiến thức, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học… đáp ứng nhu cầu của người học. Mục tiêu đáp ứng các yêu cầu của người học trong quá trình làm việc, học tập và phát triển bản thân, giúp các cá nhân có cơ hội hoàn thiện kỹ năng, học vấn. 1.2.2.4 Nhân sự và học viên Theo điều Điều 12 Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giáo dục thường

xuyê thì cơ cấu tổ chức của các TTDGTX được phân làm hai cấp như sau:

Đối với Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện thì cơ cấu tổ chức gồm có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó giám đốc; Cơ cấu tổ chức của Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện gồm các tổ: tổ hành chính - tổng hợp, tổ giáo vụ, tổ dạy văn hóa, tổ 6 Bộ GDĐT, Quyết định 01/2007/QĐ-BGDĐT, Điều 3, Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên. 7 Bộ GDĐT, Quyết định 01/2007/QĐ-BGDĐT, Điều 4, Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên.

13

dạy nghề, ngoại ngữ và tin học, tổ chuyên đề và các tổ chuyên môn khác; mỗi tổ có một tổ trưởng, một tổ phó do giám đốc Trung tâm bổ nhiệm. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các tổ này do giám đốc Trung tâm quy định.

Đối với Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh thi cơ cấu tổ chức gồm có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó giám đốc; Cơ cấu tổ chức của Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh gồm có: phòng tổ chức hành chính, phòng quản lý đào tạo, phòng bồi dưỡng nâng cao trình độ, phòng dạy văn hóa và các phòng, tổ chuyên môn khác; mỗi phòng có 1 trưởng phòng, 1 hoặc 2 phó trưởng phòng; mỗi tổ có 1 tổ trưởng, 1 hoặc 2 tổ phó do giám đốc trong tâm bổ nhiệm. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các phòng, tổ này do giám đốc Trung tâm quy định.

Theo quy định trên cho thấy rằng có một số vị trí là không thể thay đổi dù ở cấp nào là 1 giám đốc và 1 phó giám đốc, số phó giám đốc có thay đổi từ 1 đến 2. Về tổ chức trong nội bộ các TTDGTX có thể thay đổi như các phòng thay thế cho các tổ, số lượng các phòng, tổ có thể thay đổi… nhằm làm cho bộ máy của các Trung tâm hoạt động linh hoạt hơn, hiệu quả hơn. Tùy theo chức danh, vị trí làm việc mà có các yêu cầu về trình độ, kiến thức, kỹ năng, cũng như phẩm chất khác nhau.

Với vị trí giám đốc TTDGTX phải là người có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực quản lý, tốt nghiệp đại học và công tác trong ngành giáo dục ít nhất 5 năm. Giám đốc TTDGTX do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc giám đốc sở giáo dục và đào tạo theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm. Giám đốc TTDGTX là người trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên về hoạt động của Trung tâm. Giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên được bổ nhiệm và bổ nhiệm lai theo nhiệm kỳ; mỗi nhiệm kỳ là 5 năm.

Các nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản của giám đốc là Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá việc thực hiện kế hoạch nhằm hoàn thành các nhiệm vụ của Trung tâm; Quản lý cơ sở vật chất và các tài sản của Trung tâm; Quản lý nhân viên, giáo viên và học viên của Trung tâm; Bổ nhiệm các trưởng phòng, phó phòng, tổ trưởng, tổ phó; thành lập các phòng chuyên môn, nghiệp vụ, tổ chuyên môn, nghiệp vụ; Quản lý tài chính, quyết định thu chi và phân phối các thành quả lao động, thực hành kỹ thuật, dịch vụ theo quy định; Ký học bạ, các giấy chứng nhận trình độ học lực và kỹ thuật, nghề nghiệp, chứng chỉ giáo dục thường xuyên cho học viên học tại Trung tâm theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Được hưởng các chế độ theo quy định. Phó giám đốc là người giúp việc cho giám đốc, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực quản lý, tốt nghiệp đại học, công tác trong ngành giáo dục ít nhất 5 năm. Phó giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên được bổ nhiệm và bổ nhiệm lại theo nhiệm kỳ; mỗi nhiệm kỳ là 5 năm. Phó giám đốc do giám đốc Trung tâm đề nghị và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc giám đốc sở giáo dục và đào tạo theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm. Với cá nhiệm vụ và quyền hạn sau là Thực hiện và chịu trách nhiệm trước giám đốc về những việc được phân công; Chịu trách nhiệm trước cấp trên về các hoạt động có liên quan của Trung tâm; Thay mặt giám đốc điều hành hoạt động của Trung tâm khi được giám đốc ủy quyền; Được hưởng các chế độ theo quy định.

Các tổ (hoặc phòng) chuyên môn, nghiệp vụ do quy mô đào tạo và đặc điểm ngành nghề đào tạo, mà giám đốc Trung tâm quyết định thành lập. Đứng đầu các tổ (hoặc phòng) chuyên môn, nghiệp vụ là tổ trưởng (hoặc trưởng phòng) do giám đốc Trung tâm bổ nhiệm, miễn nhiệm. Nhiệm vụ cụ thể của tổ (hoặc phòng) chuyên môn, nghiệp vụ do giám đốc Trung tâm quy định.

Hội đồng thi đua, Hội đồng khoa học trong TTDGTX được thành lập theo quyết định của giám đốc Trung tâm. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thời gian hoạt

14

động, số lượng và cơ cấu thành viên của các hội đồng tư vấn và các cơ sở phục vụ đào tạo do giám đốc Trung tâm quyết định.

Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong TTDGTX được thành lập và hoạt động theo Điều lệ Đảng, trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Các đoàn thể, tổ chức xã hội trong Trung tâm được thành lập có trách nhiệm góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ của Trung tâm và hoạt động theo quy định của pháp luật.

Giáo viên của TTDGTX là người làm nhiệm vụ giảng dạy tại Trung tâm. Giáo viên phải có trình độ đạt chuẩn như quy định đối với giáo viên dạy cùng cấp học của giáo dục chính quy,.

Học viên Trung tâm giáo dục thường xuyên là người học đang theo học một hoặc nhiều chương trình của Trung tâm giáo dục thường xuyên. TTDGTX có quyền tuyển sinh tất cả công dân Việt Nam và công dân nước ngoài sinh sống hợp pháp tại Việt Nam có đủ điều kiện và nguyện vọng tham gia một trong những khoá học của Trung tâm8. 1.1.3 Quản lý hoạt động liên kết đào tạo 1.1.3.1 Cơ sở thực hiện công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo Các cơ sở thực hiện công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo được quy định ở các văn bản, quy định pháp luật ở các cấp độ khác nhau. Mỗi văn bản có những điều quy định ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo nói chung và công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại các TTDGTX nói riêng. Các cơ sở thực mà tác giả dùng để nghiên cứu công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại TTDGTX tỉnh Đồng Nai bao gồm: Luật Giáo dục do Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14.7.2005 và

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số 44/2009/QH12. Quyết định 01/2007/QĐ-BGDĐT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục ban hành ngày 02/01/2007 về Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giáo dục thường xuyên. Ở khoản 2, điều 4, chương I: “Cơ sở giáo dục đại học khi thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên lấy bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học được phép liên kết với Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh…” Quyết định số 42/2008/QĐBGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 28/7/2008 về việc Ban hành quy định về liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Ở mục b, khoản 2, điều 7, chương II: “Đối với các khóa liên kết đào tạo cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng, đại học, địa điểm đặt lớp phải là các trường, các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh”. Công văn 5751/UBND-VX do UBND tỉnh Đồng Nai ban hành ngày 23/8/2011 về việc Chấn chỉnh công tác liên kết đào tạo trình độ TCCN, cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh: “Giao Sở Giáo dục và Đào tạo làm đầu mối giúp UBND tỉnh quản lý hoạt động liên kết đào tạo...”. Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội, ở khoản 2, điều 4, chương I: “Giáo dục thường xuyên gồm vừa làm vừa học và đào tạo từ xa, là hình thức đào tạo theo các lớp học, khóa học tại cơ sở giáo dục đại học hoặc cơ sở liên kết đào tạo, phù hợp với yêu cầu của người học để thực hiện chương trình đào tạo ở trình độ cao đẳng, đại học”.

8 Bộ GDĐT, Chương 2,3,4,5, Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên.

Trong đó cơ sở quan trọng nhất là quyết định số 42/2008/QĐBGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 28/7/2008 về việc Ban hành quy định về liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Văn bản này quy định về liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, bao gồm: điều kiện, hồ sơ, quy trình thực hiện liên kết đào tạo; quyền hạn và trách nhiệm của các bên

15

tham gia liên kết đào tạo; quản lý hoạt động liên kết đào tạo; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. 1.1.3.2 Chủ thể và khách thể quản lý

Việc quản lý ở đây được hiểu bao gồm cả quản lý nhà nước (cấp độ vĩ mô) và quản lý chuyên môn thực hiện chuyên môn tại các Trung tâm (cấp độ vi mô). Trong đề tài này tác giả chú trọng đến vấn đề quản lý ở cấp độ nhà nước ở tầm vi mô tại TTGDTX tỉnh Đồng Nai. Cụ thể là việc thực hiện quản lý hoạt động liên kết đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học khi thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên lấy bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học tại TTGDTX tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên để có cơ sở và để dễ hiểu về công tác quản lý này phải hiểu về những quy định quản lý tầm vĩ mô, vì thế tác giả cũng đề cập đến những quy định liên quan đến công tác quản lý nhà nước liên kết đào tạo tại các TTGDTX.

Ở cấp độ quản lý nhà nước, quản lý trong hoạt động liên kết đào tạo tại các TTGDTX ở các mặt về điều kiện, hồ sơ, quy trình thực hiện liên kết đào tạo; quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia liên kết đào tạo; quản lý hoạt động trong quá trình liên kết đào tạo; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan thẩm định hồ sơ và ra quyết định cho phép liên kết đào tạo, khi một hoặc cả hai bên tham gia liên kết không có nhu cầu hoặc không đủ khả năng để tiếp tục thực hiện hợp đồng liên kết thì Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ là đơn vị xử lý vấn đề chấm dứt hoạt động liên kết.

Sở giáo dục và đào tạo là đầu mối giúp uỷ ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh tham gia quản lý hoạt động liên kết về các vấn đề Tổ chức kiểm tra, giám sát theo thẩm quyền việc thực hiện Quy định về liên kết đào tạo đối với các lớp liên kết đặt tại địa phương mình; phát hiện và báo cáo kịp thời về Bộ Giáo dục và Đào tạo những trường hợp vi phạm Quy định về liên kết đào tạo của các đơn vị tham gia liên kết tại địa bàn quản lý. Thẩm định các điều kiện đảm bảo chất lượng (theo yêu cầu thực hiện chương trình đào tạo đã đăng ký với Bộ Giáo dục và Đào tạo) và trực tiếp chỉ đạo, giám sát hoạt động liên kết đào tạo diễn ra tại địa phương mình. Sở giáo dục và đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền và trực tiếp giám sát các hoạt động liên kết đào tạo tại địa bàn; chủ động phối hợp với các cơ quan hữu quan, Bộ, ngành có trường chủ trì đào tạo đang tham gia liên kết đào tạo tại địa phương mình để tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý những sai phạm trong hoạt động liên kết đào tạo;

UBND cấp tỉnh, các Bộ, ngành trung ương có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát việc thực hiện liên kết đào tạo của các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý. Các Bộ, ngành có trường chủ trì đào tạo có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo để kiểm tra, theo dõi; tổ chức thanh tra hoặc tham gia thanh tra liên ngành, kiểm tra, giám sát các hoạt động liên kết đào tạo; hợp tác với các cơ quan chức năng để xử lý những sai phạm (nếu có) trong hoạt động liên kết đào tạo đối với những trường trực thuộc;

Các đơn vị chủ trì đào tạo thực hiện việc tự kiểm tra, giám sát và tham gia các đoàn thanh tra liên ngành trong việc kiểm tra, giám sát các hoạt động liên kết đào tạo. Nội dung thanh tra, kiểm tra, giám sát trong hoạt động liên kết được thực hiện theo quy định hiện hành về công tác thanh tra chuyên ngành về giáo dục9.

9BGDĐT, Quyết định số 42 /2008/QĐ-BGDĐT, ngày 28 tháng 7 năm 2008.

Vậy việc quản lý các TTGDTX tại Việt Nam theo pháp luật có phần hơi phức tạp nhưng được phân định rõ ở các luật, các nghị định hướng dẫn thi hành luật giáo dục. Chính vì thế mà tạo cơ sở để các bộ, ban ngành, các cấp liên quan phân định nhiệm vụ và hỗ trợ nhau trong việc hoàn thành các chính sách giáo dục của Nhà nước.

Quản lý vi mô

Quản lý vĩ mô

Nhà nước

Nội dung liên kết đào tạo

TTGDTXvà Đơn vị chủ trì

Công cụ: chính sách

Công cụ: các quy định

16

Hình 1.1: Chủ thể, đối tượng và công cụ quản lý (Nguồn: Tác giả)

Ở cấp độ quản lý vi mô là việc thực hiện công tác chuyên môn phối hợp giữa đơn vị chủ trì đào tạo và đơn vị phối hợp đào tạo như quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm mà các bên trong quá trình liên kết đào tạo; Về tổ chức tuyển sinh; Tổ chức đào tạo; về các hoạt động tổ chức tuyển sinh, đào tạo, thu học phí, lệ phí, cấp bằng tốt nghiệp; Quản lý người học trong suốt quá trình đào tạo; chuẩn bị cơ sở vật chất: phòng học, máy móc, thiết bị, học liệu, cơ sở thực hành cho hoạt động dạy học; bố trí ăn ở cho người dạy và người học; theo dõi, giám sát việc thực hiện kế hoạch đào tạo; Việc phối hợp, theo dõi, giám sát lẫn nhau của các bên tham gia liên kết đào tạo.

Đối tượng quản lý vi mô cụ thể tại TTGDTX tỉnh Đồng Nai là các giáo viên, sinh viên… trên địa bàn tỉnh và một số tỉnh lân cận. Và nội dung đào tạo trong các khóa liên kết. 1.2 Nội dung quản lý hoạt động liên kết đào tạo

Theo Điều 99 luật giáo dục 2005 thì Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục; Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác; Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ;

Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục; Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục; Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục; Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục; Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục; Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục; Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục.

Nhìn vào nội dung của quản lý Nhà nước về giáo dục cho thấy luật giáo dục đã xác định những quy phạm nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi tiêu cực, xác định rõ trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường, đặc biệt là các trường dạy nghề, các trường trung cấp, cao đẳng và đại học.

Luật Giáo dục năm 2005 đã bổ sung 2 nội dung quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm cả tổ chức quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục; thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục. Bổ sung nội dung quy định việc phân bổ ngân sách thể hiện được chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với giáo dục phổ cập, phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số.

Để chấn chỉnh kỷ cương trong ngành giáo dục, Luật bổ sung quy định về những việc nhà giáo không được làm nhằm bảo vệ và nâng cao uy tín của nhà giáo cũng như

17

thanh danh nghề dạy học; bổ sung một điều quy định các hành vi đặc thù người học không được làm.

Tăng cường quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục là yêu cầu cần thiết trong công tác quản lý. Luật Giáo dục năm 2005 xác định cơ sở giáo dục đại học được giao đào tạo ở trình độ nào thì thủ trưởng cơ sở đào tạo đó có trách nhiệm và thẩm quyền cấp văn bằng ở trình độ ấy nhằm góp phần nâng cao trách nhiệm về kết quả đào tạo, tạo điều kiện để xã hội đánh giá đúng sản phẩm giáo dục, cơ quan nhà nước không chịu trách nhiệm thay cho các cơ sở giáo dục về chất lượng đào tạo của chính cơ sở. Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục tập trung thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về giáo dục, kiểm tra, thanh tra, kiểm định chất lượng giáo dục, ban hành văn bản quản lý và tổ chức thực hiện pháp luật. Điều 42 được bổ sung thêm khoản 2 quy định về điều kiện để cơ sở giáo dục đại học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ. Khi đã được giao nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ thì thủ trưởng cơ sở đào tạo tiến sĩ có thẩm quyền cấp bằng tiến sĩ.

Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường cũng được sửa đổi, bổ sung nội dung về xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá; tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục. Luật cũng khẳng định quyền tự chủ của nhà trường trong việc cấp phát văn bằng, chứng chỉ; tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên, tham gia vào quá trình điều động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên.

Nội dung quản lý Nhà nước đối với các TTGDTX là việc thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ cho học viên. Quản lý việc tổ chức kiểm tra, cấp chứng chỉ cho các học viên của Trung tâm đã hoàn thành chương trình theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo hay không. Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.

Nói tóm lại, nội dung nhà nước quản lý đối với các TTNN là cách thức tổ chức và hoạt động của Trung tâm bao gồm: điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp phép, ngừng hoạt động, hoạt động; tổ chức và nhân sự; giáo viên; học viên; tài chính và tài sản của Trung tâm; thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm.

Đối quản lý tại các Trung tâm trong quá trình đào tạo được thực hiện theo Quyết định số 42 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy định này đề cập đến hai hoạt động quản lý chính là:

Quản lý về hoạt động dạy học: Khi các trường liên kết cử giáo viên đến giảng dạy, Trung tâm yêu cầu xuất trình giấy báo giảng. Giấy báo giảng gồm các thông tin về giảng viên, môn học, số tiết của môn học, số bài thi và kiểm tra của môn học, thời gian thực hiện môn học. Trong quá trình học, Trung tâm theo dõi quá trình dạy thông qua nhiều kênh thông tin như qua giáo viên chủ nhiệm, qua những người phục vụ, nắm bắt tâm tư nguyện vọng, diễn biến tâm lý để điều chỉnh kịp thời. Kết thúc môn học, Trung tâm xác nhận số tiết giảng viên lên lớp theo thực tế, nhận xét quá trình thực hiện quá trình dạy của giảng viên, lưu một bản sao.

Hoạt động học của sinh viên: Khi có lịch học từ các trường liên kết, Trung tâm thông báo tới sinh viên, bố trí phòng học, bố trí các trang thiết bị đồ dùng dạy học cần thiết cho giảng viên lên lớp. Trong quá trình học, Trung tâm theo dõi, đánh giá sự chuyên cần của sinh viên, kết hợp với giảng viên nhận xét sự chuyên cần của sinh viên, quyết định những sinh viên không đủ điều kiện dự thi hết môn.

Vậy các quy định về các cấp quản lý, các khách thể và chủ thể quản lý được quy định khá rõ ràng, tuy nhiên có một số chồng chéo, khó hiểu dễ gây hiểu nhầm. Tuy nhiên về cơ bản các quy định trên đã tạo được một cơ sở pháp lý để các TTGDTX tổ chức công tác liên kết đào tạo một cách hợp pháp.

18

1.3 Phương thức quản lý

Ở tầm vi mô thì công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại TTGDTX có thể phân hai đối tượng chủ yếu trong quá trình liên kết, hai đối tượng này ảnh hưởng trực tiếp đến thành công của công tác liên kết đào tạo đó là TTGDTX phối hợp liên kết đào tạo và đơn vị chủ trì đào tạo.

Với đơn vị phối hợp đào tạo (TTGDTX): Sử dụng phương thức quản lý là hệ thống văn bản pháp quy, quy chế bao gồm điều lệ Trung tâm Giáo dục thường xuyên, các văn bản của UBND tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai cho phép tổ chức các lớp hình thức vừa làm vừa học, các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho ngành và cho xã hội.

Với đơn vị chủ trì đào tạo: Sử dụng phương thức quản lý là hệ thống văn bản cho phép đào tạo các ngành nghề theo hình thức vừa làm vừa học, văn bản giao chỉ tiêu đào tạo hình thức vừa làm vừa học, chương trình, giáo trình đào tạo đã được thẩm định.

Lực lượng tham gia quá trình quản lý chủ yếu là cán bộ giáo viên của Trung tâm. Ngoài ra, Trung tâm kết hợp với các giảng viên trực tiếp giảng dạy để thực hiện quá trình quản lý. Giảng viên đến giảng tại Trung tâm là người tiếp xúc với đều đặn hàng ngày, nên khi có những biểu hiện bất thường của sinh viên thì nắm bắt kịp thời. Phối hợp với giảng viên giảng dạy tại các lớp là biện pháp quản lý rất hiệu quả. 1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động liên kết đào tạo 1.4.1 Yếu tố khách quan

Yếu tố khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo của các TTGDTX bao gồm các quy định của pháp luật về quản lý hoạt động liên kết đào tạo. Nhu cầu về hoạt động liên kết đào tạo tại TTGDTX. Mối quan hệ của TTGDTX và các trường liên kết. Các quy định của pháp luật về quản lý hoạt động liên kết đào tạo thông thường được thay đổi theo thời gian để phù hợp với những thay đổi thực tế như nhu cầu học, điều kiện cơ sở vật chất, thay đổi thể chế chính trị, sự chấp nhận của các doanh nghiệp sử dụng nhân lực sau đào tạo… sẽ ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo của các TTGDTX một cách khách quan. 1.4.2 Yếu tố chủ quan Yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động liên kết đào tạo gồm nhân sự quản lý, trình độ nhân sự quản lý và thực hiện đào tạo; Những hình thức quản lý và sự đầu tư cho hoạt động dạy học, tổ chức của các Trung tâm. Các vấn đề này ảnh hưởng xuất phát từ nội bộ quản lý của các TTGDTX đến hoạt động liên kết đào tạo một cách trực tiếp.

19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH ĐỒNG NAI

2.1. Sơ lược về giáo dục tỉnh Đồng Nai 2.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Đồng Nai Tỉnh Đồng Nai phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh, nằm ở vị trí Trung tâm Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là vùng kinh tế phát triển năng động nhất Việt nam.

Tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành chánh với 171 đơn vị xã, phường, thị trấn, gồm thành phố Biên Hòa là Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh, thị xã Long Khánh và 9 huyện là Long Thành, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu, Trảng Bom, Thống Nhất, Định Quán, Tân Phú, Cẩm Mỹ, Xuân lộc.

Diện tích tự nhiên Đồng Nai 5.907,1 km2, dân số khoảng 2,56 triệu người,. trong đó: Dân số khu vực thành thị 33,23%, khu vực nông thôn 66,73%; 10

Những điều kiện về kinh tế và xã hội của tỉnh là tiền đề để công tác giáo dục nói chung và GDTX nói riêng phát triển, cung cấp cho tỉnh những lao động có trình độ, đáp ứng nhu cầu mới trong nền kinh tế phát triển nhanh chóng của tỉnh. 2.1.2 Kết quả giáo dục tỉnh Đồng Nai Hàng năm các trường trong hệ thống công lập và ngoài công lập tại tỉnh Đồng Nai đào tạo với quy mô hàng trăm nghìn học sinh cấp trung học phổ thông trở xuống. Riêng 2 cấp THCS và THPT trong năm học 2013-2014 là 224.628 học sinh. Đây là nguồn học sinh dồi dào cho TTGDTX tỉnh Đồng Nai (bảng 2.1). Đối với GDTX, tỉnh Đồng Nai đã có phòng GDTX hoạt động hiệu quả mang lại kết quả thiết thực trong xoá nạn mù chữ, giáo dục bổ túc và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, kỹ năng; các hình thức vừa học vừa làm, học từ xa, tự học có hướng dẫn, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi đối tượng. Bảng 2.1: Quy mô Học sinh của các trường THCSvà THPT trong năm học 2013-2014 tỉnh Đồng Nai

TT Đơn Vị THCS THPT

CL NCL NCL

1 2 3 4 Tp. Biên Hòa Tx. Long Khánh H. Tân Phú H. Vĩnh Cửu 42.081 8.677 10.781 7.388 2.990 82 139 0 CL 12.480 2.247 4.396 3.172 7.975 5.195 874 172

H. Định Quán 13.167 0 5.269 559 5

6 7 H. Trảng Bom H. Thống Nhất 14.241 9.460 3.853 4.325 523 0 3.689 0

8 H. Cẩm Mỹ 8.968 4.700 0 0

9 H. Long Thành 10.815 5.101 0 0

10Điều kiện tự nhiên xã hội, http://dpidongnai.gov.vn/Pages/vitridialy.aspx, [

truy cập ngày 15/9/2014].

14.333 0 10 H. Xuân Lộc 4.441 1.651

20

11 H. Nhơn Trạch 7.831 0 3.053 0

(Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai)

TỔNG CỘNG: 147.742 3.734 53.037 20.115

Ngoài ra, đội ngũ CB-CNV trong các ban ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang, người lao động... hàng năm theo học để nâng cao trình độ, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của công việc cũng rất đông.

Về cơ sở đào tạo thì tỉnh Đồng Nai có hệ thống các trường tại các huyện, thành phố và Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai. Những yếu tố về nhu cầu, điều kiện cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý đã tạo nên một môi trường chung phù hợp cho sự phát triển của hệ thống GDTX. Về GDTX đã dần cũng cố nội lực phục vụ cho các chương trình giáo dục mà các Trung tâm, song song với việc hoàn thành nhiệm vụ cơ bản này các Trung tâm TTGDTX tại tỉnh Đồng Nai luôn tích cực cũng cố năng lực, mở rộng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng để chuẩn bị thực hiện các hoạt động liên kết đào tạo các trình độ cao hơn với các trường có uy tín trong nước và cả nước ngoài. 2.2. Lịch sử hình thành và phát triển TTGDTX tỉnh Đồng Nai 2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển

Trung tâm GDTX Tỉnh Đồng Nai được thành lập năm 1996 theo quyết định số 375/QĐ.UBT ngày 13/02/1996 của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy chế của Bộ giáo dục và đào tạo.

Chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm là tổ chức các hoạt động đào tạo không chính qui cho các đối tượng công chức, người lao động và mọi thành phần xã hội có nhu cầu học tập. Cụ thể GDTX tỉnh Đồng Nai có những chức năng nhiệm vụ trong tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục: chuyển giao công nghệ; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin - truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ; giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông. Và điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề xuất với sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng.

Công tác quản lý và công tác chuyên môn tại Trung tâm GDTX Tỉnh Đồng Nai luôn được coi trọng, đặc biệt chú ý đến hoạt động thi đua học tốt của học viên. Cơ sở vật chất và trang thiết bị được đầu tư phục vụ tốt cho việc nâng cao chất lượng giáo dục. Cán bộ, giáo viên, công nhân viên của Trung tâm có nhiều kinh nghiệm và nhiệt tình trong công tác nên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Với những khả năng và kinh nghiệm của gần 20 năm không ngừng phát triển, với tính phù hợp và hiệu quả cao trong công tác giảng dạy và đào tạo của mình, Trung tâm đã luôn có được sự tin cậy của phụ huynh và học viên. Đây chính là yếu tố tạo nên một vị trí chủ đạo của Trung tâm ở trong Tỉnh cũng như các tỉnh lân cận với tốc độ phát triển ngày càng cao của Trung tâm qua các năm. Trung tâm đã và đang thực hiện trách nhiệm với sứ mạng là "Trung tâm học tập của mọi người" để trang bị cho các học viên một nền tảng kiến thức vừa đủ để bước vào đời và tiếp tục học tập sau này. TTGDTX Tỉnh Đồng Nai ngày càng hoàn thiện bản thân về cơ sở hạ tầng, đội ngũ nhân lực và quan trọng nhất là trong định hướng phát triển của Trung tâm luôn tập trung cho chất lượng dạy – học. 2.2.2 Cơ sở vật chất

Qua thời gian hoạt động cơ sở vật chất của TTGDTX tỉnh Đồng Nai được xây dựng và hoàn thiện qua các thời kỳ. Hiện nay cơ sở vật chất phục vụ công tác dạy học

21

của Trung tâm gồm đầy đủ các công trình, phương tiện như phòng học, giảng đường, hội trường, phòng làm việc của GV, thư viện, máy tính và xe di chuyển. Cụ thể:

+ Phòng học: 12 phòng (50-60 chỗ ngồi) + Giảng đường: 06 giảng đường phòng (100-150 chỗ ngồi) + Hội trường: 01 hội trường (250 chỗ ngồi) + Số phòng làm việc: 7 phòng + Thư viện: 1 phòng + Số đầu máy vi tính: 120 máy + Xe cộ : 1 xe 7 chỗ đưa đón GV từ TP. Hồ Chí Minh Trung tâm hiện có diện tích gần 5.500m2, với các hạng mục: khối lớp học (4 tầng), khối giảng đường (4 tầng), khối hành chính (3 tầng), sân thể dục - thể thao, nhà để xe cùng các công trình phụ khác. Tổng kinh phí dự án đầu tư cho Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh gần 100 tỷ đồng, trong đó chi phí xây dựng cơ bản là hơn 62,5 tỷ đồng. Công trình đã phục vụ cho mục đích mở rộng quy mô đào tạo cho Trung tâm trong đó một phần không nhỏ sử dụng có mục đích đào tạo các khóa liên kết với các trường TCCN, cao đẳng, đại học trong nước.

Với cơ sở vật chất và trang thiết bị như trên, TTGDTX tỉnh Đồng Nai đáp ứng đủ năng lực cho công tác đào tạo các chương trình mà ngành giáo dục giao cho và còn có khả năng tổ chức các lớp liên kết đào tạo chuyên ngành với các trường trung cấp chuyên nghiệp, học viện, trường cao đẳng, trường đại học theo các hình thức giáo dục chính quy, vừa làm vừa học và văng bằng 2. 2.2.3 Tình hình nhân sự TTGDTX tỉnh Đồng Nai tuân thủ về quy định nhận sự cấp cao của quy chết tổ chức và hoạt động của Trung tâm giáo dục thường xuyên. Hiện Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai có 1 giám đốc và 2 phó giám đốc. Gần 20 cán bộ, giáo viên, chuyên viên. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai gồm có phòng tổ chức hành chính, phòng quản lý đào tạo, tổ tạp vụ và tổ bảo vệ. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các phòng, tổ này do giám đốc Trung tâm quy định và phù hợp với năng lực chuyên môn cũng nhưc các quy định pháp luật khác.

Để đáp ứng nhu cầu của công tác mở rộng hoạt động giáo dục và đào tạo tại Trung tâm và sự mở rộng hiện có về cơ sở hạ tầng (thành lập cơ sở mới) TTGDTX Tỉnh Đồng Nai đang tiến hành xem xét và tuyển dụng thêm các vị trí mới như giáo viên, chuyên viên, kỹ thuật viên, kế toán… để vận hành cơ sở cũng như tạo tiền đề phụ vụ và mở thêm các lớp liên kết đào tạo với các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học trong và ngoài nước.

GIÁM ĐỐC

P GIÁM ĐỐC

P GIÁM ĐỐC

Tổ tạp vụ

Tổ bảo vệ

Phòng quản lý đào tạo

Phòng tổ chức hành chính

22

Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức (Nguồn: P. Tổ Chức Hành Chính)

2.2.4 Tình hình liên kết đào tạo của TTGDTX tỉnh Đồng Nai

Với nội lực của mình kết hợp với nhu cầu học tập của xã hội thì TTGDTX Tỉnh Đồng Nai đã xem vấn đề liên kết đào tạo ở những trình độ cao hơn với với các trường đại học có uy tín trong và ngoài nước là một xu hướng tất yếu. Liên kết đào tạo mang đến những lợi ích thiết thực là vừa mang lại lợi nhuận cho Trung tâm, vừa đáp ứng nhu cầu của người học. Vì thế, hiện nay TGDTX Tỉnh Đồng Nai đã thực hiện chương trình liên kết đào tạo với rất nhiều trường như ĐH Đà Lạt, ĐH Nông - Lâm TP. Hồ Chí Minh, ĐH Kinh tế-Luật TP. HCM, ĐH Tây Nguyên, ĐH Mỏ - Địa chất Hà Nội. Và danh sách này có thể còn mở rộng vì Trung tâm hiện đang trong quá trình thương lượng với một số đối tác giáo dục khác để mở thêm các lớp liên kết đào tạo sau khi có được kinh nghiệm thực hiện ở một số ngành hiện tại.

Với tốc độ phát triển của các lớp liên kết đào tạo như hiện nay thì sự phát triển của cơ sở hạ tầng của Trung tâm (sau khi cơ sở mới đi vào hoạt động) đã đáp ứng được nhu cầu của hoạt động này, tuy nhiên về số lượng giáo viên và nguồn nhân lực nói chung còn có một số hạn chế, chưa đáp ứng đủ yêu cầu trong thời gian ngắn. Vì thế trong thời gian này Trung tâm phải phối hợp với một số trung Trung tâm khác trên địa bàn tỉnh để đám bảo chất lượng của hoạt động liên kết.

23

TT

Ngành học

Học tại

TT Lớp

Trường Đào tạo & cấp bằng

trúng tuyển

NĂM HỌC

SỈ SỐ hiện nay

ĐANG THỰC HIỆN

1

ĐH ĐÀ LẠT

1 2 3 4

Trung tâm Trung tâm Trung tâm Trung tâm

101 78 83 109

2011-2015 2012-2016 2013-2017 2014-2018

84 77 69 109

HK 6 HK 5 HK 3 HK 2

5

Trung tâm

69

2014-2019

69

HK 2

Luật K35 Luật K36 Luật K37 Luật K38 BÁC SĨ THÚ Y

6

Nông học K3

TTDN Xuân Lộc

60

2011-2015

50

HK 6

2

ĐH NÔNG - LÂM TP. HCM

7

Chăn nuôi K3 TTDN Xuân Lộc

59

2011-2015

45

HK 6

8

TTDN Định Quán

83

2011-2016

70

HK 5

3

ĐH TÂY NGUYÊN

BÁC SĨ THÚ Y K2

9

Luật học K1

GDTX Long Khánh

114

2012-2016

89

HK 4

ĐH TRÀ VINH

4

10

Kế toán VB2 GDTX Xuân Lộc

35

2013-2015

32

HK 3

11

Trung tâm

87

2013-2017

77

HK 3

5

Công tác Xã hội K1

ĐH LAO ĐỘNG - XÃ HỘI (CS II)

12

Trung tâm

114

2013-2016

109

HK 3

6

ĐH KINH TẾ - LUẬT TP.HCM

13

Trung tâm

112

2014-2017

91

HK 1

Luật - Kinh tế VB2 Luật - Dân sự VB2

14

Trung tâm

32

2014-2015

32

HK2

7

ĐHSP TP HỒ CHÍ MINH

CN GD ĐẶC BIỆT (VB2)

15

Trung tâm

54

2011-2015

45

HK7

8

ĐH MỎ- ĐỊA CHẤT Hà Nội

16

GDTX Nhơn Trạch

98

2013-2017

91

HK4

MỞ

ĐH TP.HCM

9

17

GDTX Nhơn Trạch

17

2013-2016

17

HK4

KHAI THÁC MỎ K56 Kinh tế - Luật (Từ xa) Luật - Kinh tế (Bằng 2)

cấp

cấp Nam,

18

TTDN Xuân Lộc

30

2014-2016

30

HKI

10

Trung Dược K2

Trung Phương Đắc Nông

TỔNG SỐ HV, SV

1325

1186

Bảng 2.2: Các lớp liên kết đào tạo Đại học và THCN tại Trung tâm, tháng 4/2015

Hiện nay Trung tâm đang liên kết với 9 trường Đại học và 1 trường THCN trong nước (bảng 2.2) với 17 lớp đào tạo các chuyên ngành khác nhau. Mười lớp ĐH được học tập tại Trung tâm, ba lớp đặt tại Trung tâm dạy nghề (TTDN) huyện Xuân Lộc (Gồm hai lớp ĐH và một lớp Trung cấp), một lớp ĐH đặt tại TTGDTX thị xã Long Khánh, một lớp đặt tại TTDN huyện Định Quán. Với sự liên kết đào tạo này sau khi kết thúc các khóa học Trung tâm có thể đào tạo hơn một nghìn học viên các ngành. 2.2.5 Thành tựu đạt được Với nỗ lực của tập thể cán bộ giáo viên của TTGDTX tỉnh Đồng Nai, ngay từ những năm đầu thành lập cán bộ, giáo viên, nhân viên của Trung tâm đã nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình trong hệ thống giáo dục, nhất là trong việc nâng cao dân trí đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi tầng lớp nhân dân. Bằng tinh thần đoàn kết vượt qua chính

24

mình của đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, Trung tâm ngày càng mở rộng quy mô đào tạo, tiến hành dạy thêm một số ngành nghề mới.

Thời gian qua Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai đã tổ chức quản lý học viên có chất lượng và hiệu quả, đồng thời giúp học viên có sự nhìn nhận rõ nét hơn về định hướng nghề nghiệp cho bản thân sao cho phù hợp với năng lực bản thân và thị trường lao động của tỉnh trong thời kỳ CNH-HĐH. Trung tâm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao về chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục thường xuyên như chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học; cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ; Chương trình đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ; Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm Vừa làm vừa học; văn bằng 2...

Trong những năm gần đây, Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai đã đi vào ổn định và phát triển. Trung tâm đã và đang liên kết với các trường trường như ĐH Đà Lạt, ĐH Nông - Lâm thành phố Hồ Chí Minh, ĐH Tây Nguyên, ĐH Mỏ - Địa chất Hà Nội, ĐH Kinh tế - Luật TP.HCM… mở các ngành nghề như: luật học, nông học, chăn nuôi, thú y, khai thác mỏ, dược… với các trình độ khác nhau và theo các hệ đạo tạo khác nhau là trung cấp chuyên nghiệp và đại học. Với sự mở rộng ngành và nâng cao chất lượng giảng dạy dẫn đến số học viên theo học ngày một đông, hàng năm Trung tâm mở từ 3 đến 4 lớp. Đa số học viên được đào tạo tại Trung tâm đã có công việc ổn định đúng với ngành nghề đã được học, nhiều người đã có thu nhập khá cao. Ngoài ra, Trung tâm còn đào tạo các lớp chuyên đề cho cán bộ địa phương, cho ngành. 2.3. Thực trạng quản lý hoạt động LKĐT của TTGDTX tỉnh Đồng Nai 2.3.1 Quản lý về công tác tổ chức liên kết đào tạo Mọi hoạt động giáo dục dưới bất kể hình thức nào đều phải nằm dưới sự quản lý của Ngành, các hình thức liên kết đào tạo giữa các trường đại học, cao đẳng, TCCN với các TTGDTX cũng không loại trừ, tuy nhiên mức độ quản lý có khác nhau.

Với hoạt động liên kết tại các TTGDTX thì đã được khẳng định tại điều 9 Quyết định số 42/2008/QĐBGDĐT về quy trình thực hiện liên kết đào tạo là đơn vị chủ trì đào tạo sau khi hoàn thiện hồ sơ theo quy định, gửi toàn bộ hồ sơ về BGDĐT để đăng ký thực hiện liên kết đào tạo. BGDĐT sẽ thẩm định hồ sơ và ra quyết định cho phép liên kết đào tạo (nếu đáp ứng được các điều kiện) trường hợp cơ sở giáo dục không đáp ứng đủ các điều kiện quy định thì thông báo bằng văn bản cho cơ sở giáo dục về việc không cho phép liên kết đào tạo. Để thực hiện điều này thì Bộ phải giao quyền cho UBND tỉnh quyết định về cở cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý của cơ sở phối hợp liên kết và tham mưu tờ trình của UBND tỉnh gửi BGDĐT trong đề nghị cho phép liên kết11.

thành khóa học. Chính vì vậy mà

11 UBND tỉnh Đồng Nai, Điều 2, Văn bản 5751/ UBND-VX, về việc chấn chỉnh công tác liên kết đào tạo trình độ TCCN, cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh.

Trong việc liên kết đào tạo thì đơn vị chủ trì đào tạo chịu trách nhiệm về chương trình đào tạo, danh sách dự kiến giảng viên (giáo viên) và cán bộ tham gia quản lý và giảng dạy, đây là những yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo chất lượng học trong Quyết định số sau khi hoàn 42/2008/QĐBGDĐT này thì việc thiết lập hồ sơ liên kết đào tạo do đơn vị chủ trì đào tạo thực hiện sẽ đảm bảo trách nhiệm của bên chủ trì đào tạo. Khi bước cấp phép được thẩm định tốt thì sẽ tạo tiền đề để công tác quản lý về tổ chức liên kết đào tạo được thực hiện bởi UBND và Sở giáo dục và đào tạo (SGDĐT) diễn ra dễ dàng hơn. Quyết định này cho thấy đối với việc quản lý Nhà nước về tổ chức liên kết đào tạo giữa các trường chủ trì đào tạo và trường phối hợp đào tạo chỉ được thực hiện ở việc

25

cấp phép cho phép liên kết đào tạo của BGDĐT. Ngoài ra không có quá trình thành lập, sáp nhập, chia tách, đình chỉ hoạt động, giải thể như những Trung tâm thành lập mới vì đây thực chất là quá trình liên kết hợp tác giữa hai cơ quan đã có tư cách pháp nhân, được Nhà nước công nhận hoạt động. Vậy vấn đề quản lý về tổ chức liên kết đào tạo được thực hiện chủ yếu là mối quan hệ, mối ràng buộc về quyền hạn, trách nhiệm giữa các đơn vị liên kết là các trường các đại học, học viện, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng và Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai. Theo điều 5, Quyết định số 42/2008/QĐBGDĐT quy định:

Đối với liên kết đào tạo trình độ cao đẳng, đại học thì đơn vị chủ trì đào tạo bao gồm các đại học, học viện, trường đại học, trường cao đẳng đảm bảo các điều kiện quy định. Đơn vị phối hợp đào tạo bao gồm các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, các đại học, học viện và Trung tâm giáo dục thường xuyên các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Đối với liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp thì đơn vị chủ trì đào tạo bao gồm các cơ sở giáo dục được giao nhiệm vụ đào tạo trung cấp chuyên nghiệp đảm bảo các điều kiện quy định. Đơn vị phối hợp đào tạo bao gồm các cơ sở giáo dục trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh trở lên.

Theo quy định này thì Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai có quyền thực hiện liên kết đào tạo với các trường đại học, học viện, trường đại học, trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đảm bảo các điều kiện quy định để thực hiện các trình độ độ cao đẳng, đại học và trung cấp chuyên nghiệp. Đây là một sự thuận lợi cho Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai so với các Trung tâm GDTX cấp huyện trong vấn đề đa dạng hóa trình độ đào tạo trong liên kết để thu hút học viên ở các địa phương trong tỉnh có nhu cầu. Cũng chính vì thế mà hiện nay Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai đã, đang và sẽ tiếp tục tỗ chức thêm nhiều lớp liên kết đào tạo với những trình độ cao đẳng, đại học và trung cấp chuyên nghiệp.

Với cơ sở pháp lý này TTGDTX tỉnh Đồng Nai trong những năm qua nhận thấy nhu cầu học tập của xã hội trong địa bàn tỉnh đã thực hiện thương thảo các hợp đồng liên kết với các trường đại học và TCCN để thực hiện hàng chục lớp liên kết đào tạo dưới hình thức đào tạo vừa học vừa làm hay văn bằng 2. Trong các hợp đồng được ký kết giữa TTGDTX tỉnh Đồng Nai và các đơn vị chủ trì đào tạo đều tuân thủ theo các quy định mối quan hệ, mối ràng buộc về quyền hạn, trách nhiệm của Trung tâm. Công tác quản lý về công tác tổ chức liên kết đào tạo của đơn vị chủ trì đào tạo:

Đơn vị chủ trì đào tạo chịu trách nhiệm đảm bảo rằng đã có văn bản cho phép mở ngành đào tạo đối với ngành dự định liên kết; Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt chỉ tiêu đào tạo; Đảm bảo yêu cầu về đội ngũ giảng viên (giáo viên), cán bộ quản lý, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy theo quy định, phù hợp với mục tiêu đào tạo của khóa học. Chịu trách nhiệm thực hiện hồ sơ liên kết đào tạo gửi BGDĐT xin phép thực hiện liên kết đào tạo, chịu trách nhiệm toàn diện về liên kết đào tạo như xây dựng chỉ tiêu, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo phù hợp với năng lực đào tạo của đơn vị mình, các điều kiện đảm bảo thực hiện chương trình, đánh giá công nhận kết quả và cấp bằng tốt nghiệp cho người học; thực hiện các quy định hiện hành của Nhà nước về thu học phí, lệ phí; chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo của các lớp liên kết; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn đặt lớp về tất cả các hoạt động liên kết đào tạo. Cụ thể:

Về tổ chức tuyển sinh, gồm: Thông báo công khai và đầy đủ các thông tin về kỳ tuyển sinh trên các phương tiện thông tin đại chúng về: số lượng, đối tượng, vùng tuyển, hình thức, lệ phí, địa điểm, lịch và những thông tin có liên quan như: ngành nghề, thời gian, hình thức, học phí, tiền mua tài liệu và các phí bảo hiểm (nếu có); Tổ

26

chức tuyển sinh theo các quy định hiện hành về công tác tuyển sinh đối với từng trình độ đào tạo.

Về tổ chức đào tạo, gồm: Xây dựng chương trình phù hợp với mục tiêu đào tạo; đáp ứng các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo (đội ngũ giảng viên hoặc giáo viên, cán bộ quản lý, giáo trình, tài liệu, các thiết bị phục vụ dạy học); lập kế hoạch thực hiện, phân công giảng dạy, đánh giá, công nhận kết quả học tập và rèn luyện, cấp phát văn bằng, chứng chỉ.

Chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục tại địa phương về các hoạt động tổ chức tuyển sinh, đào tạo, thu học phí, lệ phí, cấp bằng tốt nghiệp. Quản lý người học trong suốt quá trình đào tạo theo các quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đảm bảo quyền lợi học tập chính đáng cho người học.

Về quyền hạn thì đơn vị chủ trì đào tạo được hoàn toàn chủ động trong việc tổ chức quá trình đào tạo gồm: xây dựng chương trình, chuẩn bị các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo; lập kế hoạch đào tạo; tổ chức tuyển sinh; phân công giảng dạy, hợp đồng thỉnh giảng; ra đề, chấm thi/kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện; xét công nhận kết quả và cấp bằng tốt nghiệp cho người học. Ngoài những đơn vị chủ trì đào tạo thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn của mình một cách có trách nhiệm thì có một số vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện liên kết đào tạo với một số đơn vị chủ trì đào tạo khác. Với các quyền hạn và trách nhiệm như trên thì đơn vị chủ trì đào tạo hầu như có quyền quyết định đến chất lượng đào tạo, chiếm quyền chủ động trong công tác liên kết với TTGDTX tỉnh Đồng Nai. Việc này rất dễ xảy ra vấn đề tiêu cực như đơn vị chủ trì đào tạo không đảm bảo được chất lượng và số lượng giảng viên, không tuân thủ chương trình giảng đã đề ra… gây thiệt hại cho uy tín của Trung tâm TTGDTX tỉnh Đồng Nai nói riêng nếu thực hiện vấn đề liên kết dẫn đến tình trạng công tác đào tạo không theo một quy hoạch, kế hoạch tập trung thống nhất, nên đã xảy ra tình trạng mở lớp không đúng quy trình, quản lý dạy và học còn lỏng lẻo, chất lượng đào tạo thấp12. Trong khi đó Trung tâm TTGDTX tỉnh Đồng Nai không có cơ sở pháp lý để thực hiện việc kiểm tra, quản lý chất lượng của các đơn vị chủ trì đào tạo dù được thực hiện tại cơ sở của Trung tâm. Công tác quản lý về công tác tổ chức liên kết đào tạo của Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai:

Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai chịu trách nhiệm xác định được nhu cầu đào tạo về như số lượng, ngành nghề và trình độ đào tạo; Xác định được địa điểm đặt lớp phải là cơ sở của Trung tâm và dưới sự quản lý của Trung tâm. Đảm bảo yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết bị cần thiết để phục vụ dạy học, thực hành, thực tập, đảm bảo môi trường sư phạm, có đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với mục tiêu đào tạo của khóa học.

12 Văn bản số 146/UBT, Về việc quản lý thống nhất các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng theo hình thức giáo dục không chính quy, ban hành ngày 14/01/2002.

Ngoài ra Trung tâm chịu trách nhiệm phối hợp với đơn vị chủ trì đào tạo để chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất: phòng học, máy móc, thiết bị, học liệu, cơ sở thực hành cho hoạt động dạy học; bố trí ăn ở thuận tiện cho người dạy và người học; Phối hợp theo dõi, giám sát việc thực hiện kế hoạch đào tạo, nền nếp dạy- học đối với các lớp liên kết đặt tại cơ sở mình và phản ảnh kịp thời với đơn vị chủ trì đào tạo những biểu hiện sai phạm để kịp thời chấn chỉnh; Phối hợp với đơn vị chủ trì đào tạo để thực hiện chế độ chính sách đối với người học (nếu có), quản lý người học trong suốt quá trình đào tạo theo quy chế hiện hành. Duy trì việc đảm bảo an ninh, trật tự, vệ sinh lớp học và môi trường xung quanh và có trách nhiệm liên hệ với đơn vị y tế khi có những sự cố xảy ra đe dọa đến sức khoẻ người dạy và người học.

27

Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai được quyền đề xuất đơn vị chủ trì đào tạo bổ sung vào chương trình đào tạo những nội dung thiết thực, phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động; được cử đại diện tham gia quản lý, nhận xét, đánh giá người dạy và người học theo thỏa thuận trong hợp đồng liên kết đào tạo.

Trong hợp đồng còn quy định rằng hai bên liên kết đào tạo có trách nhiệm thực hiện các cam kết trong hợp đồng liên kết và các thỏa thuận khác giữa hai bên; phối hợp, theo dõi, giám sát lẫn nhau về các vấn đề thực hiện các quy chế về tuyển sinh, đào tạo; thực hiện chương trình, quản lý quá trình dạy-học; đảm bảo chất lượng đào tạo, đảm bảo quyền lợi cho người dạy, người học và việc thực hiện hợp đồng liên kết trong suốt quá trình thực hiện khoá đào tạo.

Những vấn đề cơ bản hiện nay hầu hết được Trung tâm và các đơn vị chủ trì đào tạo thực hiện tốt, nhất là trong khi thực hiện ký kết các hợp đồng liên kết đào tạo. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện có một số khó khăn và phát sinh khiến cho việc thực hiện quy định về tổ chức liên kết đào tạo. Đó là trong vấn đề địa điểm đặt lớp, theo Quyết định số 42/2008/QĐBGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 28/7/2008 về việc Ban hành quy định về liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Ở mục b, khoản 2, điều 7, chương II: “Đối với các khóa liên kết đào tạo cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng, đại học, địa điểm đặt lớp phải là các trường, các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh”. Trong khi đó, hiện có 7 lớp đặt ngoài Trung tâm. Lý do bởi các lớp trong diện liên kết đào tạo đa số là hệ vừa học vừa làm (VHVL), chính vì vậy để đến được Trung tâm thì người học phải trải qua một quảng đường rất xa, các học viên không đủ thời gian sau khi kết thúc giờ làm việc. Nếu chỉ sử dụng cơ sở tại Trung tâm thì tuyển sinh không đủ số lượng học viên hoặc các học viên không tham gia học đầy đủ các buổi học gây giảm chất lượng học tập. Vì vậy 7 lớp này việc học tại Trung tâm là không thể.

Để giải quyết mâu thuẫn này nhằm đảm bảo được số lượng học viên và chất lượng đào tạo trong các lớp liên kết Trung tâm đã thực hiện ký hồ sơ pháp lý với trường ĐH, THCN thực hiện đào tạo chính tại Trung tâm, với những lớp mà học viên ở xa Trung tâm thực hiện việc ký kết thuê cơ sở vật chất ở các TTGDTX và TTDN ở các huyện, TX để đặt các lớp này. Nhằm thực hiện được việc này Trung tâm đã có yêu cầu các cơ sở đặt lớp tham mưu UBND các huyện, thị xã có công văn đề nghị mở lớp. Tuy nhiên việc làm này cũng rất mơ hồ vì xem qua các văn bản quy phạm pháp luật liên quan thì không tìm thấy sự chính danh nào cho việc ký “trung gian”, vì thế. Việc đặt lớp bên ngoài cơ sở của Trung tâm trong thời gian qua một phần do cơ sở vật chất của Trung tâm chưa đầy đủ trong khi cơ sở mới với quy mô lớn hơn chỉ mới đưa vào hoạt động năm 2013. Việc đưa cơ sở mới vào hoạt động sẽ giúp Trung tâm có điều kiện thực hiện việc đưa các lớp bên ngoài Trung tâm về thực hiện đào tạo tại cơ sở của Trung tâm. Vấn đề này cần có thời gian thực hiện bởi các hợp đồng thuê mướn cơ sở bên ngoài còn thời hạn và việc di chuyển nơi đào tạo sẽ ảnh hưởng đến việc học tập của các học viên. Giữa lý luận (42/2008/QĐBGDĐT) với thực tiễn (7 lớp đặt ở ngoài Trung tâm) là vấn đề khuyến nghị để giải quyết. 2.3.2 Quản lý về công tác tuyển sinh Theo quy định thì trước khi thực hiện việc ký kết hợp đồng và xin phép liên kết đào tạo thì Trung tâm phải thực hiện việc xác định được nhu cầu đào tạo về số lượng, ngành nghề và trình độ đào tạo thông qua việc chủ động điều tra nhu cầu về nguồn nhân lực của thị trường lao động, nhu cầu được đào tạo của người học. Từ đó cung cấp cho đơn vị chủ trì đào tạo thực hiện hồ sơ pháp lý trong xin cấp phép liên kết đào tạo. Và cuối cùng là thực hiện tuyển sinh.

Hồ sơ pháp lý

Tuyển sinh

Điều tra nhu cầu người học

28

Hình 2.2: Quy trình tuyển sinh tại TTGDTX tỉnh Đồng Nai (Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

Trong quy trình này thì bước Điều tra nhu cầu người học là bước quyết định trong toàn bộ quy trình này, và đơn vị thực hiện là TTGDTX tỉnh Đồng Nai. Các nguồn điều tra mà Trung tâm thực hiện là thường là tìm hiểu các trường ĐH có thông báo chiêu sinh trong khu vực, các số liệu từ các Sở, ban ngành trong tỉnh về số lượng và chất lượng của học sinh các hệ THCS, THPT ở cả hệ công lập và ngoài công lập. Đặc biệt các lớp ngân sách do tỉnh cấp, quan hệ với Sở Nội vụ, vì ở đây có nhiều nguồn được đào tạo từ ngân sách. Theo đó hàng năm có tới hàng nghìn học sinh có khả năng tham gia các khóa đào tạo liên kết do do Trung tâm phối hợp tổ chức, với nhiều ngành khác nhau.

Tuy nhiên, theo công văn 146/UBT do UBND tỉnh Đồng Nai ban hành ngày 14/01/2002 về việc Quản lý thống nhất các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng theo hình thức giáo dục không chính quy và công văn 5751/UBND-VX do UBND tỉnh Đồng Nai ban hành ngày 23/8/2011 về việc Chấn chỉnh công tác liên kết đào tạo trình độ TCCN, cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh thì trên địa bàn thường xuyên xảy ra tình trạng không tuân thủ các quy định của BGDĐT trong công tác tuyển sinh. Trong hai văn bản này đã quy định Giao Sở Giáo dục - Đào tạo làm đầu mối quản lý tất cả các hoạt động đào tạo theo hình thức giáo dục không chính quy và Giao Sở Giáo dục và Đào tạo làm đầu mối giúp UBND tỉnh quản lý hoạt động liên kết đào tạo. Ở đây cho thấy sự không thống nhất trong việc quản lý khâu tuyển sinh. Điều này dẫn đến việc không hợp nhất được đầu mối quản lý nên việc tranh giành tuyển sinh gây ra bất ổn cho người học, trực tiếp tạo khó khăn cho Trung tâm trong việc tuyển sinh. Thời gian qua đã có một số ngành học trong một thời điểm có đến 4 trường thông báo chiêu sinh, gây ra mỗi nơi chỉ được vài chục người ghi danh và rồi 4 trường đều không mở lớp được vì nếu mở, thu (học phí) sẽ không bù nỗi chi phí khi không đủ chỉ tiêu tuyển sinh. Hiện tượng này tác động tiêu cực rất lớn đến các học viên ghi danh vì họ mất đi thời gian và cơ hội để thực hiện việc học tập tại các trường khác, gây thắc mắc trong nhân dân.

Vì vậy để đảm bảo được số lượng học viên tham gia mở lớp thì công tác tuyển sinh cần được thực hiện một cách đồng bộ và có quy hoạch. Bên cạnh việc tích cực điều tra số lượng thí sinh có khả năng tham gia tuyển sinh từ các nguồn mở thì cần có sự điều phối chặc chẽ từ hai công văn này thì việc mở lớp ở 1 trường là chắc chắn vì SGDĐT có thể thống kê chính xác số lượng thí sinh trong từng ngành để hướng các Trung tâm đến hoạch định việc tuyển sinh.

Trung tâm đã chủ động đẩy mạnh công tác quảng bá các chương trình liên kết đào tạo bằng cách thông báo công khai và đầy đủ các thông tin về kỳ tuyển sinh trên các phương tiện thông tin đại chúng về số lượng, đối tượng, vùng tuyển, hình thức, lệ phí, địa điểm, lịch và những thông tin có liên quan như ngành nghề, thời gian, hình thức, học phí, tiền mua tài liệu và các phí … 2.3.3 Quản lý về nội dung đào tạo

Mục đích của hoạt động liên kết đào tạo là thực hiện chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội; huy động tiềm năng của các trường nhằm đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho địa phương. Tạo cơ hội học tập cho nhiều người trên cơ sở đảm bảo chất

29

lượng, hiệu quả giáo dục, góp phần thực hiện mục tiêu công bằng và xã hội hoá giáo dục. Chính vì thế các nội dung và chương trình dạy học từ khâu tuyển sinh đến soạn thảo nội dung đào tạo đều hướng đến việc cung cấp cho học viên những kiến thức chuyên ngành chuyên sâu, kỹ năng thực hành, đào tạo học viên thành những lao động có trình độ học vấn cao, có tay nghề chuyên môn cao đáp ứng những yêu cầu về nguồn nhân lực của thời đại mới, thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Các ngành tuyển sinh liên kết đào tạo đều xuất phát từ nhu cầu học tập của xã

hội thông qua việc điều tra mà Trung tâm đã tiến hành.

Ngoài ra các ngành kỹ thuật như nông học, chăn nuôi, thú y, dược và khai thác mỏ được xác định là những ngành không thể thiếu trong sự ổn định của nền kinh tế hiện đại. Các ngành kỹ thuật là cơ sở để các ngành kinh tế phát triển, các ngành kinh tế tạo tiền đề và là chỗ dựa để các ngành kinh tế đứng vững trong các cuộc cạnh tranh mạnh mẽ của thời đại toàn cầu hóa.

Chính vì xác định được nội dung, nhu cầu đào tạo của xã hội Trung tâm đã biết cân đối các ngành đào tạo để cung cấp lao động có tri thức về cả lĩnh vực kỹ thuật lẫn tư duy kinh tế.

Chính vì thế tiếng nói của Trung tâm thường ít giá trị trong tổ chức quá trình đào tạo, dễ gây ra sự bất đồng trong việc tổ chức quá trình đào tạo, bị động cho Trung tâm trong các vấn đề lớn như sắp xếp đội ngũ giảng viên thực hiện giảng dạy, chuẩn bị cơ sở vật chất, thiết bị cần thiết trong quá trình giảng dạy… gây ảnh hưởng đến chất lượng các buổi học. Sự tham dự của Trung tâm chỉ ở mức nhận xét, đánh giá người dạy nên không có chế tài để xử lý khi người dạy. Đây là một hạn chế bất cập trong công tác quản lý nội dung đào tạo và nhân lực đào tạo hiện nay.

Tuy nhiên với quyền hạn và trách nhiệm của Trung tâm trong công tác quản lý về nội dung đào tạo Trung tâm đã tích cực đề xuất đơn vị chủ trì đào tạo bổ sung vào chương trình đào tạo những nội dung thiết thực, phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động tại địa phương như đưa các bài giảng có nội dung thực tế và cập nhật tình hình kinh tế, điều kiện tự nhiên xã hội cũng như những chính sách liên quan đến nghề nghiệp của học viên vào chương trình giảng dạy; ưu tiên thực hành thay cho học lý thuyết với tỷ lệ lớn hơn 30% thời lượng cho các trình độ đại học, và đối với trình độ TCCN thì thời lượng thực hành chiếm tỷ lệ 55 – 75% thời lượng còn lại là thời lượng dạy lý thuyết. Bên cạnh đó Trung tâm còn cử đại diện tham gia quản lý, nhận xét, đánh giá người dạy theo thỏa thuận trong hợp đồng liên kết đào tạo để có được kết quả tốt nhất cho người học. 2.3.4 Quản lý năng lực và trình độ đào tạo Với quyền hạn và trách nhiệm trong các hợp đồng liên kết đào tạo Trung tâm đã tích cực đóng góp các ý kiến, các đề xuất, giải pháp thông qua những diễn biến thực tế của quá trình đào tạo tại Trung tâm để đơn vị chủ trì đào tạo rút kinh nghiệm, cải tiến nội dung, phương pháp đào tạo nhằm giúp công tác liên kết đào tạo giữa Trung tâm và các đơn vị chủ trì đào tạo ngày càng phát triển bền vững, phục vụ tốt nhu cầu học tập đa dạng của người học, tăng cường hiệu quả hợp tác và thắt chặt mối liên kết hợp tác giữa Trung tâm và các đơn vị chủ trì đào tạo.

Với các ý kiến đóng góp và giải pháp mà Trung tâm đã đề xuất thì trong những năm qua, công tác liên kết đào tạo với các Trung tâm được các đơn vị chủ trì đào tạo đánh giá cao, đặc biệt là sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả, thông suốt trong mọi công tác liên quan giữa Trung tâm với các đơn vị chủ trì đào tạo.

Trung tâm đã tích cực phối hợp, tăng cường hợp tác chặt chẽ với các đơn vị chủ trì đào tạo, đảm bảo chất lượng đào tạo phục vụ nhu cầu đa dạng của người học, thực hiện đúng quy định của BGDĐT về công tác liên kết đào tạo, nhằm giúp người lao

30

động có điều kiện học tập nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu công tác và nhu cầu phát triển bản thân.

Số lượng tiết học Từ 250 đến 300 tiết/kỳ Dự tính (chưa có lớp) Từ 150 đến 200 tiết/kỳ

Bảng 2.3: Thời lượng và chương trình đào tạo Thời gian đạo tạo Trình độ đào tạo Từ 2 đến 4 năm Đại học Cao đẳng Từ 1 đến 2 năm 1 năm Trung cấp (Nguồn: Phòng quản lý đào tạo)

Tùy theo trình độ đào tạo và sự phân phối chương trình giảng dạy, giảng viên được các đơn vị chủ trì đào tạo cử đến Trung tâm thực hiện việc giảng dạy theo lịch trình linh hoạt, đảm bảo tiến trình và số lượng tiết học cho học viên. Về số lượng mỗi trường cung cấp lượng giảng viên từ 10 đến 20 giảng viên thường xuyên đến giảng dạy tại Trung tâm (bảng 2.3). Số lượng giảng viên này là danh sách dự kiến giảng viên (giáo viên) và cán bộ tham gia quản lý và giảng dạy mà các đơn vị chủ trì đào tạo cung cấp, tuy nhiên trong quá trình giảng dạy các giảng viên có thể thay đổi theo tình hình thực tế. Theo dạnh sách này thì hầu hết các trường đào tạo ở trình độ đại học, cao đẳng thì các giáo viên đều ở trình độ thạc sĩ trở lên, với trình độ trung cấp thì giáo viên tham dự giảng dạy có trình độ đại học trở lên.

Với tư cách là đối tác liên kết đào tạo Trung tâm yêu cầu các đơn vị chủ trì đào tạo phải luôn tăng cường đảm bảo chất lượng đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất phục vụ công tác liên kết đào tạo ở tất cả các loại hình đào tạo; chú trọng đến công tác chuẩn bị nguồn học liệu đa dạng hỗ trợ người học, từng bước hoàn thiện kết nối hệ thống thư viện, chia sẻ nguồn học liệu chính của đơn vị chủ trì đào tạo đến Trung tâm,. Bảng 2.4: Số lượng giảng viên đăng ký giảng dạy tại các lớp liên kết

lượng Trình độ Trường

Số giáo viên 12 25 20 10 9 11 8 9 7 12 thạc sĩ trở lên 3 Đại học, 22 thạc sĩ trở lên 20 thạc sĩ trở lên 10 thạc sĩ trở lên 09 thạc sĩ trở lên 11 thạc sĩ trở lên 08 thạc sĩ trở lên 09 thạc sĩ trở lên 07 đại học trở lên

ĐH Kinh tế - Luật TP. HCM ĐH Đà Lạt ĐH Nông - Lâm TP. Hồ Chí Minh ĐH Tây Nguyên ĐH Trà Vinh ĐH Mỏ - Địa chất Hà Nội ĐH Mở TP. Hồ Chí Minh ĐH Lao động-Xã hội (CS2, TP.HCM Trung cấp KT-KT Phương Nam (Nguồn: Phòng quản lý đào tạo)

Số lượng giảng viên trên đáp ứng tốt về trình độ cũng như số lượng theo chương trình liên kết đào tạo diễn ra tại Trung tâm.

Trung tâm và các đơn vị chủ trì đào tạo đã và đang tăng cường phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn để tổ chức hoạt động thực tập, thực tế cho học viên giao lưu thực tập, học tập kinh nghiệm. Sự thành công này được đóng góp phần lớn bởi các đơn vị chủ trì đào tạo, đa số các đơn vị chủ trì đào tạo đều có trách nhiệm, tinh thần cộng tác, hợp tác, luôn phấn đấu giữ uy tín cho trường. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế như các đơn vị chủ trì đào tạo không đảm bảo tốt lượng giảng viên tham gia giảng dạy, áp

31

dụng chương trình không đáp ứng yêu cầu thực tế, nhu cầu của người sử dụng lao động, dạy lý thuyết nhiều, ít thực hành… 2.3.5 Quản lý hoạt động học tập

Theo Điều 12 về trách nhiệm của các bên tham gia liên kết của quyết định số 42/2008/QĐBGDĐT thì trong vấn đề quản lý hoạt động học tập cũng như quản lý người học các bên có trách nhiệm cụ thể. Đơn vị chủ trì đào tạo chịu trách nhiệm quản lý người học trong suốt quá trình đào tạo theo các quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đảm bảo quyền lợi học tập chính đáng cho người học;

Còn Trung tâm chịu trách nhiệm phối hợp với đơn vị chủ trì đào tạo để chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất: phòng học, máy móc, thiết bị, học liệu, cơ sở thực hành cho hoạt động dạy học; bố trí ăn ở thuận tiện cho người dạy và người học; Phối hợp theo dõi, giám sát việc thực hiện kế hoạch đào tạo, nền nếp dạy-học…

Để thực hiện trách nhiệm của mình Trung tâm tiến hành phối hợp với đơn vị chủ trì đào tạo để chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về phòng học, máy móc, thiết bị, học liệu, cho hoạt động dạy học; bố trí ăn ở thuận tiện cho người dạy theo yêu cầu của đơn vị chủ trì đào tạo dựa vào thời khóa biểu mà hai bên đã lên kế hoạch đào tạo. Theo kế hoạch đào tạo thì thời khóa biểu dạy học sẽ phù hợp với loại hình đào tạo. Về thời gian học diễn ra vào buổi sáng từ 7 giờ 30 phút giờ đến 11 giờ 30 phút, buổi chiều sẽ diễn ra lúc 13 giờ 30 đến 17 giờ 00 phút, buổi tối từ 18 giờ 00 phút giờ đến 21 giờ 00 phút, chủ yếu học vào các buổi tối và ngày thứ Bảy, Chủ nhật; thời gian biểu này phù hợp với loại hình đào tạo vừa làm vừa học

Bảng 2.5: Thời gian giảng dạy tại các lớp liên kết Loại hình Lịch học Chính quy Từ thứ 2 đến thứ 6 (học giờ hành chính, chủ yếu các lớp ngân sách) Buổi tối thứ 2,3,4,6 và ban ngày thứ 7, CN (thuận lợi người đi làm) VHVL Buổi tối thứ 2,3,4,6 và ban ngày thứ 7, CN (thuận lợi người đi làm) VB2 (Nguồn: Phòng quản lý đào tạo) Hiện nay hình thức dạy học sử dụng đối với đa số các lớp liên kết đào tạo tại Trung tâm được thực hiện bởi các đơn vị chủ trì đào tạo. Hình thức chủ yếu là cung cấp tài liệu, giảng bài và ghi chép. Trước hết theo lịch trình dạy học, giáo viên sẽ cung cấp cho học viên những tài liệu liên quan đến bài học, môn học dưới dạng bản in hoặc bài giảng điện tử được thiết kế bằng phần mềm word, excell, powerpoint hay các phần mềm chuyên dụng tùy vào môn học, để học viên chuẩn bị kiến thức trước khi giảng viên thực hiện bài giảng. Điều này sẽ phát huy khả năng học tập của học viên. Trong quá trình giảng dạy giảng viên chủ động đưa những kiến thức mới bằng hình ảnh, âm thanh, video… (thông qua phần mềm) được trình chiếu tại lớp học. Học viên có thể tích cực hỏi những kiến thức thực tế liên quan đến bài học mà không có trong bài giảng để học viên hiểu hơn về nội dung môn học. Học viên có thể tiến hành ghi chép những kiến thức mới hoặc không ghi chép nếu đã có trong bài giảng, tài liệu được cung cấp trước đó.

Với phương pháp này giáo viên không còn là người đơn thuần truyền thụ kiến thức mà là người hướng dẫn, hỗ trợ và tư vấn cho sinh viên tìm chọn và xử lý thông tin. Giáo viên thực hiện nắm bắt nhu cầu của người học và tổ chức để họ quản lý được thời gian của mình, động viên các học viên tích cực tham gia vào quá trình nâng cao năng lực nhận thức và tư duy, chỉ dẫn và giúp đỡ họ phát triển các kỹ năng học tập độc lập như tự quyết định mục tiêu của bản thân, tự tìm kiếm và xử lý thông tin, tự đánh giá năng lực và chất lượng học tập của mình... sau khi kết thúc lớp học các học viên có

32

thể tiếp tục phát triển học vấn của mình trong dài hạn và suốt đời. Điểm cơ bản và quan trọng của phương pháp dạy-học đang được áp dụng tại Trung tâm là phát huy tối đa khả năng tự học và tư duy độc lập của sinh viên. Tuy nhiên vẫn còn một số môn điển hình vẫn còn sử dụng hình thức dạy học truyền đạt – lĩnh hội.

Trong việc quản lý học viên Trung tâm tiến hành phối hợp theo dõi, giám sát việc thực hiện kế hoạch đào tạo, nền nếp dạy-học đối với các lớp liên kết đặt tại Trung tâm và phản ảnh kịp thời với đơn vị chủ trì đào tạo những biểu hiện sai phạm để kịp thời chấn chỉnh. Trong quá trình thực hiện giảng dạy thì việc kiểm tra mức độ chuyên cần của học viên cũng được Trung tâm quan tâm. Tuy nhiên mức độ quan tâm với từng loại hình đào tạo có khác nhau. Với các lớp chính quy các học viên phải đảm bảo không vắng quá 10% số tiết, với các hệ VHVL và VB2 thì số lượng tiết học được vắng lên đến 20%. Nếu vượt quá số lượng tiết vắng này mà không có lý do chính đáng thì học viên có thể bị cấm thi môn đó và phải tiến hành học lại môn bị cấm thi với các khóa sau.

Ngoài ra Trung tâm còn phối hợp với đơn vị chủ trì đào tạo để thực hiện chế độ chính sách đối với người học như các lớp Nông học và Chăn nuôi của Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM; Lớp Công tác Xã hội của Trường ĐH Lao động-Xã hội (CS2, TP.HCM như thực hiện chế độ tiền ngân sách do Sở Nông nghiệp-PTNT và Lao động – TB và XH “đặt hàng”.

Việc quản lý sau tốt nghiệp cũng được quan tâm bằng cách lưu lại hồ sơ của học viên đồng thời tại các đơn vị chủ trì đào tạo và Trung tâm, hồ sơ sau khi tốt nghiệp hồ sơ được bảo quản và lưu giữ tại Trung tâm, gồm có: Các văn bản giao nhiệm vụ của cơ quan quản lý có liên quan đến liên kết đào tạo khoá học. Hồ sơ quản lý khóa đào tạo: Kế hoạch giảng dạy; Sổ lên lớp hàng ngày; Sổ đăng ký học sinh, sinh viên (tập lý lịch trích ngang có dán ảnh của học sinh, sinh viên). Các loại hồ sơ thi, kiểm tra học phần, tốt nghiệp. Điều này giúp học viên có thể tìm lại các thông tin học tập của mình khi cần hoặc cung cấp cho các cơ quan quản lý, doanh nghiệp khi phát sinh vấn đề cần đến. 2.3.6 Quản lý nhân lực và cơ sở phục vụ đào tạo Đội ngũ giáo viên là một trong những yếu tố hết sức quan trọng, quyết định cho việc mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo và đặc biệt là xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ phục vụ cho quy hoạch phát triển Trung tâm. Trong thời gian qua với cơ sở vật chất còn hạn chế nên lực lượng giáo viên và số lượng học viên còn hạn chế. Tuy nhiên với việc đầu tư cơ sở mới có diện tích gần 5.500m2 với 12 phòng học, 6 giảng đường, 1 hội trường, 7 phòng làm việc của GV, 1 thư viện, 120 máy tính và 1 xe 7 chỗ với tổng kinh phí dự án cơ sở mới là gần 100 tỷ đồng thì đội ngũ GV đã và đang được tuyển dụng và đào tạo để đáp ứng nhu cầu giảng dạy trong môi trường mới. Nhà trường đã triển khai thực hiện công tác bồi dưỡng đội ngũ cả về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ đến nay đội ngũ cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Với công tác quản lý: cán bộ quản lý công tác liên kết đào tạo thực hiện đề xuất với phòng Quản lý đào tạo để phân công lịch học dựa trên phòng học hiện có – lịch học từng Khoa/Trường mà trực tiếp là Giáo viên phụ trách các lớp đã được phân công cung cấp kịp thời kế hoạch giảng dạy cho SV. Đây là khâu quan trọng trong điều kiện thực tại của Trung tâm.

Với công tác kiểm tra: Cán bộ quản lý thực hiện kiểm tra số tiết học, giờ học và các giáo viên giảng dạy mà đơn vị chủ trì đào tạo cử đến. Thông báo với giáo viên phụ trách phải chịu trách nhiệm việc dạy đủ số tiết bằng cách kết luận trước khi trình lãnh đạo Trung tâm xác nhận vào lịch giảng; việc dạy dồn phải được lãnh đạo Trung tâm đồng ý nếu thật hợp lý.

33

Với công tác báo cáo: Cán bộ quản lý thông báo giáo viên phụ trách các lớp báo cáo định kỳ tăng giảm số lượng SV, hoạt động dạy – học từng lớp. Đảm bảo việc báo cáo từ Trung tâm lên Phòng GDCN, sở GDĐT phải được thực hiện đúng quy trình và kịp thời. 2.4 Những hạn chế trong liên kết đào tạo của TTGDTX tỉnh Đồng Nai 2.4.1 Vấn đề pháp luật, cơ chế

Hình thức liên kết đào tạo là một trong những phương pháp tạo ra nhằm xây dựng một “xã hội học tập” là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước nhằm thực hiện đổi mới tư duy về giáo dục theo tư tưởng “học tập thường xuyên, học tập suốt đời”. Với hình thức này tạo điều kiện để các học viên có nhiều sự lựa chọn theo khả năng của bản thân như học lực, tài chính, mục tiêu… để tham gia một khóa học nhằm nâng cao trình độ, đáp ứng nhu cầu lao động tại cơ quan, công ty, doanh nghiệp trong hiện tại hoặc tương lai.

Vấn đề liên kết đào tạo giữa các trường đại học, cao đẳng, TCCN với TTGDTX cấp tỉnh đã có được nhiều văn bản pháp luật đề cập đến nhằm quản lý về tổ chức và hoạt động. Cụ thể như điều 46 Luật Giáo dục Việt Nam; Quyết định 01/2007/QĐ- BGDĐT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục ban hành ngày 02/01/2007 về Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giáo dục thường xuyên; Quyết định số 42/2008/QĐBGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 28/7/2008 về việc Ban hành quy định về liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Trong phạm vi tỉnh Đồng Nai thì có Công văn 146/UBT do UBND tỉnh Đồng Nai ban hành ngày 14/01/2002 về việc Quản lý thống nhất các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng theo hình thức giáo dục không chính quy; Công văn 5751/UBND-VX do UBND tỉnh Đồng Nai ban hành ngày 23/8/2011 về việc Chấn chỉnh công tác liên kết đào tạo trình độ TCCN, cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh. Các văn bản pháp luật này cơ bản đã tạo ra cơ sở pháp lý để thực hiện liên kết đào tạo giữa các đơn vị chủ trì đào tạo và TTGDTX tỉnh Đồng Nai.

Tuy nhiên theo các văn bản pháp luật trên thì việc các hình thức quản lý hoạt động liên kết đào tạo hầu hết đều thuộc quyền hạn và trách nhiệm của đơn vị chủ trì đào tạo, hoàn toàn chủ động trong tuyển sinh, thực hiện chương trình, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, công nhận kết quả và cấp bằng tốt nghiệp. Còn TTGDTX tỉnh Đồng Nai chỉ được quyền “đề xuất” đơn vị chủ trì đào tạo bổ sung vào chương trình đào tạo những nội dung thiết thực, phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động; được cử đại diện tham gia quản lý, nhận xét, đánh giá người dạy và người học. Điều này hạn chế quyền hạn và nghĩa vụ của TTGDTX tỉnh Đồng Nai, có thể giảm tính chủ động điều phối học tập của Trung tâm và Trung tâm phải chạy theo những thay đổi mà các đơn vị chủ trì đào tạo tạo ra nếu không có sự thống nhất cao giữa hai phía liên kết. Một vấn đề nữa là địa điểm đặt lớp, theo Quyết định số 42/2008/QĐBGDĐT thì đối với các khoá liên kết đào tạo cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng, đại học, địa điểm đặt lớp phải là các trường, các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh. Tuy nhiên, với địa bàn rộng lớn của tỉnh Đồng Nai mà hình thức đào tạo đa số là hệ VHVL nên độ phân tán học viên rất lớn, chính vì vậy để tập trung tất cả các học viên đến Trung tâm để thực hiện công tác học tập thường xuyên là điều khó khăn, gây ảnh hưởng đến chất lượng học tập. Chính vì vậy thiết nghỉ cần có cơ chế phù hợp trong việc cho phép Trung tâm thực hiện việc đặt lớp tại các TTGDTX cấp huyện nhưng dưới sự giám sát của Trung tâm, việc này sẽ không làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập mà lại rất thuận tiện cho học viên. 2.4.2 Từ phía các đơn vị liên kết của Trung tâm Hiện nay Trung tâm đang liên kết với 9 trường ĐH, vì thế những hạn chế từ các đơn vị chủ trì đào tạo có sự khác nhau. Đáp ứng tốt nhất các yêu cầu trong công tác tham gia

34

liên kết đào tạo tại Trung tâm và ổn định nhất vẫn là trường ĐH Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và ĐH Kinh tế - Luật TP. Hồ Chí Minh khi tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật và thỏa thuận hợp tác liên kết với Trung tâm. Với trường ĐH Đà Lạt do liên kết rộng khắp nên không đủ lượng giáo viên cũng như chất lượng giáo viên không theo danh danh sách ban đầu, vẫn còn tình trạng “mời giảng”, đặc biệt là khoa Luật – việc mời giảng chắc chắn sẽ ảnh hưởng chất lượng đào tạo vì không gắn liền hoạt động chuyên môn, nghiên cứu khoa học tại trường, tuy nhiên số lượng này ít nhưng cũng cần chấn chỉnh ngay trong thời gian tới với các khóa học hiện tại và các khóa sẽ tuyển sinh. Trung tâm sẽ có kiến nghị ĐH Đà Lạt phải cung cấp lý lịch khoa học của giáo viên mời giảng và có sự thống nhất với Trung tâm.

Với trường ĐH Tây Nguyên, do nằm xa địa bàn đào tạo lại đào tạo ngành Thú y nên SV không tiếp cận được nhiều với thực hành thí nghiệm, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo. Trung tâm sẽ kiến nghị ĐH Tây Nguyên sẽ thuê phòng thí nghiệm nơi gần nhất để tăng cường công tác thực hành cho SV giải quyết chất lượng đào tạo.

Trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, do có 2 lớp ở Xuân Lộc mà Trường thì yêu cầu SV phải đến trường vào giờ thí nghiệm, rất tốt cho chất lượng đào tạo nhưng khó khăn về vấn đề đi lại. Các trường còn lại, do đặc thù của ngành đào tạo nên việc học tại Trung tâm là thuận lợi. 2.4.3 Từ phía Trung tâm

Có thể nói quyền hạn và trách nhiệm lớn nhất của Trung tâm là cung cấp điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ dạy học tại cơ sở và quản lý các phát sinh trong quá trình dạy học tại cơ sở như quản lý học viên, giáo viên thực hiện giảng dạy, đảm bảo an ninh tại Trung tâm. Đối với công tác cơ sở vật chất thì Trung tâm đang trong quá trình hoàn thiện cơ sở mới với các công trình mới phục vụ công tác giảng dạy như phòng học, hội trường, giảng đường, phòng máy, phòng thí nghiệm, thư viện, … tuy nhiên các công trình này chưa hoàn thiện nên tình trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy nói chung và các lớp liên kết nói riêng còn hạn chế, một số thiết bị được chuyển từ cơ sở cũ về nên có tình trạng cũ kỹ và lạc hậu. Tuy nhiên với sự đầu tư cơ sở đã tạo ra tiền đề để Trung tâm tiếp tục mua sắm thiết bị máy móc phục vụ công tác đào tạo nói chung và liên kết đào tạo nói riêng trong thời gian tới theo nhu cầu thực tế. Trong công tác nhân lực quản lý thì hiện nay công tác này đang còn khá nhiều hạn chế, phải nhờ sự hỗ trợ của các đơn vị chủ trì đào tạo. Với số lớp liên kết lớn và lượng học viên lên đến hàng nghìn và có một số lớp được đặt tại các đối tác (thuê cơ sở vật chất) tuy nhiên lượng cán bộ quản lý của Trung tâm hiện chỉ có 5 cán bộ, trong đó 3 cán bộ phải thực hiện quản lý tại Trung tâm còn 2 cán bộ được giao đảm trách quản lý các lớp liên kết. Với khối lượng nhiều các công việc của Trung tâm hiện nay tại các lớp liên kết các cán bộ chưa thể đảm trách hết nhiệm vụ của được giao. Mặt khác cán bộ quản lý của Trung tâm còn hạn chế trong trình độ quản lý. Việc quản lý học viên không chặt chẽ đã dẫn đến tình trạng học viên vắng lên lớp còn nhiều. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này: Một là,bản thân học viên thiếu tích cực, tự giác, chưa cố gắng khắc phục khó khăn trong điều kiện vừa làm vừahọc để lên lớp nghe giảng. Hai là, hoạt động quản lý chưa tích cực, thường xuyên và đồng bộ theo đúng các quy định quản lý hiện hành. Ba là, trong nhiều trường hợp, đơn vị, địa phương chưa thực sự tạo điều kiện thông qua phân công nhiệm vụ cho cán bộ được cử đi học. Trong đó nguyên nhân thứ hai xảy ra bởi tình trạng thiếu và yếu trong khâu quản lý của Trung tâm.

35

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH ĐỒNG NAI

3.1 Các nguyên tắc và định hướng đề xuất biện pháp

Các nguyên tắc cần phải thực được đảm bảo các quy định của pháp luật được thực hiện đúng, đầy đủ và nghiêm túc. Nhất là thực hiện đúng, đủ theo quyết định số 42/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28/7/2008 về liên kết đào tạo trình độ TCCN, cao đẳng, đại học. Đảm bảo mục tiêu thực hiện chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội; huy động tiềm năng của các trường nhằm đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho địa phương. Tạo cơ hội học tập cho nhiều người trên cơ sở đảm bảo chất lượng, hiệu quả giáo dục, góp phần thực hiện mục tiêu công bằng và xã hội hoá giáo dục.

Các biện pháp phải hướng đến tạo sự thuận lợi trong sự hợp tác giữa các bên để tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học như quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia liên kết đào tạo; quản lý hoạt động liên kết đào tạo; chế độ thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và chế độ lưu trữ giữa các đơn vị liên kết. Định hướng cho giải pháp: Bên cạnh việc tuân thủ tốt các quy định về quản lý hoạt động liên kết đào tạo của pháp luật thì hai bên phải phân định rõ ràng, chi tiết thực và hiện đầy đủ, có trách nhiệm với những việc mình đảm nhận, hướng đến mục tiêu cuối cùng là người học.

Đối với đơn vị chủ trì đào tạo cần nghiêm túc thực hiện việc xây dựng chỉ tiêu, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo phù hợp với năng lực đào tạo của đơn vị mình, các điều kiện đảm bảo thực hiện chương trình, đánh giá công nhận kết quả và cấp bằng tốt nghiệp cho người học; thực hiện các quy định hiện hành của Nhà nước về thu học phí, lệ phí; chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo của các lớp liên kết; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn đặt lớp về tất cả các hoạt động liên kết đào tạo.

Đối với Trung tâm cần hướng đến thực hiện tốt việc phối hợp với đơn vị chủ trì đào tạo để chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất trong quá trình liên kết đào tạo; thực hiện tốt việc theo dõi, giám sát việc thực hiện kế hoạch đào tạo, nền nếp dạy- học đối với các lớp liên kết đặt tại cơ sở mình và phản ảnh kịp thời với đơn vị chủ trì đào tạo những biểu hiện sai phạm để kịp thời chấn chỉnh; Phối hợp với đơn vị chủ trì đào tạo để thực hiện chế độ chính sách đối với người học (nếu có), quản lý người học trong suốt quá trình đào tạo theo quy chế hiện hành. Duy trì việc đảm bảo an ninh, trật tự, vệ sinh lớp học và môi trường xung quanh và có trách nhiệm liên hệ với đơn vị y tế khi có những sự cố xảy ra đe dọa đến sức khoẻ người dạy và người học.

Ngoài ra khi đưa ra các giải pháp cần hướng đến nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động liên kết đào tạo, cần phải tuân thủ những nguyên tắc sau của giáo dục: Giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu; xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển giáo dục - đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ khoa học – công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân; Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục – đào tạo; giữ vững vai trò nòng cốt của nhà trường công lập đi đôi với việc đa dạng hóa các loại hình giáo dục – đào tạo; Phát triển giáo dục toàn diện; Xây dựng nền giáo dục theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”; coi trọng hướng nghiệp, dạy nghề, tập trung vào mục tiêu nhân lực; kiên trì thực hiện mục tiêu giáo dục.

36

3.2 Biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại TTGDTX tỉnh Đồng Nai 3.2.1 Hoàn thiện các quy định về quản lý hoạt động liên kết đào tạo

Ngoài những quy định về quản lý Nhà nước trong hoạt động liên kết giáo dục thì hình thức liên kết đào tạo thực chất là một hợp đồng liên kết “Hợp đồng liên kết đào tạo là văn bản được ký kết giữa các bên liên kết nhằm xác định quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm mà các bên thỏa thuận trong quá trình liên kết đào tạo”. Mà đã là hợp đồng thì phải có các điều khoản thực hiện được ký kết thông qua quá trình đàm phán, thương lượng. Chính vì vậy, trong phạm vi giữa hai bên liên kết việc quản lý hoạt động liên kết đào tạo cần phải thể hiện một cách rõ ràng tại giai đoạn đàm phán, thương lượng hợp đồng này bao gồm phần trách nhiệm của các bên tham gia liên kết thương lượng, các thông tin về hoạt động diễn ra trong suốt quá trình đào tạo và định phương thức, điều kiện thanh toán. Cụ thể các bên tham gia liên kết thống nhất mức thu lệ phí tuyển sinh, học phí và phí bảo hiểm (tự nguyện) theo quy định; chủ động thỏa thuận thực hiện liên kết đào tạo.

Với đơn vị chủ trì đào tạo cần chủ động xây dựng chương trình, cùng với Trung tâm phối hợp đào tạo chuẩn bị giáo giáo trình, tài liệu tham khảo, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành, bố trí đội ngũ giảng viên và lựa chọn giảng viên của đơn vị phối hợp tham gia giảng dạy, lập kế hoạch đào tạo, tổ chức tuyển sinh, ra đề, chấm thi/kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, xét công nhận kết quả và cấp bằng tốt nghiệp cho người học theo đúng quy định hiện hành.

Với Trung tâm cần phối hợp cùng cơ sở chủ trì đào tạo chuẩn bị giáo trình, tài liệu tham khảo, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành phục vụ các ngành liên kết đào tạo; đề xuất cơ sở chủ trì đào tạo bổ sung vào chương trình đào tạo những nội dung phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, nguồn nhân lực của địa phương; cử đại diện tham gia quản lý, hướng dẫn sinh viên thực tập, thảo luận, xêmina theo thỏa thuận.

Cần phải có thêm cách thức xử lý những sai phạm mà một trong hai bên không thực hiện đúng những cam kết trong quá trình thực hiện liên kết đào tạo, đây là điều mà các bên thực hiện liên kết trong thời gian qua không quan tâm hay là cố tình “lờ” không đưa vào các hợp đồng liên kết. Việc không có biện pháp xử lý các đơn vị vi phạm dẫn đến việc còn rất nhiều sai phạm trong khi thực hiện hợp đồng liên kết mà bên thiệt hại chính là học viên, trong khi đó việc này không ảnh hưởng đến lợi ích của các bên nên không ai quan tâm và cũng chưa có các hình thức xử lý. Ví dụ như việc thầy đơn vị chủ trì đào tạo không cung cấp đủ tài liệu học tập, xây dựng chương trình học không sát với yêu cầu thực tế, đội ngũ giảng viên không đủ trình độ chuyên môn, cơ sở vật chất, thiết bị học tập hạn chế; phân công giảng dạy, hợp đồng thỉnh giảng còn lộn xộn, không nghiêm túc, một số nơi còn xảy ra tình trạng tiêu cực trong việc ra đề, chấm thi/kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện… tuy nhiên trong vấn đề này lại không thấy việc quản lý của các dịch vụ liên kết và cách thức xử lý đối với những sai phạm này.

Đề xuất của tác giả là hai bên phải thương thảo những điều khoản xử lý trong các vi phạm của cả hai bên. Thực hiện lập một quỹ chung theo tỷ lệ % của các khoản thu theo học phí đã được phân chia giữa hai bên. Tỷ lệ này có thể năm trong khoản 3% phân chia các khoản thu theo thỏa thuận của hai bên. Quỹ này sẽ được sử dụng vào xử lý các sai phạm của cả hai bên trong quá trình thực hiện các lớp liên kết đào tạo, việc sử dụng quỹ sẽ thông qua sự giám sát của các cán bộ quản lý của cả hai bên có trách nhiệm giám sát các hoạt động, thực thi trách nhiệm của đối tác liên kết. Tất nhiên trước khi thực hiện điều này các bên phải ưu tiên biện pháp thỏa thuận và hướng dẫn giải quyết cùng nhau. Quỹ sẽ được giải ngân cho bên nộp theo đúng tỷ lệ đóng góp sau khi trừ đi các khoản xử lý do sai phạm, khoản tiền xử lý sẽ xung quỹ của Trung tâm để khắc phục sai phạm, cũng cố hình ảnh của chương trình liên kết đào tạo.

37

Biện pháp này sẽ thúc đẩy việc các bên tôn trọng các thỏa thuận trong liên kết giữa hai bên, nhất là đơn vị chủ trì đào tạo vì mức đóng góp của các đơn vị này cao, sẽ tích cực mang lại lợi ích cho học viên. Đối với Trung tâm thì sẽ đảm bảo được việc đáp ứng các yêu cầu theo trách nhiệm của mình, bởi sẽ không lợi gì khỉ bị xử lý các sai phạm nếu có. 3.2.2 Lựa chọn đơn vị liên kết và đối tượng tuyển sinh

Hiện nay trên cả nước có đến gần 600 trường các đại học, học viện, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp trên cả nước, trong đó có đến gần 200 đại học, học viện, chính vì thế trong việc lựa chọn đối tác liên kết đào tạo của Trung tâm rất đa dạng. Với sự chú trọng nhất trong thực hiện liên kết đào tạo là các khóa VHVL nên nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong khâu quản lý liên kết đào tạo Trung tâm cần phải lựa chọn những đơn vị có uy tín, có kinh nghiệm trong việc thực hiện liên kết đào tạo ở các hệ VHVL, đào tạo từ xa, đây là những chương trình được quan tâm và thực hiện nhiều tại Trung tâm trong thời gian qua. Bởi các đơn vị chủ trì đào tạo là đơn vị chịu trách nhiệm chính trong tổ chức quá trình đào tạo như tuyển sinh, thực hiện chương trình, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, công nhận kết quả và cấp bằng tốt nghiệp vì vậy những trường có kinh nghiệm sẽ có được những giải pháp tốt thúc đẩy Trung tâm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác quản lý loại hình đạo tạo này.

Điều tra nhu cầu học tập

Điều tra xu hướng và năng lực đào tạo liên kết của các trường

Chủ động liên hệ, lựa chọn đối tác phù hợp, tiến hành liên kết

Để thực việc chọn đối tác này Trung tâm cần tiến hành thực hiện đánh giá nhu cầu đào tạo của ngành, địa phương thông qua việc điều tra nhu cầu học tập dựa số liệu từ các nguồn chính thống như đã nói ở chương 2. Các nguồn chính trong tuyển dụng học viên của các lớp hệ VHVL hệ ĐH, CĐ là những học viên đã tốt nghiệp trung học phổ thông, bổ túc trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp chưa hoặc đang làm việc tại các tổ chức trong và ngoài nhà nước có nhu cầu nâng cao trình độ nghề nghiệp, trình độ học vấn, đây là đối tượng chính trong các lớp liên kết đào tạo mà hiện nay Trung tâm đang thực hiện. Đối với các hệ liên kết khác thì không giới hạn đối tượng tuyển sinh. Từ đây Trung tâm sẽ có được các dữ liệu cơ bản về ngành nghề đào tạo, số lượng học viên có nhu cầu theo từng ngành, những trường có thể cạnh tranh khi tuyển sinh trong vùng, và còn bao nhiêu học viên có thể sẽ tuyển sinh tại Trung tâm của mỗi ngành. Trong số các ngành có thể tuyển sinh, Trung tâm sẽ chọn ra những ngành mà mình có thế mạnh trong quản lý hoặc có nhu cầu mở rộng trong tương lai để tiến hành bước thống kê và thực hiện việc lựa chọn đơn vị chủ trì đào tạo tương ứng.

Hình 3.1: Các bước chọn đơn vị liên kết và đối tượng tuyển sinh

Từ những thông tin điều tra nhu cầu học tập trên Trung tâm sẽ tiến hành xác định mục tiêu, đối tượng các trường đại học, cao đẳng, TCCN đáp ứng được những nhu cầu đào tạo của các học viên trong vùng. Tiếp theo là liên hệ với Điều tra xu hướng và năng lực đào tạo liên kết của các trường, những yếu tố cần quan tâm của đối tác liên kết là các trường được phép mở ngành đào tạo đối với ngành dự định liên kết bằng văn bản, đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt chỉ tiêu đào tạo; đảm bảo yêu cầu về đội ngũ giảng viên (giáo viên), cán bộ quản lý, cơ sở vật chất phục

38

vụ giảng dạy theo quy định, phù hợp với mục tiêu đào tạo của khóa học. Và một điều quan trọng là các đơn vị này có kinh nghiệm trong việc thực hiện liên kết đào tạo. Những trường này phải thuộc các trường trực thuộc BGDĐT và có uy tín trong ngành giáo dục dựa trên các tiêu chí chất lượng đào tạo là chính. Trung tâm luôn xem việc lựa chọn đối tác liên kết là điều quan trong hàng đầu vì đã có đợt tuyển sinh, sau khi xem thông báo trường đào tạo và cấp bằng, người có nhu cầu học đã không nộp hồ sơ tuyển sinh.

Từ việc xác định được việc chọn đơn vị liên kết uy tín tiếp theo Trung tâm sẽ gửi đề xuất liên kết đào tạo đến các trường mục tiêu kèm theo bản năng lực của Trung tâm, bảng kết luận điều tra về nhu cầu học tập của Trung tâm... để phục vụ trong quá trình xin phép liên kết đào tạo. Khi các đơn vị chủ trì đào tạo đồng ý thực hiện liên kết thì hai bên tiến hành thương thảo các điều khoản hợp đồng và thực hiện liên kết trong đào tạo ngành nghề đã định.

Thông qua quá trình lựa chọn đơn vị liên kết và đối tượng tuyển sinh Trung tâm có thể dự đoán được kết quả chính xác nhu cầu đào tạo của xã hội tại địa phương theo từng ngành nghề, hệ đào tạo, số lượng học viên có thể tham gia các khóa liên kết tại Trung tâm. Với một đơn vị chủ trì đào tạo có uy tín thì số lượng học viên tham gia sẽ chiếm tỷ lệ cao trong bảng điều tra dự trù mà Trung tâm đã thực hiện. Vậy nếu thực hiện việc lựa chọn đơn vị liên kết và đối tượng tuyển sinh tốt thì Trung tâm có thể đảm bảo được số lượng học viên đăng ký nộp hồ sơ với các lớp tuyển sinh mới, đảm bảo được nguồn thu từ học phí có thể đủ cho các chi phí hoạt động đào tạo, đảm bảo được chất lượng đầu ra cho học viên, bằng cấp học viên có giá trị và được nhiều cơ quan tổ chức tuyển dụng. Từ đó thu hút các học viên mới có nhu cầu đến với các lớp liên kết của Trung tâm. 3.2.3 Quản lý chặt chẽ về nội dung đào tạo, kế hoạch đạo tạo

Để thực hiện quản lý chặt chẽ về nội dung đào tạo, kế hoạch đạo tạo trong khi đơn vị chủ trì đào tạo được hoàn toàn chủ động trong việc tổ chức quá trình đào tạo trong đó có việc xây dựng chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, thiết bị học tập, thực hành; lập kế hoạch đào tạo; tổ chức tuyển sinh; phân công giảng dạy, hợp đồng thỉnh giảng; ra đề, chấm thi/kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện; xét công nhận kết quả và cấp bằng tốt nghiệp cho người học đối với Trung tâm là rất khó khăn. Chính vì vậy ngay từ khi tuyển sinh, Trung tâm phải công khai chương trình toàn khóa để người học quyết định có học hay không. Kế hoạch đào tạo từng học kỳ phải được thông báo đến người học và cơ quan người học để chủ động sắp xếp việc “học – làm”.

Sau khi ký kết hợp đồng liên kết đào tạo thì với từng ngành trong hợp đồng đã thể hiện đầy đủ các thông tin về hoạt động diễn ra trong suốt quá trình đào tạo như thông tin về tuyển sinh gồm ngành nghề đào tạo; thời gian đào tạo; hình thức đào tạo; hình thức tuyển sinh; đối tượng tuyển sinh; địa điểm đặt lớp; lệ phí tuyển sinh; học phí khoá học và các khoản phí bảo hiểm (nếu có). Thông tin về đào tạo gồm kế hoạch thực hiện chương trình đào tạo của khoá học; phân công giảng dạy, tổ chức thi, kiểm tra đánh giá, cấp bằng tốt nghiệp. Thông tin về quản lý người học gồm trách nhiệm phối hợp trong việc quản lý và thực hiện các chế độ, chính sách đối với người học; việc thu học phí, lệ phí, bảo hiểm (nếu có) và trách nhiệm đền bù thiệt hại do không thực hiện được các cam kết trong hợp đồng kiên kết. Dựa vào bảng kế hoạch thực hiện chương trình đào tạo của khoá học; phân công giảng dạy, tổ chức thi, kiểm tra đánh giá, cấp bằng tốt nghiệp mà Trung tâm sẽ công khai rộng rãi trên webside của mình hoặc tại phòng Quản lý đào tạo của Trung tâm để học viên có thể tham khảo và lựa chọn. các thông tin này đã được hai bên thương thảo, trao đổi và đi đến thống nhất. Sự thay đổi trong các điều này sẽ không được quá lớn,

39

ảnh hưởng đến học viên, và khi có sự thay đổi sẽ được thông báo rộng rãi đến học viên để nắm bắt tình hình, sự thay đổi phải được sự chấp nhận của hai bên. Việc quản lý chặt chẽ về nội dung đào tạo, kế hoạch đạo tạo sau khi thực hiện việc này chỉ còn là việc quản lý thực hiện, để không để xảy ra sai sót hay điều chỉnh quá lớn trong quá trình đào tạo. 3.2.4 Nâng cao chất lượng cán bộ giảng viên và quản lý chặt hoạt động giảng dạy của giảng viên

Theo Điều 45 của Luật giáo dục Việt Nam, trước mắt để thực hiện tốt quản lý liên kết đào tạo thì Trung tâm cần phải thực hiện việc nâng cao chất lượng cán bộ giảng viên và quản lý chặt hoạt động giảng dạy của giảng viên để hỗ trợ đơn vị chủ trì đào tạo thực hiện một số phần trong quá trình giảng dạy mà Trung tâm có nhân lực, từ đó tích cực chủ động được một phần trong việc phân bổ giáo viên giảng dạy trong các chương trình liên kết. Trung tâm có thể thực hiện hai hình thức nhằm nâng cao chất lượng cán bộ giảng viên là thực hiện đào tạo bằng cách khuyến khích tự đào tạo hoặc cử đi đào tạo, hay tuyển dụng mới đáp ứng nhu cầu giảng dạy. Với lực lượng hiện có thì Trung tâm có thể thực hiện khuyến khích tự đào tạo hoặc cử đi đào tạo.. Điều này có thể giúp Trung tâm cũng cố năng lực cho giáo viên tại Trung tâm vừa tạo nguồn nhân lực có trình độ để thực hiện quản lý các hoạt động của quá trình liên kết đào tạo. Với lực lượng tuyển dụng mới thì Trung tâm chủ động đưa ra các tiêu chuẩn về trình độ nhân sự mới, những yêu cầu kèm theo khác để có thể tuyển dụng được nhân lực phục vụ trong công tác dạy học và quản lý các lớp liên kết. Mục tiêu của giải pháp là Trung tâm phải có đội ngũ đáp ứng được yêu cầu.

3.2.5 Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giảng dạy

Ngoài việc xắp xếp địa điểm đặt lớp thì Trung tâm còn chịu trách nhiệm đảm bảo yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết bị cần thiết để phục vụ dạy học, thực hành, thực tập, đảm bảo môi trường sư phạm, có đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với mục tiêu đào tạo của khóa học. Trong khi đó cơ sở vật chất của Trung tâm hiện đang trong quá trình hoàn thiện, tuy nhiên với việc sử dụng cơ sở vật chất vào khung giờ riêng nên ít ảnh hưởng đến việc học tập của các lớp chính quy đang thực hiện tại Trung tâm, chính vì thế hiện nay cơ sở vật chất của Trung tâm đủ sức đáp ứng phần lớn nhu cầu.

Tuy nhiên cũng có một số hạn chế về cơ sở vật chất đã nói ở trên vì thế trong thời gian tới Trung tâm cần tiếp tục thực hiện tăng cường đầu tư mua sắm thiết bị theo từng giai đoạn và theo nhu cầu thực tế nhằm phục vụ hoạt động giảng dạy tốt nhất. Đảm bảo mục tiêu của Trung tâm là xây dựng môi trường sư phạm để thực hiện hoạt động đào tạo; có quy định cụ thể về quản lý hoạt động giảng dạy, học tập; có bộ phận chuyên trách quản lý đào tạo, đội ngũ nhân viên thư viện, kỹ thuật viên và hướng dẫn thực hành; có thư viện, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành, trang thiết bị và các cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập đảm bảo đáp ứng yêu cầu của ngành đào tạo liên kết; có phòng nghỉ giữa giờ cho giảng viên và phòng sinh hoạt chung của sinh viên; có diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo thuộc sở hữu của cơ sở phối hợp đào tạo tối thiểu /sinh viên và không ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo khác của trường.

Trung tâm cần trích một phần lợi nhuận trong việc liên kết đào tạo đễ thực hiện đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ học tập, xe đưa rước GV, và học viên khi có yêu cầu. Cơ sở vật chất cần phải có thời gian lâu dài để trang bị từng bước, bởi vậy sự ổn định của các lớp liên kết đào tạo sẽ tạo nguồn ngân sách tốt bên cạnh những nguồn ngân sách đã có để thực hiện tăng cường cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giảng dạy.

40

3.2.6 Thực hiện tốt công tác kiểm tra đánh giá kết quả của các khóa liên kết Để chất lượng đào tạo được đảm bảo ở các lớp liên kết thì cần phải tăng cường thực hiện tốt công tác kiểm tra đánh giá kết quả của các khóa liên kết. Để thực hiện điều này Trung tâm cần thiết phải đề xuất giải pháp lập mới (nếu đơn vị chủ trì đào tạo chưa có) hoặc đẩy mạnh hoạt động (nếu đơn vị chủ trì đào tạo đã có Ban Khảo thí và Đảm bảo chất lượng để tiến hành kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo các hệ đào tạo tại các lớp liên kết đào tạo với Trung tâm. Ban Khảo thí và Đảm bảo chất lượng có thể kiểm tra theo đề xuất của Trung tâm hoặc đột xuất để thanh tra, kiểm tra về chất lượng đào tạo như số lượng, chất lượng cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên tham gia vào chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn tại các văn bản của BGDĐT và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Việc thực hiện chương trình đào tạo, nội dung, kế hoạch dạy học, quy chế chuyên môn, kiểm tra, đánh giá xếp loại, thi hết môn, thi tốt nghiệp… Bên cạnh đó Ban Khảo thí và Đảm bảo chất lượng sẽ thực hiện nhiệm vụ thanh tra hoạt động sư phạm của giảng viên tại các cơ sở liên kết đào tạo gồm việc chấp hành pháp luật; chấp hành quy chế của ngành, nội quy của cơ quan; ý thức đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, sự tín nhiệm của đồng nghiệp, người học và nhân dân; tinh thần đoàn kết, trung thực trong công tác, quan hệ đồng nghiệp, thái độ phục vụ nhân dân và người học; kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao; công tác thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, sự đánh giá của người học và của cơ sở liên kết đào tạo về chất lượng giảng dạy của giảng viên… Ban Khảo thí và Đảm bảo chất lượng sẽ gồm những thành viên có trình độ, kiến thức và am hiểu các quy định của BGDĐT và pháp luật liên quan đến công tác giáo dục nói chung và giáo dục liên kết đào tạo nói riêng. Sau công tác kiểm tra thì kết quả sẽ làm cơ sở để thực hiện những cải thiện những điểm yếu của từng đơn vị cá nhân, phát huy những điểm mạnh mà các dịch vụ cá nhân đã làm được để đãm bảo mục tiêu cao nhất là chất lượng cho người học. Đảm bảo các quy định về pháp luật trong vấn đề kiểm tra đánh giá kết quả của các khóa liên kết được thực hiện nghiêm túc. 3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đ đề xuất

Để kiểm nghiệm các giải pháp mà tác giả đưa ra có tính ứng dụng trong thực tiễn như thế nào thì giả tiến hành khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất thông qua hình thức khảo sát các chuyên gia, các đồng nghiệp trong ngành giáo dục và các cán bộ, giáo viên tại Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai, các cán bộ, giáo viên từ các đơn vị chủ trì đào tạo. Tổng số người được xin ý kiến là 50 bao gồm 10 cán bộ, giáo viên tại Trung tâm và 20 cán bộ quản lý thuộc Ngành, 20 giáo viên cán bộ quản lý hiện đang có lịch giảng dạy tại Trung tâm của các đơn vị chủ trì đào tạo các lớp liên kết. Những đối tượng này là các bên liên quan đến công tác liên kết đào tạo, tác giả hy vọng họ sẽ có những nhận xét đúng về các giải pháp. Với các đối tượng này tác giả đều sử dụng một phiếu khảo sát chung để có sự đánh giá đa chiêu và chính xác. Để hỏi về tính cần thiết tác giả đưa ra 3 mức độ:

+ Cần - Hệ số 2; + Không cần - Hệ số 1.

+ Khả thi - Hệ số 2; + Không khả thi - Hệ số 1.

+ Rất cần - Hệ số 3; Để hỏi về tính khả thi chúng tôi cũng đưa ra 3 mức độ: + Rất khả thi - Hệ số 3; Sau khi tiến hành tổng hợp và phân tích ý kiến của các chuyên gia, các đồng nghiệp tác giả thu được kết quả như bảng 3.1. Qua bảng 3.1 chúng ta đã kiểm chứng đ- ược rằng các biện pháp nêu trong luận văn đều cần thiết cho việc nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai; đồng thời, các biện pháp đều được đánh giá là có tính khả thi.

41

Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp

Mức độ

Tính cần thiết

Tính khả thi

Các biện pháp

Cần (%)

Rất cần (%)

Không cần (%)

Điểm trung bình

Rất khả thi

Khả thi (%)

Không khả thi (%)

Điểm trung bình

68 22 10 2,58 76 20 0 2,68

90 10 0 2,9 92 8 0 2,92

80 16 4 2,76 68 24 8 2,6

cách 64 24 12 2,52 72 28 0 2,72

82 16 2 2,8 70 24 6 2,64

1. Hoàn thiện các quy định về quản lý hoạt động liên kết đào tạo: Thực hiện thương thảo những điều khoản xử lý trong các vi phạm của cả hai bên. 2. Lựa chọn đơn vị liên kết và đối tượng tuyển sinh: xây dựng quy trình tuyển sinh và lựa chọn đơn vị liên kết. 3. Quản lý chặt chẽ về nội dung đào tạo, kế hoạch đạo tạo: Công khai và thực hện đúng các Thông tin về đào tạo gồm kế hoạch thực hiện chương trình đào tạo của khoá học; phân công giảng dạy, tổ chức thi, kiểm tra đánh giá, cấp bằng tốt nghiệp. 4. Nâng cao chất lượng cán bộ giảng viên và quản lý chặt hoạt động giảng dạy của giảng viên: thực hiện đào tạo bằng khuyến khích tực đào tạo hoặc cử đi đào tạo, hay tuyển dụng thêm các giảng viên mới đáp ứng nhu cầu giảng dạy 5. Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giảng dạy: tăng cường đầu tư mua sắm thiết bị theo từng giai đoạn và theo nhu cầu thực tế nhằm phục vụ hoạt động giảng dạy tốt nhất.

42

72 24 4 2,68 62 34 4 2,58

6. Thực hiện tốt công tác kiểm tra đánh giá kết quả của các khóa liên kết: lập mới (nếu đơn vị chủ trì đào tạo chưa có) hoặc đẩy mạnh hoạt động (nếu đơn vị chủ trì đào tạo đã có Ban Khảo thí và Đảm bảo chất lượng để tra, tiến hành kiểm đánh giá công tác đào tạo các hệ đào tạo tại các lớp liên kết đào tạo với Trung tâm.

(Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu khảo sát)

Nhìn vào bảng trên cho thế rằng biện pháp được đánh giá cần thiết nhất là lựa chọn đơn vị liên kết và đối tượng tuyển sinh với việc xây dựng quy trình tuyển sinh và lựa chọn đơn vị liên kết. Và biện pháp này cũng được đánh giá là có tính khả thi nhất. Chính vì vậy biện pháp này cần được ưu tiên hàng đầu khi thực hiện các giải pháp trong quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai thời gian tới.

43

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận

Quản lý về giáo dục nói chung quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh nói riêng là một trong những vấn đề cần được quan tâm đúng mức để đảm bảo được chủ trương xã hội hóa giáo dục, xây dựng được một xã hội học tập. Bên cạnh việc thúc đẩy các trường và đơn vị tổ chức những lớp liên kết thì việc quản lý quản lý hoạt động liên kết đào tạo phải được thực hiện một cách có hiệu quả ở cấp độ vĩ mô lẫn vi mô, cấp độ quản lý nhà nước và bên trong môi trường, mỗi lớp liên kết đào tạo.

Đề tài này đã thực hiện việc tìm hiểu sâu về những văn bản pháp luật liên quan đến công tác quản lý nhà nước về hoạt động liên kết đào tạo, từ đó đánh giá về những cách thức thực hiện và vấn đề đạt được và chưa được trong việc quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai. Từ đó nghiên cứu nhận định rằng công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai đa phần đều tuân thủ các quy định của pháp luật trong quản lý giáo dục tuy nhiên trong khi thực hiện có một số vướn mắc và khó khăn nhất định dẫn đến một vài trường hợp cá biệt chưa thể áp dụng hoàn toàn các quy định của Nhà nước trong vấn đề quản lý hoạt động liên kết đào tạo như địa điểm đặt lớp, lực lượng giáo viên trình độ cao… những hạn chế này đã được nêu ra và đề xuất các giải pháp thực hiện để nâng cao hiệu quả trong quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới.

Hy vọng rằng trong thời gian tới các bên liên quan trong hoạt hoạt động liên kết đào tạo sẽ từng bước tháo gỡ những khó khăn, loại bỏ những tồn tại để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai góp phần làm trong sạch hệ thống giáo dục, nâng cao hình ảnh của các lớp liên kết đào tạo trong lòng các học viên, giúp các TTGDTX tuân thủ tốt các quy định của nhà nước làm nâng cao chất lượng dạy và học tại các lớp liên kết được đào tạo tại Trung tâm. 2. Khuyến nghị Để thực hiện theo kết quả của đề tài cần phải có sự phối hợp nhiều bên liên quan như các cơ quan nhà nước trong quản lý giáo dục và các bên trong hoạt động liên kết đào tạo. Đối với các cơ quan nhà nước trong quản lý giáo dục cần tiến hành xây dựng các văn bản pháp luật dựa trên tình hình thực tế, đánh giá nhu cầu của xã hội, tăng cường giám sát việc thực thi pháp luật của các đơn vị tham gia liên kết đào tạo, theo dõi và tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện của các đơn vị liên kết, cầu thị và lắng nghe để nâng cao chất lượng của học viên được đào tạo trong các lớp liên kết, lấy mục tiêu lợi ích của người học làm Trung tâm. Đối với các bên trong hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai trước hết cần phải thực hiện nghiêm túc các quy định hiện hành trong công tác liên kết đào tạo như Luật Giáo dục hiện hành; Quyết định 42/2008/QĐBGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 28/7/2008 và 146/UBT do UBND tỉnh Đồng Nai ban hành ngày 14/01/2002; Công văn 5751/UBND-VX do UBND tỉnh Đồng Nai ban hành ngày 23/8/2011 về việc Chấn chỉnh công tác liên kết đào tạo trình độ TCCN, cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh. Trong quá trình thực hiện liên kết nếu có vướn mắc thì cần thực hiện các biện pháp thương thảo, phối hợp và xin ý kiến của các bên liên quan và cơ quan nhà nước để quá trình liên kết đào tạo là một quá trình liên tục, đúng pháp luật và đặt chất lượng đào tạo lên hàng đầu.

44

lý từ tâm (các huyện/TX), lớp đặt ngoài Trung

Về địa điểm đặt lớp, theo Quyết định số 42/2008/QĐBGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 28/7/2008 về việc Ban hành quy định về liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Ở mục b, khoản 2, điều 7, chương II: “Đối với các khóa liên kết đào tạo cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng, đại học, địa điểm đặt lớp phải là các trường, các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh”. Trong khi đó, hiện có 07 luận (42/2008/QĐBGDĐT) với thực tiễn (07 lớp đặt ngoài Trung tâm) cũng cần giải quyết. Nhu cầu người học ở những nơi đó là có thực mà cự ly đến Trung tâm thì quá xa, 07 lớp này việc học tại Trung tâm là không thể. Muốn vậy, việc giải quyết này là không quy định đối với các lớp không học phòng thí nghiệm, thực hành (các lớp Luật, Xã hội-Nhân văn…)./.

45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Bộ chính trị (2009), Kết luận số 242 - TB/TƯ ngày 15 - 4 - 2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết Nghi Quyết T.Ư 2 (khóa VIII) về phương hướng phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2020. 2. Bộ giáo dục và đào tạo (2008), Quyết định 42/2008/QĐ - BGDĐT Ban hành Quy định về liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, Hà Nội. 3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội. 5. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đức Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai về vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc Gia, HN. 6. Đặng Quốc Bảo (2008), Quản lý nhà nước về giáo dục và một số vấn đề xã hội của phát triển giáo dục, Đề cương bài giảng cho cao học chuyên ngành quản lý giáo dục, Hà Nội. 7. Đặng Quốc Bảo (2009), Kinh tế học giáo dục và vấn đề phân tích lợi ích chi phí trong giáo dục, Tập bài giảng cho cao học chuyên ngành quản lý giáo dục. 8. Đặng Xuân Hải (2004), Vai trò của cộng đồng - xã hội trong giáo dục và quản lý giáo dục, Hà Nội. 9. Đặng Xuân Hải (2008), Quản lý hệ thống giáo dục quốc dân, Đề cương bài giảng cho cao học chuyên ngành quản lý giáo dục, Hà Nội. 10. Đặng Xuân Hải (2010), Quản lý giáo dục trong trong mối quan hệ cộng đồng xã hội, Tập bài giảng, Trường cán bộ quản lý giáo dục TW1. 11. Hà Nhật Thăng (2009), Xu thế phát triển giáo dục, Tập bài giảng cho chuyên ngành quản lý giáo dục, Hà Nội. 12. Hoàng Văn Thể. (2009). Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo hình thức vừa làm vừa học thông qua ứng dụng công nghệ thông tin tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên”. Luận văn thạc sĩ. Trường ĐH Thái Nguyên. 13. Lê Thị Thu Hà. (2009). Hệ thống thông tin quản lý giáo dục bậc tiểu học. Luận văn thạc sỹ. ĐH quốc gia Hà Nội. 14. Nguyễn Đức Chính (2009), Kiểm định chất lượng giáo dục, Tập bài giảng cho cao học chuyên ngành quản lý giáo dục, Hà Nội. 15. Nguyễn Minh Đường (1996), Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới, chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX 07 - 14, Hà Nội. 16. Nguyễn Như Ý (2005), Đại từ điển tiếng Việt, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 17. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010), Đại cương lý luận Quản lý, Tập bài giảng dành cho chuyên ngành quản lý giáo dục, Hà Nội. 18. Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Đại cương lý luận Quản lý, Tập bài giảng dành cho chuyên ngành quản lý giáo dục, Hà Nội, 2010. 19. Nguyễn Trọng Hậu (2009), Đại cương khoa học quản lý, Tập bài giảng cho chuyên ngành quản lý giáo dục, Tập bài giảng cho cao học chuyên ngành quản lý giáo dục, Hà Nội. 20. Phạm Viết Vượng (2000), Giáo dục học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 21. Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật giáo dục, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 22. Trần Đình Tuấn (chủ biên) (2008), Giáo trình Phương pháp luận Nghiên cứu khoa học, Nxb QĐND, Hà Nội.

46

23. Trần khánh Đức (2004), Quản lý và kiểm đinh chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO và TQM, Nxb Giáo dục. 24. Trần khánh Đức (2009), Sự phát triển của các quan điểm giáo dục, tập bài giảng cho chuyên ngành quản lý giáo dục, Hà Nội. 25. Trần khánh Đức (2010), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục. 26. Trung tâm biên soạn từ điển Bách Khoa (1995), Từ điển Bách Khoa Việt Nam, Hà Nội. 27. UBND tỉnh Đồng Nai (2002), Quản lý thống nhất các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng theo hình thức giáo dục không chính quy, Công văn số 146/UBT, ngày 14/01/2002, Đồng Nai. 28. UBND tỉnh Đồng Nai (2011), Chấn chỉnh công tác liên kết đào tạo trình độ TCCN, cao đẳng, đại học, Công văn số 5751/UBND-VX, ngày 23/8/2011, Đồng Nai. 29. Vũ Cao Đàm (2009), Phương pháp nghiên cứu khoa học, tập bài giảng cho chuyên ngành quản lý giáo dục, Hà Nội./.

47

SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI TRUNG TÂM GDTX TỈNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Đồng Nai, ngày 20 tháng 5 năm 2015

PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học: 2014 – 2015 Tên sáng kiến kinh nghiệm: Quản lý hoạt động liên kết đào tạo (ĐH, CĐ, TCCN) tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai.

Họ và tên tác giả: LƯƠNG TRỌNG THÔNG Chức vụ: Phó Giám đốc

Đơn vị: Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai.

Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)

- Quản lý giáo dục 

- Phương pháp dạy học bộ môn:

- Phương pháp giáo dục 

- Lĩnh vực khác: ........................................................ 

Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị  Trong Ngành 

1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)

- Có giải pháp hoàn toàn mới 

- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có 

2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây) - Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao  - Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng

trong toàn ngành có hiệu quả cao 

- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao  - Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng

tại đơn vị có hiệu quả 

Tốt  Đạt 

Đạt  và dễ đi vào cuộc sống: Tốt 

3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây) - Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách: Khá  - Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện Khá  - Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu Khá  Đạt  quả trong phạm vi rộng: Tốt 

XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN (Ký tên và ghi rõ họ tên) THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Huỳnh Minh Huờn