SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TIỀN GIANG
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN
-----oOo-----
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
SỬ DỤNG DI SẢN TRONG GIẢNG DẠY
MÔN ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ KIM THOA
Năm học 2013 -2014
PHẦN MỞ ĐẦU
Di sản văn hoá Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hoá của
cộng đồng các dân tộc anh em, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền,
kế thừa và sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay là bức tranh đa dạng văn hoá.
Di sản văn hoá Việt Nam là những giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giao lưu và
kế thừa từ các nền văn hoá và văn minh của nhân loại. Những giá trị đó là sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa văn hoá và văn minh của nhân loại với nền văn hoá bản địa lâu đời
của các dân tộc Việt Nam.
Di sản văn hoá Việt Nam, đặc biệt là di sản văn hoá phi vật thể có sức sống
mạnh mẽ, đang được bảo tồn và phát huy trong đời sống cộng đồng các dân tộc Việt
Nam.
Để giúp học sinh có những hiểu biết về những giá trị của di sản, qua đó giáo
dục học sinh ý thức giữ gìn, bảo vệ các di sản , đồng thời góp phần thúc đẩy việc đổi
mới phương pháp dạy học, thực hiện đa dạng hoá hình thức tổ chức dạy học, Bộ Giáo
dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã tổ chức triển khai
chương trình tập huấn “Sử dụng Di sản trong dạy học ở trường phổ thông” ở các bộ
môn Lịch sử, Địa lý và Âm nhạc. Bản thân tôi là một giáo viên Địa lý nên rất quan
tâm đến vấn đề này và tôi đã chọn đề tài để nghiên cứu viết sáng kiến kinh nghiệm:
1
“Sử dụng di sản trong dạy học Địa lý ở trường Trung học phổ thông”
PHẦN NỘI DUNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI SẢN
1.1. Khái niệm di sản
Di sản văn hoá Việt Nam bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá
vật thể (bao gồm di sản văn hoá và di sản thiên nhiên) và sản phẩm tinh thần, vật chất
có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
1.2. Đặc diểm của di sản văn hoá Việt Nam
Di sản văn hoá Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hoá của
cộng đồng 54 dân tộc anh em, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền,
kế thừa và tái sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay. Di sản văn hoá Việt Nam là
bức tranh đa dạng văn hoá, là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và
là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại. Di sản văn hoá Việt Nam có vai trò to lớn
trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.
Di sản văn hoá Việt Nam là những giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giao lưu và kế thừa
từ các nền văn hoá và văn minh của nhân loại. Những giá trị đó là sự kết hợp nhuần
nhuyễn giữa văn hoá và văn minh của nhân loại với nền văn hoá bản địa lâu đời của
các dân tộc Việt Nam.
Di sản văn hoá Việt Nam, đặc biệt là di sản văn hoá phi vật thể có sức sống
mạnh mẽ, đang được bảo tồn và phát huy trong đời sống của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam. Nhà nước Cộng đồng xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hoá thông qua Luật di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2001 và được sửa đổi năm 2009.
1.3. Phân loại di sản
Di sản văn hoá Việt Nam được chia thành hai loại: di sản văn hoá vật thể và di
sản văn hoá phi vật thể.
1.3.1. Di sản văn hoá vật thể:
Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm có giá trị vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá,
2
khoa học bao gồm di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật quốc gia.
Di sản văn hoá vật thể bao gồm:
- Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,
bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, giáo dục.
- Danh lam thắng cảnh còn gọi là di sản thiên nhiên là cảnh quan thiên nhiên
hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên vời công trình kiến trúc có giá
trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học.
- Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.
- Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu lịch sự, văn hoá,
khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.
- Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm
tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học.
1.3.2. Di sản văn hoá phi vật thể :
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá
nhân, vật thể và không gian văn hoá liên quan, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, thể
hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề và các hình thức khác.
Di sản văn hoá phi vật thể bao gồm:
- Tiếng nói, chữ viết của của các dân tộc Việt Nam: Ngữ văn dân gian, bao gồm
sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười,
truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi
chép bằng chữ viết;
- Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các
hình thức trình diễn dân gian khác;
- Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và
các phong tục khác.
- Lễ hội truyền thống;
- Nghề thủ công truyền thống;
3
- Tri thức dân gian.
II . SỬ DỤNG DI SẢN QUỐC GIA TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1.Di sản văn hoá vật thể
2.1.1. Vườn Quốc gia
Vùng Tên vườn Địa điểm Diện tích (ha)
Bái Tử Long Ba Bể Năm thành lập 2001 1992 15.783 Quảng Ninh 7.610 Bắc Kạn
Tam Đảo 1986 36.883 Trung du và miền núi phía Bắc Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang
Đồng bằng Xuân Sơn Hoàng Liên Cát Bà Xuân Thủy Ba Vì 2002 1996 1986 2003 1991 15.048 Phú Thọ 38.724 Lai Châu, Lào Cai 15.200 Hải Phòng 7.100 Nam Định 6.986 Hà Nội Bắc Bộ
Cúc Phương 1966 22.200 Ninh Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình
1992 2001 2002 16.634 Thanh Hóa 91.113 Nghệ An 55.029 Hà Tĩnh Bắc Trung Bộ
2001 85.754 Quảng Bình
Nam Trung Bộ
Tây Nguyên
Bến En Pù Mát Vũ Quang Phong Nha-Kẻ Bàng Bạch Mã Phước Bình Núi Chúa Chư Mom Ray Kon Ka Kinh Yok Đôn Chư Yang Sin Bidoup Núi Bà 1991 2006 2003 2002 2002 1991 2002 2004 22.030 Thừa Thiên-Huế 19.814 Ninh Thuận 29.865 Ninh Thuận 56.621 Kon Tum 41.780 Gia Lai 115.545 Đăk Lăk 58.947 Đăk Lăk 64.800 Lâm Đồng
Cát Tiên 1992 73.878 Đông Nam Bộ Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước
26.032 Bình Phước 18.765 Tây Ninh 15.043 Bà Rịa-Vũng Tàu 7.588 Đồng Tháp
Đồng bằng 2002 2002 1993 1994 2003 2006 41.862 Cà Mau 8.286 Cà Mau sông Cửu Long 2002 8.053 Kiên Giang
4
Bù Gia Mập Lò Gò Xa Mát Côn Đảo Tràm Chim Mũi Cà Mau U Minh Hạ U Minh Thượng Phú Quốc 2001 31.422 Kiên Giang
2.1.2. Khu bảo tồn thiên nhiên
Vùng Tên khu bảo tồn Địa điểm Năm thành lập Diện tích (ha)
2003 14.851 Quảng Ninh
2002 2003 13.023 Bắc Giang 8.293 Lạng Sơn 10.261 Cao Bằng 14.772 Bắc Kạn
18.859 Thái Nguyên
15.902 Tuyên Quang 22.402 Tuyên Quang
Trung du và miền núi phía Bắc
9.043 Hà Giang 4.531 Hà Giang 11.540 Hà Giang 7.911 Hà Giang 14.489 Hà Giang 25.173 Lào Cai 33.775 Lai Châu 44.940 Điện Biên 11.996 Sơn La 17.369 Sơn La 13.412 Sơn La 16.317 Sơn La 16.400 Yên Bái 2001 1994 2000 1994 1998 2002 1996 5.258 Hoà Bình
15.891 Hoà Bình
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung Bộ
5
5.647 Hoà Bình 5.873 Hoà Bình 3.245 Thái Bình 1.974 Ninh Bình 23.028 Thanh Hóa 16.902 Thanh Hóa 23.475 Thanh Hóa 35.723 Nghệ An 40.128 Nghệ An 21.759 Hà Tĩnh 25.200 Quảng Trị 37.640 Quảng Trị 30.263 Thừa Thiên-Huế Đồng Sơn-Kỳ Thượng Tây Yên Tử Hữu Liên Núi Pia Oắc Kim Hỷ Thần Sa-Phượng Hoàng Chạm Chu Na Hang Bắc Mê Bát Đại Sơn Du Già Phong Quang Tây Côn Lĩnh Văn Bàn Mường Tè Mường Nhé Copia Sốp Cộp Tà Xùa Xuân Nha Nà Hẩu Hang Kia-Pà Cò Ngọc Sơn-Ngổ Luông Phu Canh Thượng Tiến Tiền Hải Vân Long Pù Hu Pù Luông Xuân Liên Pù Hoạt Pù Huống Kẻ Gỗ Bắc Hướng Hóa Đakrông Phong Điền Sơn Trà 1994 2002 3.871 Đà Nẵng Duyên hải Nam Trung Bộ Bà Nà-Núi Chúa 30.206 2.753 Đà Nẵng và Quảng Nam
17.576 Quảng Nam 79.694 Quảng Nam 22.545 Bình Định 19.164 Khánh Hòa 13.392 Phú Yên 24.017 Bình Thuận 8.468 Bình Thuận 38.109 Kon Tum
15.446 Gia Lai
Tây Nguyên
24.017 Đắk Lắk 21.912 Đắk Lắk 10.912 Đắk Nông 17.915 Đắk Nông
10.905 Bà Rịa - Vùng Tàu Đông Nam Bộ
53.850 Đồng Nai
5.030 Long An
2.584 Bến Tre
Đồng bằng sông Cửu Long 363 Bạc Liêu
965 Kiên Giang Ngọc Linh Sông Thanh An Toàn Hòn Bà Krông Trai Núi Ông Tà Kóu Ngọc Linh Kon Cha Răng (Kon Chư Răng) Ea Sô Nam Kar Nam Nung Tà Đùng Bình Châu-Phước Bửu Vĩnh Cửu Láng Sen Thạnh Phú Ấp Canh Điền Hòn Chông
2.1.3. Khu bảo tồn các loài sinh vật quý hiếm:
Vùng Tên khu bảo tồn Địa điểm Diện tích (ha)
2.261 Cao Bằng
1.788 Bắc Kạn
2.010 Hà Giang Trung du và miền núi phía Bắc
20.293 Yên Bái
10.311 Thừa Thiên-Huế Bắc Trung Bộ Thừa Thiên-Huế
6
Quảng Nam Khu bảo tồn loài vượn Cao vít Trùng Khánh Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh voọc mũi hếch Khau Ca Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Chế Tạo Khu bảo tồn Hương Nguyên Khu bảo tồn Sao La Thừa Thiên-Huế Khu bảo tồn Sao La Quảng Nam Duyên hải Nam Trung Bộ
660 Kon Tum
49 Đắk Lắk Tây Nguyên
100 Đắk Lắk
791 Hậu Giang
385 Bạc Liêu Đồng bằng sông Cửu Long
130 Cà Mau Khu bảo tồn Đắk Uy Khu bảo tồn sinh cảnh Ea Ral Khu bảo tồn Trấp Ksơ Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng Khu bảo tồn thiên nhiên vườn Chim Bạc Liêu Sân Chim đầm Dơi
2.2. Di sản văn hoá phi vật thể: 2.2.1. Lễ hội truyền thống:
Tháng Địa phương Ghi chú Ngày âm lịch Lễ hội truyền thống ngày 1 tháng 1 Tết Nguyên đán Cả nước
ngày 5 tháng 1 Lễ hội Đống Đa
ngày 5-10 tháng 1 Hội vật Liễu Đôi tại làng Liễu Đôi
ngày 6 tháng 1 hội Gióng Sóc Sơn
ngày 6-16 tháng 1 Lễ hội Cổ Loa
ngày 6-1 tháng 1-3 Lễ hội chùa Bái Đính
ngày 7 tháng 1 Chợ Viềng
ngày 7 tháng 1
ngày 9 tháng 1 Lễ hội đầm Ô Loan Đại lễ Đức Chí Tôn Hà Nội, quận Đống Đa Hà Nam, huyện Thanh Liêm Hà Nội, Sóc Sơn Hà Nội, Đông Anh Ninh Bình, Gia Viễn Nam Định, Vụ Bản Phú Yên, Ô Loan Tây Ninh, Đạo Cao Đài
ngày 10 tháng 1 Hội xuân Yên Tử Quảng Ninh, núi Yên Tử Thiền phái Trúc Lâm, đến hết tháng 3
ngày 12-13 tháng 1 Hội phết Hiền Quan
ngày 13 tháng 1 Hội Lim
ngày 6 tháng 1 Lễ hội chùa Hương Phú Thọ, huyện Tam Nông Ninh, Bắc huyện Tiên Du Hà Nội, huyện Mỹ Đức
7
ngày 15-22 tháng 1 Hội chùa Côn Sơn Hải Dương, huyện Chí Linh tưởng nhớ sư Huyền Quang và Nguyễn Trãi
Tháng Địa phương Ghi chú Ngày âm lịch Lễ hội truyền thống thị ngày 15 tháng 1 Lễ hội làm chay Long An, trấn Tầm Vu
ngày 15 tháng 1 - Tết Nguyên tiêu
ngày 17 tháng 1 Lễ hội chọi trâu Phúc, Lập không tổ chức từ 1947-2002
ngày 18-19 tháng 1 Hội Xuân núi Bà
ngày 10 tháng 2 khôi phục từ 2003
tháng 2 ngày 10, 11, 12
ngày 19 tháng 2 Ngũ Hành Sơn
Lễ hội đình Yên Phụ Lễ hội Miếu Mạch Lũng Lễ hội Quán Thế Âm Tiết Thanh minh tháng 3 Vĩnh huyện Thạch Tây Ninh, Núi Bà Đen Hà Nội, Hồ Tây Hà Nội, Đông Anh Đà Nẵng, Ngũ Hành Sơn
tháng 3 Hội đua voi Tây Nguyên
ngày 3 tháng 3 Tết Hàn thực
ngày 5 tháng 3 Hội Phủ Giầy lớn nhất ở Đắc Lắc, bản Đôn thờ Mẫu Liễu Hạnh
tháng 3 và 7 Lễ hội Điện Hòn Chén thờ Thiên Y A Na
ngày 5-7 tháng 3
Bình, ngày 6 tháng 3 tên cũ: Lễ hội Trường Yên Bình, ngày 14-17 tháng 3 Lễ hội Chùa Thầy Lễ hội cố đô Hoa Lư Lễ hội đền Thái Vi Yên, ngày 9 tháng 3 Lễ hội Nam Trì Nam Định, Vụ Bản Thừa Thiên - Huế, huyện Hương Trà Hà Tây, Quốc Oai Ninh huyện Hoa Lư Ninh huyện Hoa Lư Hưng huyện Ân Thi
ngày 10 tháng 3 Nhiều nơi Giỗ tổ Hùng Vương
ngày 10-15 tháng 3 Lễ hội đền Mẫu lớn nhất tại Đền Hùng, Phú Thọ thờ Dương Quý Phi
ngày 01 tháng 4 Lễ hội Làng cá Cát Bà
ngày 6-10 tháng 4
ngày 15 tháng 4 Hưng Yên, Phố Hiến Hải Phòng, huyện Cát Hải, Thị trấn Cát Bà Hà Nội, huyện Gia Lâm - Phật giáo
8
ngày 15 tháng 4 Nam Bộ Tết người Khmer Hội Gióng Phù Đổng Lễ Phật Đản Lễ hội Chol Chnam Thmay
Tháng Địa phương Ghi chú Ngày âm lịch Lễ hội truyền thống
ngày 18-20 tháng 4 Lễ khao lề thế lính Quảng Ngãi, huyện Lý Sơn
Giang, ngày 23-27 tháng 4 Lễ hội miếu Bà Chúa Xứ An Châu Đốc
ngày 5 tháng 5 Tết Đoan ngọ -
ngày 7 tháng 7 Thất Tịch tại Miếu Bà Chúa Xứ, Núi Sam Tết giết sâu bọ Ngày lễ tình nhân Đông phương
ngày 15 tháng 7 - báo hiếu cha mẹ
Thiết sau rằm tháng 7 Phan (Bình Thuận) Lễ Vu Lan, Tết Trung Nguyên Lễ hội Nghinh Ông (Quan Thánh Đế Quân)
tháng 8 Lễ hội Katê Bình Thuận của Người Hoa, tổ chức vào năm chẵn Tây Lịch Lễ hội người Chăm, 1 tháng 7 theo lịch Chăm
tháng 8 Lễ hội chọi trâu ngày 9
ngày 15 tháng 8
ngày 15-20 tháng 8 Tết thiếu nhi thờ Trần Hưng Đạo Tết Trung Thu Hội Đền Kiếp Bạc
Đạo Cao Đài ngày 15 tháng 8 Hội Yến Diêu Trì
Láng, ngày 16 tháng 8 Hải Phòng, Đồ Sơn - Dương, Hải huyện Chí Linh Tây Ninh, Tòa Thánh Tây Ninh Vàm Tiền Giang
ngày 27 tháng 8 Rạch Giá, Kiên Giang Lễ hội Nghinh Ông (Cá Voi) Lễ hội AHDT Nguyễn Trung Trực
ngày 13-15 tháng 9 Lễ hội Chùa Keo
Tết song thập Thái Bình, Vũ Thư ngày 10 tháng 10
ngày 14-16 tháng 11 Ninh Bình, huyện Kim Sơn
ngày 23 tháng 12 - Tết cơm mới Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ Tiễn Ông Táo về trời
2.2.2. Các làng nghề thủ công truyền thống:
Dù nhiều làng nghề truyền thống đã biến mất cùng với thời gian, nhưng hiện
nay, Việt Nam còn có gần 2.000 làng nghề thuộc các nhóm nghề chính như: sơn mài,
9
gốm sứ, vàng bạc, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá...
STT Quận/Huyện Tỉnh/Thành Tên làng nghề truyền thống Sản phẩm chính
Làng Lâm Xuân chiếu cói Gio Linh Quảng Trị 1
Làng Thổ Hà gốm mỹ nghệ Việt Yên Bắc Giang 2
Làng Ninh Vân đá mỹ nghệ Hoa Lư Ninh Bình 3
Làng Kiêu Kỵ dát vàng quỳ Gia Lâm Hà Nội 4
Làng Phù Lãng gốm mỹ nghệ Quế Võ Bắc Ninh 5
Làng Phước Tích gốm mỹ nghệ Hương Điền 6 Thừa Thiên Huế
Làng hoa Ninh Phúc trồng hoa Ninh Bình 7 thành phố Ninh Bình
Làng Đồng Kỵ gỗm mỹ nghệ Từ Sơn Bắc Ninh 8
Làng Đông Hồ tranh dân gian Thuận Thành Bắc Ninh 9
Làng cói Kim Sơn Làng nghề cói Kim Sơn Ninh Bình 10
Làng Non Nước đá mỹ nghệ Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng 11
Làng Châu Khê trang sức Bình Giang Hải Dương 12
Làng Đồng Xâm chạm bạc Kiến Xương Thái Bình 13
Làng Vạn Phúc lụa Hà Đông Hà Nội 14
Làng Sơn Đồng gỗ mỹ nghệ Hoài Đức Hà Nội 15
Làng Kiên Lao Xuân Trường Nam Định 16 sản phẩm cơ khí
Làng Diệc gỗ mỹ nghệ Hưng Hà Thái Bình 17
Làng Văn Lâm thêu ren Ninh Bình 18 Hoa Lư, Ninh Bình
Làng La Xuyên chạm khảm gỗ Ý Yên Nam Định 19
Làng Đại Nghiệp mộc mỹ nghệ Phú Xuyên Hà Nội 20
Làng Cao Thôn hương trầm Hưng Yên 21 thành phố Hưng Yên
Làng Đông Giao chạm khắc gỗ Cẩm Giàng Hải Dương 22
Làng Xuân Lai tre trúc Gia Bình Bắc Ninh 23
Làng đào Đông Sơn Ninh Bình 24 Nghề trồng hoa đào Thị xã Tam Điệp
Làng Hồi Quan dệt Từ Sơn Bắc Ninh 25
Làng Đại Bái đúc đồng Gia Bình Bắc Ninh 26
10
Làng Hương Mạc chạm khảm gỗ Từ Sơn Bắc Ninh 27
STT Quận/Huyện Tỉnh/Thành Tên làng nghề truyền thống Sản phẩm chính
28 Làng Tam Tảo dệt Tiên Du Bắc Ninh
29 Làng Phúc Lộc Nghề mộc Ninh Bình thành phố Ninh Bình
30 Làng Mai Động gỗ mỹ nghệ Từ Sơn Bắc Ninh
31 Làng Phù Khê chạm khắc gỗ Từ Sơn Bắc Ninh
32 Làng Vọng Nguyệt dệt tơ tằm Yên Phong Bắc Ninh
33 Bản Đỉnh Sơn mây tre đan lát Kỳ Sơn Nghệ An
34 Làng Tân Châu lụa lãnh Tân Châu An Giang
35 Làng Tăng Tiến mây tre Việt Yên Bắc Giang
36 Làng An Hội đúc đồng Gò Vấp TPHCM
37 Làng Bảy Hiền dệt vải Tân Bình TPHCM
38 Làng nem Thủ Đức Thủ Đức TPHCM chế biến nem chả
39 Làng Bát Tràng gốm mỹ nghệ Gia Lâm Hà Nội
40 Làng Nga Sơn chiếu cói Nga Sơn Thanh Hóa
41 Làng Cót vàng mã Cầu Giấy Hà Nội
42 Làng Phong Khê giấy đống cao Bắc Ninh thành phố Bắc Ninh
43 Làng Trường Yên nghề xây dựng Hoa Lư Ninh Bình
44 Làng Đa Hội kim khí Từ Sơn Bắc Ninh
45 Làng Nội Duệ lụa Tiên Du Bắc Ninh
46 Nghề nấu rượu Kim Sơn Ninh Bình Làng nấu rượu Kim Sơn
47 Làng Bạch Liên Nghề gốm Yên Mô Ninh Bình
48 Cự Khê Nghề làm miến Thanh Oai Hà Nội
49 Làng gốm Gia Thủy Nghề gốm Nho Quan Ninh Bình
50 Cẩm Giàng Hải Dương Làng Nghề rượu Phú Lộc Nghề nấu Rượu
51 Làng Vòng Cốm Cầu Giấy Hà Nội
52 Làng An Thái Giấy Tây Hồ Hà Nội
53 Làng La Khê the lụa Hà Đông Hà Nội
54 Bàu Trúc gốm Ninh Phước Ninh Thuận
11
55 Chuôn Ngọ khảm xà cừ Phú Xuyên Hà Nội
III. SỬ DỤNG DI SẢN ĐỊA PHƯƠNG TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÝ Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
3.1. Di tích lịch sử
3.1.1. Mộ Thủ Khoa Huân
Mộ Thủ Khoa Huân (xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang) thuộc
loại hình di tích lịch sử dân tộc. Lúc đầu mộ được lắp bằng đất, đến năm 1927 con
cháu của ông và nhân dân địa phương xây lại bằng đá xanh. Đây là nơi chôn cất Phó
đề đốc, nhà thơ, nhà trí thức yêu nước Thủ Khoa - Nguyễn Hữu Huân. Khu di tích Đền thờ Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân với diện tích 3.500 m2. Hiện nay, tại đây đã thành
lập Ban bảo vệ Đền thờ Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân, hằng ngày có người bảo vệ,
chăm sóc khu di tích và đón tiếp khách tham quan.
3.1.2. Chiến Lũy Pháo Đài
Luỹ Pháo Đài thuộc ấp Pháo Đài, xã Phú Tân, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền
Giang. Di tích nằm ngay Cửa Tiểu trên cù lao Phú Tân nên đường đi đến chủ yếu bằng
đường thuỷ hoặc đường bộ. Luỹ Pháo Đài xung quanh là thành đất đắp cao, dày có 06
cạnh cân đối khá đều nhau, thành hình lục lăng (lục giác), diện tích khoảng 3.000m
vuông,trên thành đất trồng me, chính giữa có cây trôm to và giếng nước. Theo hướng
Đông-Nam pháo đài có một gò tròn cao 21m, đường kính 15-20m. Đó là Gò Thổ Sơn
có thể đó là đài quan sát của nghĩa quân. Bao bọc bên ngoài thành luỹ là rừng kè,
đước, dừa nước, bần. Dưới lòng sông, để bảo vệ cửa sông và ngăn chặn tàu chiến của
địch có ủi bải xung phong lên bờ. Đồng thời, làm tàu địch giảm tốc độ làm bia cho
những khẩu thần công và đẩy địch dạt sang bờ Trại Cá cho nghĩa quân tiêu diệt, cho
nên Trương Định đã đổ đá hàn một đoạn theo chiều rộng của sông Cửa Tiểu trước
chiến luỹ về hướng Tây mặt khẩu thần công chừng 120m đến 150m gọi là Đập đá hàn,
ngày nay Đập đá hàn vẫn còn và đã được đánh dấu để tàu bè ra vào không vướng phải
3.1.3. Đền thờ Trương Định ở Gia Thuận
Đền thờ Trương Định toạ lạc tại ấp 2, xã Gia Thuận, huyện Gò Công, tỉnh Tiền
Giang. Đền thờ thuộc loại hình di tích lịch sử dân tộc, nơi thờ cúng vị anh hùng dân
tộc Trương Định-người có công khai phá mở mang vùng đất Gò Công. Ông là một
12
trong những người lãnh đạo nhân dân Nam Kỳ đứng lên chống quân xâm lược Pháp
trong giai đoạn đầu 1858-1864 trước sự nhu nhược của Triều Đình nhà Nguyễn. Để
tưởng nhớ công đức của Ông, nhân dân Gò Công thường gọi là “Trương Công Định”
hoặc “Ông Trương”, có nơi ở Gò Công gọi là “Ông Lớn”.
3.1.4. Lăng mộ và đền thờ Trương Định
Đền thờ Trương Định toạ lạc tại phường 1, thị xã Gò Công, di tích nằm ngay
trung tâm thị xã Gò Công . Mộ Trương Định là di tích lịch sử dân tộc, thuộc loại hình
di tích lịch sử nơi lưu niệm danh nhân lịch sử nước ta trong thời kỳ kháng chiến chống
Pháp giữa những năm 1860 của thế kỷ 19.
Ngôi mộ tuy không nguy nga, lộng lẫy vì chính sách phản dân tộc của kẻ xâm
lược và chế độ cũ, nhưng nói lên sự tôn kính và ngưỡng mộ công đức của nhân dân địa
phương đối với người anh hùng. Ngày nay trong miếu thờ, ảnh của vị anh hùng dân
tộc đặt ngay bàn thờ chính, hai bên tả, hữu "TẢ VĂN BAN, HỮU VÕ BÁ" và nhiều
câu đối do nhân dân địa phương viết để thờ các vị quan văn và quan võ của Trương
Định.
3.1.5. Chợ Giữa Vĩnh Kim
Chợ Giữa xưa nằm ở làng Vĩnh Kim Đông thuộc tổng Thuận Bình - tỉnh Mỹ
Tho, nay thuộc ấp Vĩnh Hoà, xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang. Cách
thành phố Mỹ Tho 20 km về phía Đông, cách quốc lộ 1A 6km về phía Bắc. Di tích
Chợ Giữa Vĩnh Kim là di tích lịch sử cách mạng nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp
xâm lược đối với nhân dân ta nói chung và nhân dân Mỹ Tho (Tiền Giang) nói riêng..
Tại di tích này, tỉnh Tiền Giang đã xây dựng một tượng đài với chất liệu bằng đồng,
cao 8 mét, biểu tượng một phụ nữ một tay bồng con, một tay cầm cây đòn gánh bị gãi
với những đường nét mạnh mẽ, đầy căm thù, phía sau tượng đài là tranh gốm sứ tái
hiện cảnh thảm sát năm xưa, phía trước là công viên được trồng cây cảnh, kiểng rất
đẹp mắt. Di tích Chợ Giữa Vĩnh Kim nằm trong khu tam giác giữa các di tích Rạch
Gầm-Xoài Mút; di tích Nam Kỳ Khởi Nghĩa (đình Long Hưng); di tích Chiến thắng
Ấp Bắc.
3.1.6. Lăng Tứ Kiệt
Lăng Tứ Kiệt là tên gọi mộ và đền thờ của bốn vị anh hùng chống Pháp ở Cai
13
Lậy gồm: Nguyễn Thanh Long; Trần Công Thận (Trần Quang Thận); Trương Văn
Rộng và Ngô Tấn Đước (Đức) đã lãnh đạo nhân dân và nghĩa quân Cai Lậy–Cái Bè
đứng lên chống Pháp xâm lược trong những thập niên cuối của thế kỷ XIX. Sau khi
Bốn ông hy sinh ngày 14 tháng 2 năm 1871, nhân dân lập mộ và đền thờ tại Thị trấn
Cai Lậy và để tỏ lòng tôn kính nhân dân gọi là Lăng Tứ Kiệt. Theo lời truyền của dân
gian, bốn ông đều là những người can đảm và mưu lược hơn người, thân hình cao lớn,
gương mặt cương nghị, da màu đồng đen, sức khỏe phi thường và võ nghệ cao cường.
Cảm phục cuộc đời và tấm gương chiến đấu oanh liệt, bất khuất của bốn ông, nhân dân
Cai Lậy đã đấp nên một đất, xung quanh có làm hàng rào bằng gỗ tốt, quét vôi trắng
và sau nhiều lần sửa chữa, trùng tu. Năm 1999, Lăng mộ của bốn ông được tỉnh Tiền
Giang trùng tu với quy mô lớn, trông rất khang trang và cổ kính. Hằng năm Chính
quyền, các Đoàn thể và nhân dân huyện Cai Lậy cúng bốn vị anh hùng dân tộc vào
ngày 14/02 tại Lăng Tứ Kiệt.
3.1.7.Chiến thắng Giồng Dứa
Giồng Dứa là một bộ phận của Ba Giồng ở Tiền Giang (cánh én, kỳ lân và qua
qua) chạy theo hướng Bắc - Nam, xuất phát từ xã Tam Hiệp chạy đến Quốc lộ 1A
thuộc ấp Đông xã Long Định huyện Châu Thành, do quá nhiều cây dứa gai mọc hoang
um tùm nên nhân dân địa phương gọi là Giồng Dứa.
Chiến thắng Giồng Dứa là di tích lịch sử cách mạng thời kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta trong giai đoạn 1945-1954.Chính tại nơi đây
trong những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược, quân và dân
Mỹ Tho (Tiền Giang) dưới sự chỉ huy của đồng chí Trần Văn Trà Khu Bộ trưởng Khu
8, đánh tiêu diệt đoàn xe Công voa và đoàn xe của chính phủ bù nhìn Nam Kỳ tự trị
ngày 25 tháng 04 năm 1947. Theo đánh giá của Phòng khoa học lịch sử quân sự quân
khu 9: “Chiến thắng Giồng Dứa (Mỹ Tho) là một trong những trận tiêu diệt tiêu biểu ở
nước ta trong những tháng đầu toàn quốc kháng chiến. Là những trận tiêu diệt địch lớn
có tác dụng thối động hàng ngũ địch góp phần làm thất bại âm mưu bình định Nam Bộ
(đồng bằng sông Cửu Long) của giặc Pháp và thúc đẩy khí thế đấu tranh cách mạng
tạo được sự tin tưởng, phấn khởi trong nhân dân từ địa phương đến cả nước.
Chiến thắng Giồng Dứa đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang ta
nói chung cả về trình độ nghệ thuật tác chiến, chỉ huy, sử dụng lực lượng, bố trí thế
14
trận của cuộc chiến tranh nhân dân. Đồng thời khẳng định tinh thần chiến đấu anh
dũng mưu trí của cán bộ chiến sĩ địa phương sẵn sàng vùng lên bảo vệ độc lập, tự do
của tổ quốc theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng và Hồ Chủ Tịch”.
Năm 1985 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang xây dựng tại đây 01 tượng đài
chiến thắng gồm: tượng tròn và phù điêu mô tả trận đánh do hai nhà điêu khắc Đỗ Như
Cẩn và Phạm Mười tạo mẫu, đồng chí Thượng tướng Trần Văn Trà làm cố vấn tượng
đài mô tả lại cảnh chiến đấu đốt xe địch của quân ta bằng 3 thứ quân, với nhân vật
được thể hiện: nữ dân quân, vệ quốc quân và một nông dân thổi tù và.
3.1.8.Chiến thắng Cổ Cò
Địa điểm di tích chiến thắng Cổ Cò nằm trên quốc lộ 1A thuộc xã An Thái
Đông, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Trận đánh Cổ Cò đánh dấu bước trưởng thành
của bộ đội chủ lực khu 8 và bộ đội địa phương tỉnh Mỹ Tho về trình độ tác chiến chỉ
huy, bố trí thế trận, sử dụng lực lượng và cách đánh phục kích. Thể hiện tinh thần
chiến đấu mưu trí, dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ; góp phần thúc đẩy phong trào chiến
tranh du kích ở địa phương cũng như cả nước phát triển mạnh mẽ. Chiến thắng Cổ Cò
là trận đánh lớn đầu tiên trên chiến trường Khu 8, kể từ khi hưởng ứng Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
3.1.9. Bến đò Phú Mỹ
Làng Phú Mỹ xưa thuộc Tân Hiệp tỉnh Định Tường, ngày nay di tích Bến đò
Phú Mỹ thuộc xã Phú Mỹ, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, cách Quốc lộ I khoảng
10km, nằm bên trái từ Mỹ Tho đi thành phố Hồ Chí Minh,
Di tích Bến đò Phú Mỹ là di tích lịch sử cách mạng-nơi ghi dấu tội ác của thực
dân Pháp đối với nhân dân ta vào những năm 1945-1947 trong giai đoạn Pháp trở lại
xâm lược nước ta. Với lần trở lại này chúng dùng thủ đoạn vô cùng tàn ác với một hệ
thống kìm kẹp, càn quét tàn sát của bè lũ tay sai hết sức tàn án giả mang, đầu não là
đồn Tây tại Bến đò Phú Mỹ gần 10 tên lính Pháp với vũ khí trang bị chánh qui, nên
người dân nơi đây chỉ có hai con đường: một là vào đạo Cao Đài, hai là tham gia
kháng chiến hoặc bỏ xứ ra đi. Đã hơn 60 năm qua, nhưng mỗi khi nhắc đến là người
dân nơi đây không khỏi bàng hoàng nhớ về một thời kỳ đầy man rợ mà thực dân Pháp
đã gây ra đối với dân làng Phú Mỹ. Những hình ảnh đau thương gợi nhớ một thời đất
15
nước, nhân dân ta sống dưới ách thuộc địa của thực dân Pháp như nhắc nhở chúng ta
về tội ác đất không dung, trời không tha mà kẻ thù đã gây ra cho đồng bào ta trong
những năm 1947-1949.
3.1.10. Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút
Rạch Gầm - Xoài Mút là tên hai con rạch đổ ra sông Tiền, (một nhánh lớn của
sông Mê kông, đây là nơi đầu tiên trên địa bàn phía Nam của Tổ quốc đã diễn ra một
trận thủy chiến chiến lược đánh tan 300 chiến thuyền, 5 vạn quân Xiêm xâm lược và
tập đoàn phong kiến bán nước Nguyễn Ánh vào đêm 19 rạng sáng 20 tháng 01 năm
1785.Có thể nói, chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút là một chiến công chống ngoại
xâm lừng lẫy của nhân dân Đàng Trong, lớn nhất trong 5 thế kỷ kể từ chiến thắng
Bạch Đằng ở thế kỷ thứ 13. Với chiến thắng này, nhân dân miền Nam đã nêu cao
truyền thống anh hùng của dân tộc và xứng đáng là bức thành kiên cố phía Nam của
Tổ quốc.
Khu di tích Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút tọa lạc tại ấp Đông, xã Kim
Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, nằm cạnh bờ sông Tiền, ngay mặt tiền tỉnh
lộ 864, cách Mỹ Tho khoảng 12 km về phía tây. Di tích đã được đưa vào sử dụng vào
ngày 20 tháng 01 năm 2005 nhân kỷ niệm 220 năm ngày chiến thắng Rạch Gầm -
Xoài Mút.
3.1.11. Chiến thắng Ấp Bắc
Ấp Bắc thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nơi diễn ra trận
đánh lớn nhất miền Nam kể từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ vào ngày 02 tháng 01 năm
1963, báo hiệu sự sụp đổ của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" mà Mỹ áp dụng trong
chiến tranh xâm lược Việt Nam. Hàng năm vào ngày 02 tháng 01 dương lịch, Đảng bộ,
chính quyền và nhân dân địa phương long trọng tổ chức lễ kỷ niệm tại khu di tích này.
3.2. Di tích văn hoá:
3.2.1. Đình Đồng Thạnh
Đình Đồng Thạnh được thành lập vào cuối thế kỷ XIX, sơ khai đình được xây
dựng bằng tre lá đơn sơ, vào những đầu thế kỷ XX, trước làn sóng văn hoá phương
Tây, người dân đã phản ứng bằng cách trùng tu tái thiết các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng
truyền thống nhằm bảo tồn di sản văn hoá của cha ông, trên cơ sở đó, đình Đồng
16
Thạnh được nhân dân trong vùng đóng góp tiền của trùng tu đến năm 1914 mới hoàn
thành và có qui mô đồ sộ, khang trang với lối kiến trúc có sự kết hợp độc đáo phong
cách Đông-Tây, mang đậm bản sắc văn hoá vùng miền và địa phương. Nét đặc sắc
nhất của ngôi đình là nghệ thuật chạm khắc, trang trí hoa văn, tranh đắp nổi trên
tường, tượng gốm…cả ở bên trong và bên ngoài đình. Đặc biệt, với những hoa văn và
họa tiết trang trí ở đình Đồng Thạnh được rút ra từ những hình tượng và triết lý của
Nho, Phật, Lão giáo, đã ăn sâu vào trong tâm khảm của dân tộc ta, được hình tượng
hóa qua tứ linh, tứ quý, bát bửu v.v... và các biểu tượng hàm ý sự giàu sang phú quí,
mong cho hạnh phúc tràn đầy, con đàn cháu đống, mưa thuận gió hòa, mọi vật đều
trường tồn với thiên địa. Với đôi bàn tay tài hoa, các nghệ nhân đã bố cục và thể hiện
hài hoà các đề tài truyền thống trong nghệ thuật điêu khắc Việt Nam với những đường
nét tinh tế uyển chuyển rất sinh động, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, mang tính triết
lý nhân sinh sâu sắc, hàm chứa ước mơ thịnh vượng, tốt lành cho muôn đời của con
người. Có tận mắt chứng kiến lối kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc và đắp nổi tranh của
đình ta mới cảm nhận hết cái đẹp, sự tài hoa của các nghệ nhân, khi đã “thổi hồn” vào
gỗ, xi măng…tạo thành những mảng trang trí nhẹ nhàng, thanh thoát, giàu tính nhân
văn góp phần tăng thêm giá trị của di tích đã tồn tại từ hơn 300 năm qua.
Di tích đình Đồng Thạnh tọa lạc tại ấp Lợi An, xã Đồng Thạnh, huyện Gò Công
Tây. Hằng năm Chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức lễ hội Kỳ yên vào 16
tháng 3 và 16 tháng 11 âm lịch.
3.2.2. Chùa Vĩnh Tràng
Chùa Vĩnh Tràng được lập vào năm 1849, nằm về hướng Đông Bắc của thành
phố Mỹ Tho, Chùa Vĩnh Tràng là một di tích kiến trúc nghệ thuật đứng vào hàng thứ
ba đối với mọi kiểu chùa của đất Nam phần. Chùa được xây dựng pha hòa nét kiến
trúc cả Âu lẫn Á. Trước chùa có hai cổng Tam quan được xây dựng vào năm 1933
theo kiểu cổ lầu của Trung quốc. Cửa ngỏ này được cẩn bằng đồ sứ có giá trị in hình
long, lân, quy, phụng, canh, mục, ngư, tiều...Tất cả đều thể hiện sự sống động vui tươi.
Chùa được xây dựng theo dạng chữ Quốc của Hán tự, gồm 04 gian nối tiếp nhau: tiền
đường, chánh điện, nhà tổ, nhà hậu làm bằng xi măng và gổ quí, nền đúc cao 1m,
chung quanh xây tường vững chắc. Chánh điện được xây dựng theo lối kiến trúc dung
hợp Á Âu với những hàng cột thanh mảnh vòm cong. Trên nóc chùa có năm mái nhô
17
cao, tượng trưng cho Ngũ hành theo quan niệm phương Đông
Bộ tượng cổ nhất chùa là bộ Tam Tôn: Di Đà, Quan Âm, Thế Chí bằng đồng, riêng
tượng Quan Âm bị thất lạc nên đã được làm lại bằng gỗ. Đặc biệt, ở đây có bộ tượng
Thập Bát La Hán cưỡi trên mình các con thú là những tác phẩm chạm khắc gỗ độc đáo
mà một số nghệ nhân Nam bộ đã tạc khá tỉ mỉ vào những năm 1909-1910.
3.2.3. Đình Điều Hòa
Di tích tọa lạc tại số 101, đường Trịnh Hoài Đức, phường 2, thành phố Mỹ Tho,
tỉnh Tiền Giang. Đình Điều Hòa là một công trình kiến trúc nghệ thuật có quy mô xây
dựng lớn, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện qua cấu trúc xây dựng và
các mảng chạm khắc trang trí bên trong.
Đây là nơi tập trung và bảo tồn nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của
Tiền Giang. Hiện trong đình còn lưu giữ, bảo quản các sưu tập lư, đỉnh đồng, sưu tập
binh khí thờ, và nhiều cổ vật gốm sứ của Trung Quốc thế kỷ XVIII - XIX. Đặc biệt là
nghi thức hành lễ cúng bái trong đình có từ các thế kỷ trước vẫn còn lưu lại cho đến
nay.
Với phong cách kiến trúc nghệ thuật thời nhà Nguyễn, đình Điều Hòa xứng
đáng là di sản văn hóa quý hiếm của nhân dân Tiền Giang nói riêng, và nhân dân cả
nước nói chung.
Do có ý thức bảo quản gìn giữ tốt và thường xuyên được nhân dân địa phương
đóng góp tu bổ, nên ngày nay Đình Điều Hòa rất khang trang, giữ nguyên được giá trị
sử dụng ban đầu và còn nhiều cổ vật quý hiếm có từ khi đình mới được thành lập vào
thế kỷ XVIII.
Trải qua hơn 200 năm tồn tại và qua nhiều lần tu bổ, đình Điều Hòa vẫn còn giữ
đuợc dáng vẻ ban đầu, trông rất khang trang và còn sử dụng được lâu dài.Những vị
tiền bối có công khởi dựng đình là các ông Nguyễn Văn Kiên, Nguyễn Văn Trước,
Trương Văn Ân. Nhân dân đã tôn thờ 3 vị tiền bối này là Tiền Hiền Cẩm Địa và Hậu
Hiền Khai Khẩn, và đến nay vẫn còn thờ ở trong đình. Trước kia Đình Điều Hòa được
dùng làm trạm dừng chân của các quan lại dưới triều Nguyễn đi công tác ở địa phương
muốn nghỉ lại qua đêm hoặc chờ đò qua sông. Đồng thời đình còn là nơi thờ cúng
Thành Hoàng Bổn cảnh của nhân dân trong vùng. Đến giữa thế kỷ thứ XIX, đình Điều
18
Hòa được sử dụng với một chức năng duy nhất: thờ cúng Thành Hoàng và những vị
Tiền hiền. Nơi đây, hàng năm vào những ngày lễ hội Kỳ Yên ( 16-17-18 tháng 02 và
16-17-18 tháng 10 âm lịch) nhân dân đã đến cầu an.
3.2.4. Nhà Đốc Phủ Hải
Nhà Đốc Phú Hải thuộc phường I, thị xã Gò Công, là một công trình kiến trúc
phong kiến cuối thế kỷ 19 đầu 20 vùng Gò Công Tiền Giang, ngôi nhà này được khởi
công xây dựng từ giữa những năm 1860, được cất theo dạng chữ Đinh, ba gian lợp lá,
it lâu sau lợp ngói âm dương. Năm 1909-1917 ngôi nhà được tu bổ thêm xây tường,
làm hàng rào sắt, phía sau xây thêm lẫm lúa rất lớn. Trong đợt trùng tu này tốn hết
10.000 giạ lúa tương đương 250 tấn thóc lúc bấy giờ.
Toàn cục ngôi nhà thành thể cách nội công ngoại quốc rất đặc biệt. Địa cuộc
bên ngoài quay về phía Bắc, sau lưng quay về phía Nam. Gồm ba phần: nhà chính có
diện tích là 533,26m2, hai nhà vuông 196,4m2 và lẫm lúa. Vật lệu xây dựng chủ yếu là
gỗ, gạch, xi-măng, ngói.
Vào trong nhà tiền đường nối các khoảng cột với nhau là các bộ bao lam bằng
gỗ chạm hai mặt thể hiện các đề tài tứ linh, tứ quí, bát bửu. Bên cạnh các bao lam là
liễn đại tự để thờ, liễn treo trên cột được khảm xà cừ óng ánh, độc đáo với các tích
truyện Tàu ngày xưa: nhị thập tứ hiếu, Văn Vương cầu hiền… hoặc các nhạc cụ cổ
truyền Việt Nam: đàn bầu, tỳ bà, sáo trúc được các nghệ nhân thể hiện rất công phu tỉ
mỉ. Trên các khánh thờ chạm lưỡng long chầu nguyệt và thếp vàng.
Ngoài các khuôn biển, các liễn đại tự, các đôi liễn trên các vách cột, phải kể đến
các đồ dùng quí hiếm hiện nay còn để lại như: tủ, ghế khảm xà cừ, bàn đá cẩm thạch,
đồ sứ Trung Quốc và Việt Nam thế kỷ 17-18. Giường Tàu (giường Thất Bảo) mặt loát
6 tấm đá cẩm thạch màu sắc khác nhau, thanh chân chạm nổi hoa lá và khảm xà cừ.
Hai bộ đi văng bằng đá cẩm thạch màu trắng vân đen… Đặc biệt các bức tranh vẽ trên
kính, hai bộ tranh hạt cườm bằng nhung đỏ, 8 tấm thêu mai-lan-cúc-trước, xuân-hạ-
thu-đông. Với các công trình còn lại của ngôi nhà và hơn 350 khuôn biển trang trí, đại
tự, liễn khảm xà cừ , cùng với 70 cổ vật có trong nhà hiện nay thì nhà Đốc Phủ Hải là
một trong những ngôi nhà địa chủ phong kiến còn lại tiêu biểu nhất ở đồng bằng sông
19
Cửu Long nói chung và Tiền Giang nói riêng.
3.2.5. Đình Long Trung
Đình Long Trung nằm cách trung tâm huyện Cai Lậy 10km về phía Nam. Đình
Long Trung do dân làng lập vào khoảng cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 để thờ cúng các
vị thần Thành Hoàng mà họ tín ngưỡng cùng những người có công khai khẩn đất
hoang lập làng. Đình Long Trung thuộc loại hình kiến trúc nghệ thuật cổ, có giá trị về
lịch sử. Theo sắc phong của Triều Nguyễn vào năm 1811 (thời vua Thiệu Trị) phong
cho Thần làng Mỹ Đông Trung là Thượng Đẳng Thần, gồm có 6 lá sắc thần, 03 lá Đại
Càn thờ ở Miếu, 03 lá thờ ở đình. Nhìn tổng thể kiến trúc, đình được xây dựng theo
dạng chữ = gồm 3 dãy nhà ngang: Võ ca, Chánh điện, Hậu đường được xây dựng bằng
các loại gỗ quí, gạch ngói và chất kết dính là hồ ô dước theo kỹ thuật truyền thống;
kèo cột, xiên trích và bộ sườn của mái kết cấu với nhau bằng hệ thống mộng, chốt rất
tinh vi và sắc xảo mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, thể hiện qua kỹ thuật xây dựng,
kết cấu vật liệu và các họa tiết trang trí bên trong, góp phần làm tăng nét uy nghiêm,
lộng lẫy bên trong đình được trang trí các bao lam, hình võng, các tấm hoành phi, câu
đối, các bàn thờ... được chạm trỗ công phu, tinh xảo, đặc sắc với các đề tài thể hiện sự
trang nghiêm nơi thờ tự.
Đình Long Trung còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể rất độc
đáo ở Tiền Giang. Đặc biệt là các tấm hoành chạm 3 lớp kết hợp với các tượng tròn
trang trí bên trên, các nghi thức tế lễ và lễ hội chưng nghi của nhân dân vào ngày 16
tháng 11 (AL) hàng năm.
Từ đó cho đến nay đã trải qua nhiều lần tu sửa nhưng Đình Long Trung vẫn giữ
được nét kiến trúc ban đầu mới xây dựng.
Đình Long Trung là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng và văn hoá của nhân dân
địa phương từ khi lập làng cho đến nay. Mỗi năm đình có 03 lần cúng vào các ngày
12/01; 16-17/11 và 12/12 (AL). Lần cúng vào ngày 16-17/11 là lệ cúng Kỳ Yên. Đây
là lần cúng quan trọng và lớn nhất ở Đình Long Trung. Trong lần cúng này có tổ chức
trưng bày những tác phẩm chưng kết, hoa kiểng, những mâm ngũ quả… là những
nông sản của nhân dân địa phương làm ra, đồng thời trong lễ hội Kỳ Yên cũng là dịp
trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất, thể hiện bản sắc văn hoá rất riêng của nông dân
20
Tiền Giang.
3.2.6. Chùa Bửu Lâm
Chùa Bửu Lâm toạ lạc tại số 162B, khu phố 7, đường Anh Giác, Phường 3, TP.
Mỹ Tho. Chùa Bửu Lâm là một di tích kiến trúc nghệ thuật thuộc loại hình kiến trúc
tôn giáo được xây dựng gồm 03 phần: tiền đường, chánh điện, hậu tổ. Vào gian chánh
điện mới thấy được vẻ tráng lệ của chùa được trang trí 09 bộ bao lam với những hoạ
tiết và đường nét tinh vi, độc đáo, bộ bao lam trước bàn thờ chánh điện được chạm
lộng công phu với bộ “ Cửu Long tranh châu “ và đôi long trụ “Cá Hoá Long” sơn son
thiếp vàng óng ánh. Các bộ bao lam còn lại được chạm khắc mai điểu, song phụng
chầu cuốn thư, mẫu đơn, chim trỉ và các họa tiết tứ linh, tứ quí, sen áp tùng lộc…
Chùa thờ Phật theo Phật giáo Đại thừa thuộc dòng Lâm tế Chánh Tông. Tất cả nằm trên một nền cao 1m có diện tích 987,68 m2, xung quanh có vườn cây ăn trái và khuôn
viên cây cảnh, kiểng. Trong chùa có những tượng Phật cổ có niên đại thế kỷ XVIII,
XIX cùng hàng trăm các di vật quí hiếm khác còn giữ lại cho đến ngày nay. Chùa Bửu
Lâm xứng danh là một trong những cổ tự tiêu biểu nhất của thế kỷ XIX ở Tiền Giang
nói riêng và của đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Cho đến nay đã trãi qua 10 đời
truyền thừa hơn 200 năm tồn tại, nhiều lần tu sửa nhưng chùa vẫn còn giữ được nét
kiến trúc ban đầu và còn lưu giữ khá nhiều hiện vật chạm khắc gỗ tinh xảo, có giá trị
được làm từ những bàn tay của các nghệ nhân vùng Nam bộ.
3.2.7. Đình Long Hưng
Đình Long Hưng tọa lạc tại ấp Long Thạnh, xã Long Hưng, huyện Châu Thành,
tỉnh Tiền Giang. Đình được xây dựng cách đây hơn 160 năm, lúc đó được gọi là Miễu
Chánh để thờ cúng các vị Thành Hoàng Bổn Cảnh, những người có công lập làng, lập
ấp. Ngoài ra, đình còn thờ Tả Quân Lê Văn Duyệt - một công thần của triều Nguyễn.
Đình Long Hưng là nơi Ủy ban khởi nghĩa Nam Kỳ chọn làm Tổng hành dinh, trụ sở
của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho. Tại đây, lá cờ đỏ sao vàng năm cánh được treo
cùng cờ búa liềm đã tung bay phất phới ngày 23 tháng 11 năm 1940. Từ những năm
1927-1929, Long Hưng đã có tổ chức Cách mạng đồng chí hội; năm 1930, Long Hưng
là xã đầu tiên có Chi bộ Đảng ở Tiền Giang. Kỷ niệm ngày Nam Kỳ khởi nghĩa (23
21
tháng 11 hàng năm) được xem là ngày hội lớn nhất Long Hưng.
3.3. Di tích khảo cổ Gò Thành
Di tích Gò Thành thuộc ấp Tân Thành, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo,
tỉnh Tiền Giang, nằm trong khu dân cư, cách chợ Ông Văn, xã Đăng Hưng Phước 200
m và cách Ủy ban nhân dân huyện Chợ Gạo 6 km về phía Bắc.
Tên gọi Gò Thành xuất hiện khi những người Việt đầu tiên đến khai phá vùng
đất này; thấy trên gò có nhiều gạch, cho đó là vết tích của một thành xưa nên đặt tên là
Gò Thành, với mục đích đánh dấu một vị trí trong khu vực quần cư. Đây không phải là
một thành của người Miên hay nhà Nguyễn như người dân địa phương thường gọi.
Năm 1987, Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh đã đến tham gia
Hội nghị 'Thông báo khảo cổ học' tại Tiền Giang và khẳng định Gò Thành là di tích
thuộc nền văn hoá Óc-Eo. Di tích đã được khai quật nhiều lần, phát hiện 12 hố thờ và
mộ có dạng hình giếng nằm rải rác trên mặt gò và nhiều hiện vật bằng vàng, đồng, đá,
đất nung đang được trưng bày tại nhà trưng bày trong khuôn viên di tích.
3.4. Các làng nghề thủ công truyền thống
Toàn tỉnh hiện có 13 làng nghề đã được công nhận chuyên sản xuất những sản
phẩm độc đáo, như: tủ thờ Gò Công, nón bàng buông, sản phẩm thủ công xuất khẩu từ
lục bình, bẹ chuối, bánh tráng rế, bánh phồng sữa Cái Bè, dệt chiếu Long Định, hủ tiếu
Mỹ Tho... giải quyết việc làm cho khoảng 11.000 lao động. Giá trị sản xuất các làng
nghề khoảng 300 – 400 tỉ đồng/năm và kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt trên 2 triệu
USD. Trong giai đoạn 2011 – 2015, Tiền Giang tiếp tục xây dựng thêm 3 làng nghề
mới: chế biến thủy sản Vàm Láng (Gò Công Đông), thủ công mỹ nghệ Tân Thới (Tân
Phú Đông) và kim hoàn Tân Hương (Châu Thành).
3.4.1. Nghề làm mắm tôm chà ở Gò Công
Mắm tôm chà Gò Công là đặc sản độc đáo của thị xã Gò Công (Tiền Giang).
Mắm tôm chà được chế biến từ thịt tôm bạc đất, có hương vị thơm ngon đặc biệt. Tại
thị xã Gò Công hiện chỉ còn 5 lò sản xuất loại mắm này.
Nước cốt đặc trưng của mắm tôm chà có màu hồng nhạt, sền sệt, mịn màng trông rất
bắt mắt. Dung dịch này và phần bã đem phơi nắng đến khi mắm cô đặc. Trung bình cứ
22
chế biến 3kg tôm bạc đất tươi sẽ cho 1kg mắm thành phẩm.
Ở Gò Công, làm mắm tôm chà là nghề cha truyền con nối. Nhà nào cũng giữ những bí
quyết tuyệt chiêu như: định lượng trong khâu ướp, nêm nếm sao cho hợp khẩu vị...
Sức cuốn hút của mắm tôm chà Gò Công là hương vị thơm ngon, không có mùi khẳm
và rất hợp với các loại rau quả có vị chua... Hiện, mắm tôm chà Gò Công đã có mặt
trên thị trường nhiều nước như: Hoa Kỳ, ôxtrâylia, Canada... Bình quân mỗi tháng cơ
sở sản xuất mắm tôm chà Kim Sa cung cấp cho thị trường hàng trăm kilôgam mắm
thành phẩm.
3.4.2. Nghề làm Bánh Giá
Chợ Giồng (Gò Công Tây) là nơi có nghề làm bánh giá rất nổi tiếng. Theo lời
truyền miệng của cư dân, nghề này xuất hiện cùng lúc với quá trình khai hoang lập ấp
của người Việt ở vùng đất này vào thế kỷ XVII.
Nguyên liệu để làm bánh bao gồm thịt heo (lợn) nạc, tôm đất, giá, nấm rơm, nấm mèo
(mộc nhĩ), cải Bắc thảo, bột gạo, bột đậu nành, óc heo, dầu thực vật hoặc mỡ heo. Để
bánh được ngon, giòn, xốp; người ta trộn chung bột gạo với bột đậu nành theo tỷ lệ 1:1
và óc heo, rồi đem ủ khoảng 2 – 3 giờ, sau đó mới đem chiên. Khi làm bánh, người ta
cho dầu thực vật hoặc mỡ nước vào chão, đun lên cho thật sôi. Kế tiếp, cho các nguyên
liệu đã chuẩn bị sẵn vào vá; và nhúng vá ấy vào chão; đến khi chiếc bánh có màu vàng
sậm là vừa chín tới, mang ra ăn nóng kèm với rau thơm, nước mắm tỏi ớt và bún.
Bánh giá Chợ Giồng không chỉ là món ăn bình dân; mà nó còn được hiện diện
trang trọng trong các bữa tiệc thịnh soạn (cưới hỏi, tân gia, giỗ chạp, v.v…) ở vùng Gò
Công. Nhà văn nổi tiếng Hồ Biểu Chánh thường nhắc đến món này trong các quyển
tiểu thuyết của mình.
Hiện nay, điều quan trọng là làm sao cho món bánh giá Chợ Giồng được lan
rộng ra khắp nơi, nhằm phát triển một ngành nghề truyền thống của xứ Gò; bởi vì, xét
về chất lượng, bánh giá Chợ Giồng hoàn toàn được sánh ngang với bánh tôm Hồ Tây –
một món ăn đặc sản của Hà Nội.
3.4.3. Làng nghề đóng Tủ thờ Tiền Giang
Làng nghề này tọa lạc tại ấp Ông Non, xã Tân Trung, huyện Gò Công Đông,
tỉnh Tiền Giang. Theo những bậc cao niên cố cựu ở đây; người đầu tiên đóng tủ thờ là
23
ông Nguyễn Ngọc Hải, sinh năm 1890, làm nghề thợ mộc. Sau đó, nghề đóng tủ thờ ở
đây ngày càng phát triển, tạo thành một làng nghề nổi tiếng. Trên những chiếc ghe
chài, tủ thờ của xóm Ông Non được chở đi bán ở khắp nơi; và được khách hàng rất ưa
chuộng. Thương hiệu “tủ thờ Gò Công” xuất hiện từ khi đó.
Năm 1936, chiếc tủ thờ được đóng theo lối cách tân (mặt tủ có cẩn đá mài) do
thợ Nhâm ở Ông Non thực hiện đã được trao tặng Bằng khen tại Hội chợ Sài Gòn. Từ
đó, ông mở cửa hiệu mang tên là “Nhâm – Sơn Quy”, chuyên đóng tủ thờ Gò Công ở
số 350 B, đường Quai de Belgique, Sài Gòn, nhằm mở rộng thị trường và nâng cao giá
trị của chiếc tủ thờ Gò Công.
Công nghệ đóng tủ thờ ngày càng tiến bộ. Về kiểu dáng, từ chiếc tủ đầu tiên chỉ
có 3 trụ đứng; đến nay, các nghệ nhân đã đóng được những chiếc tủ có đến 19, 21 trụ
với các bộ đũa, chỉ đắp rất hoa mỹ và mặt tủ được cẩn trai hoặc cẩn ốc xà cừ sáng lấp
lánh dựa theo những điển tích cổ. Tất cả các chi tiết của chiếc tủ thờ đều được lắp nối
với nhau bằng ngàm, mộng, khoá chốt gỗ, hoàn toàn không có một chiếc đinh thép
nào. Đó là những điểm độc đáo và nổi trội của tủ thờ Gò Công so với tủ thờ của các
nơi khác, dù tất cả đều được làm bằng danh mộc, như mun, cẩm lai, gõ, v.v… Năm
1984, tại Hội chợ Giảng Võ (Hà Nội), sản phẩm tủ thờ Gò Công được trao tặng Huy
chương Vàng.
Hiện nay, làng nghề đóng tủ thờ ở xóm Ông Non làm ăn ngày càng phát đạt.
Sản phẩm không chỉ được tiêu thụ mạnh trong nước; mà còn xuất khẩu ra nước ngoài.
Đặc biệt, tủ thờ Gò Công đã được bày trí rực rỡ và tôn nghiêm tại đền thờ các Vua
Hùng ở tỉnh Phú Thọ và đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quê của Người ở làng Sen,
xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
3.4.4.Làng nghề dệt chiếu ở Long Định
Làng Long Định thuộc xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang nổi
tiếng khắp vùng miền Tây Nam Bộ với nghề dệt chiếu hoa. Nhờ chất lượng tốt, mẫu
mã đẹp nên ngoài thị trường trong nước, chiếu Long Định còn được xuất khẩu sang thị
trường Hàn Quốc, Nhật, Mỹ. Tiếng là nghề truyền thống nhưng nghề làm chiếu ở
Long Định mới có chừng khoảng hơn 50 năm nay. Nghề do các cư dân vùng chiếu nổi
tiếng ở Kim Sơn - Ninh Bình ngoài Bắc di cư vào Nam hồi năm 1954 đem vào. Vì thế,
24
kĩ thuật làm chiếu ở đây cũng có nhiều nét khác biệt so với kĩ thuật làm chiếu thường
thấy trong Nam. Chiếu Long Định bao giờ cũng dày dặn hơn, màu sắc, hoa văn cũng
tươi tắn và đẹp hơn.
.Hiện nay, ở Long Định có khoảng gần 1000 hộ dân mưu sinh bằng nghề dệt
chiếu, giải quyết được việc làm thường xuyên cho khoảng vài ngàn lao động ở địa
phương.
3.4.5 Làng nghề đan cỏ bàng truyền thống
Nghề đan cỏ bàng xuất hiện ở huyện Tân Phước từ rất lâu. Trước đây, như
nhiều khu vực khác của vùng đất mới Nam Bộ, cây cỏ bàng mọc hoang dại rất nhiều ở
Tân Phước. Khi khô đi, thân cỏ bàng rất chắc, bền. Người địa phương có sáng kiến:
dùng thân cỏ bàng khô đan thành các vật dụng dùng trong gia đình như: Giỏ xách, đệm
ngủ, manh thưa lót trái cây, nón đội đầu…
Nghề đan nón bàng buông truyền thống ở xã Thân Cửu Nghĩa (huyện Châu
Thành, tỉnh Tiền Giang). Hơn 50 năm, trải qua nhiều thăng trầm nhưng xã Thân Cửu
Nghĩa vẫn rộn ràng với nghề làm nón bởi những người thợ giỏi của làng. Những chiếc
nón rộng vành xinh xắn, đủ màu sắc được làm từ nguyên liệu bàng buông và bàn tay
khéo léo của con người tại HTX bàng buông Thống Nhất trong làng nghề Thân Cửu
Nghĩa, cho thấy sự phát triển không ngừng của làng nghề tiểu thủ công nghiệp - nón
bàng buông ở đây trong nhiều năm qua. Những năm gần đây, bình quân Hợp tác xã
Thống Nhất xuất từ 04 - 05 triệu sản phẩm bàng buông, chủ yếu là nón ra nước ngoài
tạo công ăn việc làm ổn định cho hàng ngàn lao động đan lát trong làng nghề và các
lao động trực tiếp tại HTX với thu nhập hàng tháng trên 02 triệu đồng.
3.4.6. Làng nghề Hủ tiếu Mỹ Tho
Làng nghề Hủ tiếu Mỹ Tho đã thành lập Tổ Hợp tác sản xuất hủ tiếu Mỹ Tho,
hiện có 9 cơ sở trực thuộc chuyên sản xuất bánh hủ tiếu khô, bình quân từ 900 - 1.000
tấn bánh hủ tiếu khô thương phẩm mỗi năm, doanh thu khoảng 2 tỷ đồng, giải quyết
việc làm ổn định cho trên 50 lao động. Dự án nghiên cứu công nghệ và hệ thống thiết
bị chế biến hủ tiếu quy mô 1 tấn/ngày.
3.4.7. Làng nghề làm bánh phồng Cái Bè
Từ nguyên liệu chính là sắn, đường, nước dừa, sữa, người dân địa phương đã
25
làm thành chiếc bánh phồng, đặc sản của tỉnh Tiền Giang. Làng nghề bánh phồng
Đông Hoà Hiệp có cách đây hơn 70 năm. Trước kia nơi đây là làng chài rê nhưng dân
số đông, sông nhỏ, sản lượng đánh bắt ngày càng ít nên người dân ở đây chuyển sang
làm bánh phồng để cải thiện đời sống. Lúc ban đầu chỉ có năm, bảy nhà làm bánh nay
đã có hơn hai trăm hộ chuyên làm và sống nhờ nghề này. Càng ngày bánh phồng càng
được biết đến nhiều hơn, đặc biệt là ở thị trường Đồng bằng Sông Cửu Long. Hầu như
nhà nào ở Cái Bè cũng làm bánh. Các công đoạn được chuyên môn hoá dần lên.
3.5. Lễ hội truyền thống
3.5.1. Lễ hội Kỳ yên đình Vĩnh Bình
Lễ hội diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16 tháng chạp (âm lịch) hàng năm tại Ðình
Vĩnh Bình thuộc thị trấn Vĩnh Bình huyện Gò Công Tây tỉnh Tiền Giang. Trong lễ hội
có đưa linh vị đến miễu Thánh Mẫu Thiên Y A Na rồi đưa về đình Vĩnh Bình, dân
làng góp nhiều lễ vật, tổ chức múa rồng, làm lễ tế thần bằng vật sống.
3.5.2.Lễ hội Nghinh Ông
Lễ hội diễn ra từ ngày 9 đến ngày 10 tháng ba (âm lịch) hàng năm tại lăng ông
Nam Hải thuộc ấp Lăng xã Vàm Láng, huyện Gò Công Ðông tỉnh Tiền Giang. Lễ hội
có rước sắc Thần từ đình Kiểng Phước bằng xe ngựa, lễ xô giàn thí, cúng thuỷ lục,
cúng vong linh thiên vị, hát bội, hát thày, làm lễ nghinh ông trên biển với hàng trăm
tàu thuyền trang hoàng lộng lẫy.
3.5.3.Lễ hội chiến thắng Ấp Bắc :(ngày 2-1 dương lịch hàng năm)
Tại di tích Ấp Bắc, xã Tân Phú, huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang. Trận Ấp Bắc
là trận đánh lịch sử, bẻ gãy các chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận của Mỹ vào
ngày 2-01-1963. Các năm chẫn được tổ chức quy mô lớn, có các lực lượng vũ trang và
hàng vạn đồng bào tham gia
3.5.4. Lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa (ngày 23 thág11 dương lịch hàng năm) tại đình
Long Hưng, huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang
Ngày 23-11-1940, trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đình Long Hưng là trụ sở
của Uỷ ban khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho, lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên được treo tại đình này.
Các năm chẵn, lễ hội được tổ chức qui mô lớn, có cắm trại , mít tinh, biểu diễn văn
26
nghệ, thi làm bánh, chưng nghi ...
3.5.5. Lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Ðịnh (ngày 20 tháng 8 dương lịch hàng
năm)
Bình Tây Ðại nguyên soái Trương Ðịnh tuẫn tiết ngày 20-8-1864. Lễ giỗ được
tổ chức tại đền thờ Trương Ðịnh (tại thị xã Gò Công), đình Gia Thuận (huyện Gò
Công Ðông, tỉnh Tiền Giang) với qui mô lớn, khách nhiều tỉnh hàng năm đều về dự lễ.
Ở thị xã Gò Công có thêm lễ rước linh va` dâng hoa tại tượng đa`i anh hùng dân tộc
Trương Ðịnh.
3.5.6. Lễ giỗ anh hùng dân tộc Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân (rằm tháng tư âm
lịch hàng năm)
Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân bị giặc Pháp xử chém tại quê nhà (xã Mỹ Tịnh
An, huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang). Lễ giỗ được tổ chức tại đền thờ Nguyễn Hữu
Huân, thuộc xã Hoà Tịnh huyện Chợ Gạo. Hằng năm đều có các ban ngành trong và
ngoài tỉnh, nhân dân trong huyện, học sinh các trường và bà con dòng tộc về dự lễ.
3.5.7. Lễ giỗ Tứ Kiệt (25 tháng chạp âm lịch hàng năm)
Tứ Kiệt là 4 vị anh hùng: Nguyễn Thanh Long, Trần Công Thận, Trương Văn
Rộng, Ngô Tấn Ðước, bị giặc Pháp xử chém ngày 14-2-1871, nhằm ngày 25 tháng
chạp năm Canh Ngọ. Lễ giỗ được tổ chức tại Lăng Tứ Kiệt (thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền
Giang).Các năm chẵn, lễ giỗ được tổ chức qui mô, có các ban ngành trong tỉnh tham
27
gia.
IV. Ý NGHĨAVÀ PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC CỦA VIỆC SỬ DỤNG DI SẢN
TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
4.1. Ý nghĩa của việc dạy học qua di sản:
Di sản là một nguồn nhận thức, một phương tiện trực quan quý giá trong dạy
học nói riêng, giáo dục nói chung. Di sản văn hoá là sản phẩm tinh thần, vật chất có
giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Di sản văn hoá, dù dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể đều có thể sử dụng trong
quá trình giáo dục, dạy học dưới hình thức tạo môi trường; tạo công cụ hoặc là nguồn
cung cấp chất liệu để xây dựng nội dung dạy học, giáo dục.
Trong điều kiện giáo dục, dạy học hiện nay, nhìn chung các tài liệu về lí luận
dạy học, giáo dục chung, đại cương và tài liệu về lí luận dạy học bộ môn hầu như chưa
đề cập đến điều kiện, phương tiện dạy học là các di sản văn hoá. Gần đây trong phong
trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, một trong những hoạt động
được đặt ra là tổ chức cho học sinh tham gia chăm sóc các di sản, chủ yếu là các di tích
mang tính lịch sử của địa phương. Việc khai thác các di sản văn hoá ở địa phương như
là nguồn tri thức , là phương tiện dạy học. giáo dục rất ít được quan tâm hoặc nếu có
thường mang tính tự phát. Vì vậy vai trò, thế mạnh của những di sản văn hoá đa dạng,
muôn hình muôn vẻ ở địa phương gần như chưa được biết đến và tận dụng.
Sử dụng di sản trong dạy học giúp cho quá trình học tập của học sinh trở nên
hấp dẫn hơn, học sinh hứng thú học tập và hiểu bài sâu sắc, phát triển tư duy độc lập
sáng tạo, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh. Ý nghĩa, vai trò của các di sản văn
hoá có thể được phân tích dưới các góc độ sau:
- Góp phần đẩy mạnh, hướng dẫn hoạt động nhận thức cho học sinh: Các di sản
văn hoá khi được sử dụng trong dạy học sẽ góp phần nâng cao tính trực quan giúp
người học mở rộng khả năng tiếp cận với đối tượng, hiện tượng liên quan đến bài học
tồn tại trong di sản. Tiếp cận với di sản, học sinh sử dụng hệ thống tín hiệu thứ nhất
(sử dụng các giác quan như mắt - nhìn, tai - nghe, mũi - ngửi, tay-sờ,…) để thấy được,
nghe được, cảm nhận được và qua đó tiếp thu được những kiến thức cần thiết từ di sản
- Giúp cho học sinh phát triển kĩ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức: Di sản
28
văn hoá là phương tiện quan trọng giúp học sinh rèn một số kĩ năng học tập như kĩ
năng quan sát, thu thập, xử lý thông tin, thảo luận nhóm, qua đó tự chiếm lĩnh kiến
thức cần thiết thu được trong quá trình tiếp cận với di sản ; kĩ năng vận dụng kiến thức
đã học để giải thích những hiện tượng , sự vật có trong các di sản văn hoá.
- Kích thích hứng thú nhận thức của học sinh: Hứng thú nhận thức là một trong
những yếu tố ảnh hưởng lớn đến cường độ và hiệu quả của quá trình học tập. Trong
quá trình tiếp cận với di sản văn hoá theo sự hướng dẫn của giáo viên, các hiện tượng
sự vật, các giá trị ẩn chứa trong di sản sẽ giúp các em tìm hiểu, khám phá và trải
nghiệm, từ đó các em có được động cơ học tập đúng đắn, trở nên tích cực và phấn đấu
tiếp nhận kiến thức mới cũng như có thái độ và hành vi thân thiện, bảo vệ di sản tốt
hơn.
- Phát triển trí tuệ của học sinh: Trong quá trình học tập, trí tuệ của học sinh
được phát triển nhờ sự tích cực hoá các mặt khác nhau của hoạt động tư duy, nhờ việc
tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển khác nhau của hoạt động tâm lý: tri
giác, biểu tượng, trí nhớ…Cho học sinh tiếp cận di sản đúng mục đích, đúng lúc với
những phương pháp dạy học phù hợp, với sự hướng dẫn chi tiết mang tính định hướng,
kích thích tư duy, giáo viên sẽ giúp học sinh phát triển khả năng quan sát, khả năng xử
lý thông tin, khả năng phân tích, tổng hợp và so sánh, qua đó phát triển trí tuệ của các
em.
- Giáo dục nhân cách học sinh: Di sản văn hoá là một trong những phương tiện
dạy học đa dạng sống động nhất. Ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, văn
hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nên có khả năng tác động
mạnh tới tình cảm, đạo đức, tới việc hình thành nhân cách học sinh. Khai thác được
những giá trị ẩn chứa trong các di sản, chuyển giao cho học sinh để các em cũng nhận
thức được các giá trị đó, giáo viên sẽ giúp học sinh hình thành một hệ thống các quan
điểm, các khái niệm về nhận thức thế giới xung quanh, giúp các em nhận thức được
bản chất và có cơ sở giải thích một cách khoa học các sự vật, hiện tượng liên quan đến
di sản. Tiến hành nghiên cứu di sản một cách nghiêm túc, kĩ lưỡng cũng chính là rèn
cho các em tác phong làm việc nghiêm túc, khoa học
- Góp phần phát triển một số kĩ năng sống ở học sinh: Để tự lực trong cuộc
sống, học tập và làm việc hiệu quả, học sinh rất cần kĩ năng sống. Kĩ năng sống được
29
hiểu là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những
người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc
sống. Dạy học với di sản sẽ tạo điều kiện phát triển một số kĩ năng sống như:
+ Kĩ năng giao tiếp
+ Kĩ năng lắng nghe tích cực
+ Kĩ năng trình bày suy nghĩ ý tưởng
+ Kĩ năng hợp tác
+ Kĩ năng tư duy phê phán
+ Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm
+ Kĩ năng đặt mục tiêu
+ Kĩ năng quản lí thời gian
+ Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin
- Dạy học với di sản sẽ tạo điều kiện tổ chức các hoạt động của giáo viên và học
sinh một cách hợp lí: Khi làm việc tại nơi có di sản, giáo viên và học sinh phải gia tăng
cường độ làm việc. Giáo viên không thuyết trình về các hiện tượng, sự vật cần tìm
hiểu mà cần hướng dẫn học sinh tự quan sát , thu thập thông tin, trao đổi trong nhóm
để xử lí các thông tin, tìm hiểu về di sản để trình bày các hiểu biết của cá nhân hoặc
nhóm. Môi trường làm việc thay đổi đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp dạy học,
cách thức tổ chức dạy học phù hợp, sao cho tập thể học sinh được lôi cuốn vào công
việc tìm hiểu, nghiên cứu di sản, đòi hỏi từng học sinh phải làm việc thực sự và phải
biết hợp tác với bạn để cùng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
4. 2. Phương thức tổ chức
4.2.1.Lồng ghép nội dung dạy học di sản văn hóa vào môn học (nội khóa hoặc ngoại
khóa).
4.2.2. Xây dựng kế hoạch và tổ chức dạy học, các hoạt động có chủ đề liên quan đến di
sản có tính chất điển hình và hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu, khai thác các nội dung
khác của di sản văn hóa thông qua tư liệu, hiện vật. Tổ chức chăm sóc di tích, các hoạt
động giáo dục tại di tích.
30
4.2.3. Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học phù hợp:
a) Dạy học trên lớp hoặc tổ chức các hoạt động ngoại khóa tại nhà trường;
b) Dạy học tại nơi có di sản văn hóa;
c) Tổ chức tham quan - trải nghiệm di sản văn hóa;
d) Dạy học thông qua các phương tiện truyền thông, đa phương tiện;…
4.2.4. Lựa chọn những phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá phù hợp nhằm phát
huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong việc tìm hiểu, khai thác các giá trị của
31
di sản.
V. MINH HỌA MỘT SỐ NỘI DUNG CÓ THỂ SỬ DỤNG DI SẢN ĐỂ GIẢNG DẠY ĐỊA LÝ Ở CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Khối Tên bài học Di sản được sử dụng Mục đích giáo dục
Tác động của - Các dạng địa hình đặc biệt được Giúp học sinh biết
ngoại lực đến hình thành từ quá trình ngoại lực: được quá trình hình
địa hình bề mặt địa hình cacxtơ (Động Phong Nha, thành các cảnh quan tự
Trái Đất Vịnh hạ Long, Thạch Động – Hà nhiên
Tiên).
10 Địa lý ngành -Các khu rừng ngập mặn. các khu Giúp các em biết được
trồng trọt vườn quốc gia, khu dự trữ sinh nguồn tài nguyên quý
giá của quốc gia, nâng quyển
cao ý thức trong việc
bảo vệ, sử dụng và
trồng rừng
Vai trò, các Tài nguyên thiên nhiên, các di sản Biết được tác động của
nhân tố ảnh văn hoá, lịch sử, các làng nghề Tài nguyên thiên nhiên,
các di sản văn hoá, lịch hưởng và đặc truyền thống….
sử đến sự phát triển và điểm phân bố
phấn bố ngành du lịch của ngành dịch
vụ.
Môi trường và Tài nguyên đất Giúp các em biết được
tài nguyên Tài nguyên nước hiện trạng, phân bố và
thiên nhiên Tài nguyên khí hậu khả năng bị hao kiệt của
Tài nguyên sinh vật các loại tài nguyên từ
Tài nguyên khoáng sản đó các em có ý thức giữ
32
Tài nguyên du lịch…. gìn và bảo vệ.
Khối Tên bài học Di sản được sử dụng Mục đích giáo dục
Thiên nhiên Vịnh cửa sông, các đầm phá, cồn Giúp học sinh biết được
chịu ảnh hưởng cát, các vịnh nước sâu, các đảo ven các dạng địa hình ven
sâu sắc của bờ, những rạn san hô…được phân biển, các hệ sinh thái
biển bố dọc theo bãi biển miền Trung rừng của nước ta rất đa
12 nước ta: mũi Đại Lãnh, vịnh Xuân dạng và đặc sắc.
Đài, vịnh Vân Phong, vịnh Cam
Ranh…
Hệ sinh thái rừng trên đất phèn:
Rừng U Minh Thượng (Kiên
Giang)
Hệ sinh thái rừng ngập mặn: Cần
Giờ, Cà Mau, Tân Phú Đông…
Hệ sinh thái rừng trên các đảo:
Đảo Phú Quốc, Đảo Lý Sơn, Đảo
Bạch Long Vĩ….
Địa lý thương * Tài nguyên du lịch: Biết được sự đa dạng,
mại và du lịch Tài nguyên du lịch tự nhiên: giàu có của tài nguyên
- Đảo và quần đảo: Phú Quốc, Côn du lịch, đây được xem
Đảo, Cát Bà…. là một trong các thế
- Các khu vườn quốc gia: Cúc mạnh phát triển các
Phương, Tam Đảo, Nam Cát ngành kinh tế mũi nhọn
Tiên… của nước ta
- Các bãi biển đẹp: Mỹ Khê (Đà
Nẵng), Bãi Dài (Phú Quốc) Ninh
Chữ (Ninh Thuận), Mũi Né (Bình
Thuận)….
- Các hang động: Phong Nha, Kẻ
Bàng; Vịnh Hạ Long, Thạch Động
33
(Hà Tiên)
Khối Tên bài học Di sản được sử dụng Mục đích giáo dục
* Tài nguyên du lịch nhân văn:
- Lễ hội: Lễ hội chùa Hương, lễ
hội Đền Hùng; Lễ hội Bà Chúa
Kho; …
- Di sản văn hoá phi vật thể: Nhã
nhạc cung đình Huế, Không gian
Văn hoá Cồng chiêng Tây
Nguyên; Đờn ca tài tử Nam Bộ….
- Ẩm thực
- Các làng nghề truyền thống.
Vấn đề khai Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giúp các em hiểu được
thác thế mạnh Giang)-Công viên địa chất toàn tiềm năng và thế mạnh
ở Trung du và cầu-Di sản Thế giới. phát triển kinh tế của
miền núi Bắc Địa danh nổi tiếng: SaPa, Tam mỗi vùng
Bộ Đảo, Mộc Châu…
-Các công trình thuỷ điện trên
sông Đà: thuỷ điện Hoà Bình; thuỷ
điện Sơn La.
- Quần thể du lịch Hạ Long…
Các di tích, lễ hội, các làng nghề
truyền thống
Đồng bằng -Khu di tích trung tâm Hoàng Thế mạnh phát triển du
sông Hồng Thành Thăng Long, Hà Nội lịch
- Di sản văn hoá: Hát xoan Phú
Thọ; Ca trù; Quan họ Bắc Ninh;
Hội Gióng ở đền Phù Đổng và Đền
34
Sóc….
Khối Tên bài học Di sản được sử dụng Mục đích giáo dục
Vùng kinh tế - Các bãi biển nổi tiếng: Sầm Sơn, Thế mạnh phát triển
Bắc Trung Bộ Cửa Lò, Thiên Cầm, Thuận An… kinh tế biển đảo
- Các di sản thiên nhiên thế giới:
Phong Nha - Kẻ Bàng.
- Di sản văn hoá thế giới: Cố Đố
Huế, Nhã Nhạc Cung Đình Huế….
- Di sản Thành Nhà Hồ (Thanh
Hoá)
Vùng kinh tế - Di sản văn hoá: Phố cổ Hội An; Thế mạnh phát triển du
Duyên hải Nam Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam) lịch
Trung Bô - Núi Ấn, Sông Trà (Quảng Ngãi)
- Các bãi biển đẹp: Mỹ Khê, Sa
Huỳnh, Quy Nhơn, Nha Trang, Cà
Ná, Mũi Né…
Tây Nguyên - Các lễ hội, các làng nghề truyền
thống…
- Không gian Văn hoá Cồng
chiêng Tây Nguyên.
- Thác nước, hồ thuỷ điện…
Đông Nam Bộ - Các di tích, lễ hội, làng nghề… Thế mạnh phát triển
- Bãi biển Vũng Tàu, Long Hải,… kinh tế biển đảo
- Vườn quốc gia: Cát Tiên, Bù Gia
Mập, Lò Gò-Xa Mát.
- Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ
- Các di tích, lễ hội, các làng nghề
35
truyền thống
Khối Tên bài học Di sản được sử dụng Mục đích giáo dục
Đồng bằng - Đờn ca tài tử Nam Bộ
sông Cửu Long - Du lịch sinh thái miệt vườn
- Chợ Nổi Cái Răng (Cần Thơ) ;
Chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang) ;
Chợ nổi Ngã Bảy (Hậu Giang)…
Rừng ngập mặn Cà Mau
Khu dự trữ sinh quyển Tràm Chim
– Đồng Tháp…
Địa lý Địa - Di tích, lễ hội: Lễ hội Kỳ Yên Thế mạnh phát triển
Phương tỉnh (Gò Công) ; Lễ Nghinh Ông (Gò kinh tế và tiềm năng
Tiền Giang Công); Lễ giỗ anh hùng dân tộc phát triển du lịch của
Trương Định… địa phương
- Hệ sinh thái vùng biển Gò Công
- Rừng tràm Tân Phước
- Làng nghề: Châu Thành, Gò
36
Công…
PHẦN KẾT LUẬN
Việc sử dụng di sản trong giảng dạy các môn học khoa học xã hội nói chung và
môn Địa lý nói riêng ở nhà trường phổ thông hiện nay sẽ góp phần bồi dưỡng, khắc
sâu kiến thức, hình thành các kĩ năng thực hành bộ môn và thông qua đó sẽ giáo dục tư
tưởng , đạo đức học sinh
Di sản văn hóa chính là một trong những phương tiện dạy học đa dạng sống
động nhất. Ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nên nó có
khả năng tác động mạnh tới tình cảm, đạo đức, tới việc hình thành nhân cách của học
sinh. Khai thác được những giá trị ẩn chứa trong các di sản và chuyển giao cho học
sinh để các em cũng nhận thức được những giá trị đó thì giáo viên sẽ giúp học sinh
nhận thức thế giới xung quanh, đồng thời giúp các em có cơ sở giải thích một cách
khoa học các sự vật, hiện tượng liên quan đến di sản.
Trong quá trình nghiên cứu tôi nhận thấy rằng việc đưa di sản vào giảng dạy có
điểm thuận lợi là chúng ta có rất nhiều di sản để giảng dạy từ cấp Quốc gia đến địa
phương nhưng điểm khó khăn khi thực hiện là vấn đề kinh phí và thời gian, bản thân
giáo viên chưa có điều kiện để đến tìm hiểu ngay tại các di sản (nhất là các di sản được
công nhận cấp quốc gia và thế giới) nên khó đạt chất lượng giáo dục tốt nhất. Học sinh
ít đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu, học tập bộ môn (nhất là các bộ môn khoa học
xã hội) do lối sống thực dụng như hiện nay, do áp lực thi cử, áp lực từ phía gia đình.
Vì vậy việc sử dụng di sản trong giảng dạy ở trường phổ thông hiện nay muốn đạt hiệu
quả cao thì phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các Ban ngành (cụ thể là giữa Sở Giáo
dục Đào tạo với Sở Văn hoá, Thể thao và Du Lịch), giữa các tổ chức đoàn thể trong
nhà trường, sự quan tâm hỗ trợ từ Ban giám hiệu, sự nỗ lực đầu tư nghiên cứu của giáo
37
viên và thái độ học tập tích cực của học sinh.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................1
PHẦN NỘI DUNG....................................................................................................
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI SẢN...............................................................2
1.1. Khái niệm di sản .................................................................................................2
1.2. Đặc điểm di sản văn hoá Việt Nam .....................................................................2
1.3. Phân loại di sản...................................................................................................2
II. SỬ DỤNG DI SẢN QUỐC GIA TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.....................................................................................4
2.1. Di sản văn hoá vật thể .........................................................................................4
2.2. Di sản văn hoá phi vật thể ...................................................................................7
III. SỬ DỤNG DI SẢN ĐỊA PHƯƠNG TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.....................................................................................12
3.1. Di tích lịch sử......................................................................................................12
3.2. Di tích văn hoá....................................................................................................16
3.3. Di tích khảo cổ....................................................................................................22
3.4. Các làng nghề truyền thống.................................................................................22
3.5. Lễ hội truyền thống.............................................................................................26
IV. Ý NGHĨA VÀ PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC CỦA VIỆC SỬ DỤNG DI SẢN
TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG ..............................28
4.1. Ý nghĩa của việc dạy học qua di sản....................................................................28
4.2. Phương thức tổ chức ...........................................................................................30
V. MINH HỌA MỘT SỐ NỘI DUNG CÓ THỂ SỬ DỤNG DI SẢN ĐỂGIẢNG DẠY ĐỊA LÝ Ở CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG……………………………………….32
38
PHẦN KẾT LUẬN....................................................................................................37
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tỉnh uỷ – Uỷ ban Nhân dân tỉnh Tiền Giang, Địa chí Tiền Giang, 2005.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn Sử dụng Di sản trong dạy học ở trường
phổ thông – Môn Địa lý, tháng 10 năm 2013.
39
3. Trần Thanh Đức (Chủ biên), Tài liệu Tài liệu dạy – học ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG TIỀN GIANG (Dùng cho các trường THCS và THPT thuộc tỉnh Tiền Giang), NXB Giáo dục Việt Nam, 2012.

