Dạy học thơ trữ tình hiện đại trong chương trìnhNgữ văn 7
A. PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài:
Dạy học thơ trữ tình hiện đại với những đặc trưng riêng của thơ trữ nh hiện đại
sẽ góp phần bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, thị hiếu thẩm mĩ, tình cảm thẩm mĩ cho
học sinh. Trong nhà trường Trung học sở (THCS), giáo viên dạy Ngữ văn
nhiệm vụ hướng dẫn học sinh đi tìm, lĩnh hội được đầy đủ cái hay, cái đẹp của tác
phẩm thơ trữ tình hiện đại.
Chương trình Ngữ văn THCS có rất nhiều tác phẩm thơ trữ tình hay. Hơn nữa tác
phẩm thơ trữ tình rất đa dạng, phong phú, phức tạp sâu sắc: ngôn ngữ rất hàm
súc, nói ít gợi nhiều, ý tại ngôn ngoại. Hiểu được các bài thơ một cách thấu đáo
giảng dạy n thế nào để học sinh cảm thụ được cái hay cái đẹp của văn
chương, tạo được sự rung cảm, bồi đắp được tâm hồn, trí tuệ cho học sinh vấn
đề quan trọng được nhiều người quan tâm vấn đề rất nhiều giáo viên
đứng lớp rất trăn trở.… Chính lẽ đó việc giảng dạy thơ tr tình trong nhà
trường THCS một vấn đề khó đối với giáo viên Ngữ n hiện nay. Đặc biệt
thơ trữ tình hiện đại trong chương trình Ngữ văn 7.
Với học sinh lớp 7 nói chung và học sinh lớp 7 trường THCS Cẩm Lĩnh nói riêng,
các em vừa được tiếp xúc với những tác phẩm trữ tình dân gian và trung đại theo
mô tuýp chung, quy định thể thơ riêng. Khi chuyển sang các tác phẩm thơ trữ tình
hiện đại các em sẽ gặp nhiều thể thơ đa dạng, cách biểu hiện tình cảm, cảm xúc
phong phú. Nênđ hiểu cảm thụ được một tác phẩm thơ trữ tình hiện đại
một vấn đề khó.Học sinh luôn lúng túng thụ động làm theo yêu cầu của thầy cô.
Vậy làm thế nào để nâng cao hiệu quả giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình Ngữ văn 7
và giúp các em có cái “nhìn” đầy đủ nhất?
Từ do trên, tôi nhận thấy rằng, người giáo viên phải chiếc cầu nối giúp các
em cảm nhận được cái hay cái đẹp trong thơ trữ tình hiện đại.Vì vậy, tôi đã chọn
nghiên cứu đề tài “Dạy học thơ trữ tình hiện đại trongchương trình Ngữ văn
7” nhằm nâng cao hiệu quả dạy- học thơ trữ tình hiện đại trong Ngữ văn 7
THCS.
II. Mục đích của đề tài:
Từ những lí do trên cùng những băn khoăn trăn trở của bản thân, tôi tự đặt ra câu
hỏi: Làm thế nào để học sinh lớp 7 thể hiểu và cảm thụ đầy đmột tác phẩm
thơ trữ tìnhhiện đại trong khi bản thân mình ng đang trực tiếp giảng dạy Ngữ
văn 7?Tôi đã lựa chọn phương pháp giảng dạy thơ trữ tình hiện đại chophù hợp
với từng đối tượng, vừa sức với học sinh, giúp các em vượt qua những khó khăn
trên để cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm thơ trữ tình.
1/18
Ngoài ra tôi cũng mong muốn rằng, qua những phương pháp tôi đã thực hiện
thể góp phần cùng đồng nghiệp trường mình, trường bạn vận dụng phương
pháp một cách linh động đối với đối tượng học sinh của mình.Từ đó góp phần
nâng cao chất lượng dạy và học của ngành giáo dục.
III. Đối tượng nghiên cứu: Dạy học thơ trữ tình hiện đại trong chương trình
Ngữ văn 7
IV. Đối tượng khảo sát thực nghiệm:
Học sinh lớp 7A, 7B do tôi trực tiếp giảng dạy.
V. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu: Sách giáo khoa và các tài liệu liên quan.
- Điều tra, quan sát: Thông qua dự giờ, thực tế giảng dạy.
- Phương pháp tổng kết, đúc rút kinh nghiệm.
- Phương pháp đàm thoại: trao đổi với giáo viên trong t hội về vấn đgiảng
dạy thơ trữ tình Ngữ văn 7 để tìm ra phương pháp phù hợp.
- Phương pháp thực nghiệm: Dạy thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi tác
dụng của các ý kiến đóng góp về phương pháp dạy học thơ trữ tình hiện đại
trong Ngữ văn 7.
- Phương pháp thống kê: So sánh kết quả trước và sau khi tiến hành thực nghiệm.
VI. Phạm vi và thời gian thực hiện:
+ Phạm vi : Các tác phẩm thơ trữ tình hiện đại trong Ngữ văn lớp 7
Thực hiện ở hai lớp 7A, 7B
+ Thời gian thực hiện: Hai năm học : 2018- 2019 và 2019- 2020.
B. PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận:
1.Khái lược về thơ trữ tình:
Dạy học thơ trữ tình hiện đại trong chương trìnhNgữ văn 7
- Trữ nh phương thức phản ánh (hiện thực đời sống; hiện thực tâm
trạng) bằng cách bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý thức của tác giả thông qua cái tôi trữ
tình, mang đậm dấu ấn cá nhân của chủ thể.
- Thơ một thể loại văn học được xây dựng bằng hình thức ngôn ngữ ngắn gọn
súc tích, theo những quy luật ngữ âm nhất định, nhằm phản ánh tâm trạng, thái
độ, nh cảm,... của người nghệ về đời sống thông qua những nh ợng nghệ
thuật.
- Thơ trữ tình dùng để chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó
nhà thơ bộc lộ một cách trực tiếp những cảm xúc riêng tư, cá thể về đời sống, thể
hiện tưởng về con người, cuộc đời thời đại nói chung. Nội dung của thơ trữ
tình biểu hiện tưởng, tình cảm làm sống dậy i thế giới chủ thể của hiện
thực khách quan, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tâm trạng, nỗi
niềm.
2. Đặc điểm chung của thơ trữ tình:
a.Tính trữ tình:
Trữ tình là yếu tố quyết định tạo nên chất thơ. Tác phẩm thơ luôn thiên về diễn tả
những cảm xúc, rung động, suy của chính nhà thơ về cuộc đời. Những rung
động ấy xét đến cùng là những tiếng dội của những sự kiện, những hiện tượng đời
sống vào tâm hồn nhà thơ. Đây đặc điểm cơ bản nhất của c phẩm thơ. Nắm
vững đặc điểm này ta sẽ có một định hướng rõ ràng trong việc tiếp cận, phân tích
đúng tác phẩm thơ. Nghĩa là, khi phân tích tác phẩm thơ, ta không phải đi sâu vào
mổ xẻ, cắt nghĩa, lí giải về các chi tiết, sự kiện, sự việc được nhà thơ đề cập,
điều cốt lõi thấy nói được những cảm xúc, tâm trạng, thái độ suy của
nhà thơ về các vấn đề trên.
b.Chủ thể trữ tình:
Trong tác phẩm thơ ta luôn bắt gặp bóng dáng con người đang nhìn, ngắm, đang
rung động, suy về cuộc sống. Con người ấy được gọi là chủ thể trữ tình. i
cách khác, chủ thể trữ tình là con người đang cảm xúc, suy tư trong tác phẩm thơ.
Nhân vật trữ tình trong tác phẩm thơ chỉ hiện diện, đối thoại với độc giả bằng
những sắc thái tình cảm, thái độ tình cảm. Trong tác phẩm thơ, chủ thể trữ tình là
yếu tố luôn mặt để thể hiện nội dung trữ tình của tác phẩm. Cho nên, khi phân
tích thơ, ta phải phân tích nội dung trữ tình. Muốn phân tích nội dung trữ tình thì
nhất thiết, nắm bắt phân tích được chủ thể trữ tình. Bởi lẽ, nội dung trữ tình
luôn chứa trong chủ thể trữ tình.
3.Nội dung phản ánh trong thơ trữ tình:
a.Thơ trữ tình biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người.
Trong tác phẩm trữ tình, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ ... được trình bày
trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm. Ở đây, nhà thơ có thể biểu
hiện cảm xúc nhân mình không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến
3/18
cố, sự kiện nào. Người đọc cảm nhận trước hết thế giới nội tâm, thái độ xúc
cảm tâm trạng của nhân vật trữ tình đối với con người, cuộc đời thiên
nhiên. Nhà thơ thể không cần phải miêu tả kỹ về con người những nguyên
nhân cụ thể dẫn tới những nh cảm đó. Ðiều này chứng tỏ sự biểu hiện trực tiếp
thế giới chủ quan của tác giả đặc điểm tiêu biểu, đầu tiên của tác phẩm trữ
tình.
b.Thơ tr tình phản ánh thế giới kch quan nhằm biểu hiện thế giới chủ
quan.
Tác phẩm trữ tình biểu hiện cảm xúc chủ quan của n thơ nhưng điều đó cũng
được xác lập trong mối quan hệ giữa con người và thực tại khách quan bởi vì mọi
cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người bao giờ cũng đều cảm xúc về cái
gì, tâm trạng trước vấn đề gì...Do đó, hiện tượng cuộc sống vẫn được thể hiện
trong tác phẩm trữ tình. Mặc thể hiện thế giới chủ quan của con người, tác
phẩm trữ tình vẫn coi trọng việc miêu tả các sự vật, hiện tượng trong đời sống
khách quan bằng các chi tiết chân thật, sinh động. Như vậy, tác phẩm trữ tình
cũng phản ánh thế giới khách quan nhưng chức năng chủ yếu của nó là nhằm biểu
hiện những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ ...của con người.
4.Đặc điểm của ngôn ngữ thơ trữ tình:
a. Ngôn ngữ thơ trữ tình hàm súc, cô đọng.
Để một vần thơ lắng đọng, các nhà thơ phải lao động hết mình để lựa chọn ra
những ngôn từ thơ tốt nhất diễn tả được cảm xúc tình cảm của nh. Đósự gọt
giũa về mặt ngôn từ để tạo ra những từ ngữ thơ mà đọc lên người đọc ấn tượng và
hiểu thấu nội dung tư tưởng nhà thơ gửi gắm.
b. Ngôn ngữ thơ giàu tính nhịp điệu.
Trong thơ, sự phân dòng của lời thơ nhằm mục đích nhịp điệu, tạo ra nhịp điệu
thơ.Cuối mỗi dòng thơ đều có chỗ ngắt nhịp. Tuỳ theo số chữ trong mỗi dòng
nhịp thơ thể hiện khác nhau.Và theo từng cung bậc tình cảm thì nhà thơ sử dụng
thể thơ 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ hoặc dài hơn, hoặc ngắn hơn chen
nhau…Ngoài ra, trong các thể thơ Việt nam như lục bát, song thất lục bát tứ
tuyệt, hát nói…là những cấu tạo nhịp điệu đặc biệt, lưng, vần, chân, lối ngắt
nhịp riêng độc đáo.
c. Ngôn ngữ thơ giàu tính nhạc, tính hoạ.
Bằng những âm thanh luyến láy,bằng những từ ngữ trùng điệp,sự phối hợp bằng
trắc cách ngắt nhịp,nhà thơ đã xây dựng nên những câu thơ,những hình tưọng
thơ sức truyền cảm lớn, tạo nên những cung bậc nh cảm tinh tế của người
nghệ sỹ.
Thơ được xây dựng bằng những nh tượng nghệ thuật sức gợi cảm lớn. Thi
trung hữu hoạ, trong thơ thể hiện những bức tranh hoàn mỹ người đọc thể
hình dung khi cảm nhận những vần thơ khắc hoạ. Đó là tính hoạ trong thơ.
Dạy học thơ trữ tình hiện đại trong chương trìnhNgữ văn 7
d.Ngôn ngữ thơ phải có tính biểu hiện.
Văn học nói chung, thơ ca nói riêng phản ánh hiện thực cuộc sống qua hình tượng
nghệ thuật. Nghĩa điều nhà nghệ nhận thức, suy về cuộc sống luôn
được thể hiện một cách gián tiếp.Để làm được điều này người nghệ sĩ đi vào khai
thác khả năng biểu hiện của ngôn ngữ. Đó cách tổ chức sắp xếp ngôn ngữ sao
cho từ một hình thức biểu đạt có thể nhiều nội dung biểu đạt. Đó qtrình
chuyển nghĩa tạo nên lượng ngữ nghĩa kép trong thơ.
II.Thực trạng của vấn đề:
1. Thực trạng về việc học thơ trữ tình của học sinh:
Nhiều học sinh tỏ ra thơ ơ, ngày càng nhiều học sinh chán học với học tác phẩm
văn chương đặc biệt tác phẩm thơ trữ tình hiện đại. Các em chưa tự chủ động
tìm hiểu khám phá tác phẩm thơ, thường ít hiểu, ít yêu thơ. Một phần do năng lực
cảm thụ của học sinh, một phần do xu thế thời đại, hội nhập toàn cầu đã ảnh
hưởng đến nhận thức của phụ huynh học sinh về những môn học thời thượng
(Toán, Lý, Hoá, Tin học, Ngoại ngữ). vậy, học sinh ngày càng xa rời văn
chương.
Việc tự học, tự soạn văn, chuẩn bị cho bài học trên lớp của học sinh còn đối phó.
Học sinh không tự nghiên cứu, thậm chí không đọc tác phẩm, để tìm hiểu, khám
phá tác phẩm chủ yếu chép lại dựa vào gợi ý hướng dẫn của các loại sách:
Để học tốt, bình giảng văn học... sách chuẩn kiến thức, những bài văn mẫu...
Những tài liệu này, hình chung, đã làm cho học sinh bỏ i sách giáo khoa,
học sinh tỏ ra biết đầy đủ nội dung tác phẩm văn chương không cần phải
nghiên cứu, tự học tự suy nghĩ, liên tưởng cũng thể đáp ứng được những yêu
cầu, phát vấn của thầy giáo trên lớp. Điều này đã thủ tiêu óc sáng tạo, suy
nghĩ của người học, biến học sinh thành những người quen suy nghĩ diễn đạt
bằng những ý vay mượn, bằng những lời có sẵn, lẽ ra phải làm chủ tri thức thì lại
trở thành nô lệ của sách vở.
Số liệu khảo sát trước khi thực hiện đề tài như sau:
- Lớp 7A: 85% làm được, 15 % chưa làm được.
- Lớp 7B: 75% làm được, 25% chưa làm được.
Đây là một kết quả chưa đạt yêu cầu.
3.Thực trạng về giảng dạy của giáo viên:
- Giáo viên rất ngại dạy thơ, bởi lẽ dạy thơ rất khó, nếu giáo viên không
biết khai thác thơ theo đúng mạch cảm xúc của nhà thơ thì giờ học sẽ trở nên khô
khan không tạo được hứng thú học tập của học sinh.
- Quá trình giảng dạy của giáo viên phần lớn dựa vào hệ thống câu hỏi
5/18