SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài:

GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG, KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC

SINH QUA CHỦ ĐỀ “VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI

PHONG KIẾN” BẰNG HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

(SGK Lịch sử 10 - Cơ bản).

BỘ MÔN: LỊCH SỬ

Năm học: 2021 - 2022

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT TƯƠNG DƯƠNG 2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài:

GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG, KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC

SINH QUA CHỦ ĐỀ “VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI

PHONG KIẾN” BẰNG HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

(SGK Lịch sử 10 - Cơ bản).

BỘ MÔN: LỊCH SỬ

Họ và tên tác giả : Nguyễn Thế Anh

Tổ bộ môn

: Văn, Ngoại Ngữ, Lịch Sử

Năm thực hiện

: 2021- 2022

Số điện thoại : 0946 404 789

Năm học: 2021 - 2022

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ......................................................................... 3 PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 I. Bối cảnh của đề tài ................................................................................................. 1 II. Lý do chọn đề tài. ................................................................................................. 1 III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu. ..................................................................... 2 1. Phạm vi. ................................................................................................................. 2 2. Đối tượng nghiên cứu. ........................................................................................... 2 IV. Mục đích nghiên cứu. .......................................................................................... 2 V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu. .................................................................... 3 PHẦN NỘI DUNG ................................................................................................... 5 I. Cơ sở lý luận. ......................................................................................................... 5 1. Vai trò của môn Lịch sử trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức học sinh ............ 5 2. Một số hiểu biết chung về hoạt động trải nghiệm sáng tạo. ................................. 5 2.1. Khái niệm ........................................................................................................... 5 2.2. Tầm quan trọng của dạy học Lịch sử theo hướng trải nghiệm. ......................... 5 2.3. Các hình thức trải nghiệm . ................................................................................ 5 3. Một số kĩ năng sống cơ bản giáo dục cho học sinh. ............................................. 5 II. Cơ sở thực tiễn. ..................................................................................................... 5 1. Thuận lợi ............................................................................................................... 5 2. Thực trạng và những khó khăn. ............................................................................ 6 2.1. Một số tồn tại của phương pháp dạy học cần khắc phục. .................................. 6 2.2. Thực tiễn chính trị và xã hội. ............................................................................. 6 2.3. Thực trạng dạy học TN trong các nhà trường hiện nay. .................................... 6 III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề. ............................................... 8 1. Quy trình chuẩn bị của giáo viên và học sinh. ...................................................... 8 1.1. Giáo viên. ........................................................................................................... 8 1.2. Học sinh. ............................................................................................................. 9 2. Các bước tiến hành. ............................................................................................... 9 3. Phương pháp tiến hành. ....................................................................................... 10 4. Thực hành (Giáo án) ........................................................................................... 10 IV. Hiệu quả của sáng kiến. .................................................................................... 20 V. Khả năng ứng dụng và triển khai của sáng kiến. .............................................. .22 VI. Ý nghĩa của sáng kiến. ...................................................................................... 22 PHẦN KẾT LUẬN ................................................................................................. 23 1. Kết luận ............................................................................................................... 23 2. Kiến nghị, đề xuất. .............................................................................................. 23 PHẦN PHỤ LỤC .................................................................................................... 25 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 32 2

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

TT Chữ viết tắt Diễn giải

1 THPT Trung học phổ thông

2 ĐHSP Đại học sư phạm

3 THCS Trung học cơ sở

4 GV Giáo viên

5 HS Học sinh

6 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

7 NG, PG Nho giáo, phật giáo.

8 TNST Trải nghiệm sáng tạo.

9 KHKT Khoa học kĩ thuật

10 XHCN Xã hội chủ nghĩa.

11 BGK Ban giám khảo.

12 TK Thế kỷ.

13 SGK Sách giáo khoa

14 BGH Ban giám hiệu

3

PHẦN MỞ ĐẦU

I. Bối cảnh của đề tài

Trên thế giới, các nước đều coi Lịch sử là một trong những môn cơ bản trong chương trình giáo dục phổ thông. Nước ta trên con đường CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, môn Lịch Sử mà trước hết là Quốc sử càng giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành tư tưởng, tình cảm, thái độ và kĩ năng sống cho học sinh, đặc biệt là học sinh Trung học-lứa tuổi nhạy cảm nhất trên ghế nhà trường.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, sự biến đổi to lớn của xã hội, một số giá trị văn hóa truyền thống dần dần mất đi cái vốn có của nó, nhiều vấn đề nhức nhối xảy ra liên quan trực tiếp đến học sinh THPT nói riêng và thanh niên nói chung, đe dọa đến đạo đức xã hội, lối sống, hành vi ứng xử,...Thực tiễn ấy đòi hỏi sự cần thiết phải trang bị cho học sinh những tư tưởng, kĩ năng sống cần thiết.

Trong bối cảnh ngành giáo dục đang chuẩn bị những tiền đề quan trọng cho công cuộc cải cách căn bản và toàn diện, dạy học trải nghiệm đang trở thành hoạt động dạy học căn bản, sẽ là hình thức chủ đạo trong những năm 2021 trở đi. Là một giáo viên THPT trực tiếp giảng dạy bộ môn Lịch sử càng nhận thấy sự cần thiết phải tiến hành“khởi động” cho công cuộc đổi mới giáo dục sắp tới.

Để học sinh có cái nhìn khái quát, toàn diện những biến đổi của văn hoá dân tộc trong mấy thế kỷ phong kiến tôi đã mạnh dạn tích hợp nội dung văn hoá ở bài 20, bài 24 và mục 3 bài 25 sách giáo khoa Lịch sử 10 thành một chủ đề: “Văn hoá Việt Nam thời phong kiến” và áp dụng dạy học dưới hình thức trải nghiệm trên lớp học. Qua đó, ngoài việc giúp các em lĩnh hội kiến thức còn góp phần giáo dục tư tưởng, kĩ năng sống cho các em trong thời đại có nhiều biến đổi to lớn này.

Xuất phát từ những lý do đó, tôi xin trình bày đề tài: “Giáo dục tư tưởng, kĩ năng sống cho học sinh qua chủ đề Văn hóa Việt Nam thời phong kiến bằng hoạt động trải nghiệm sáng tạo” (SGK 10 ban cơ bản).

Hi vọng những vấn đề tôi nêu ra ở đây sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới, nâng cao nhận thức, kĩ năng sống cho các em.

II. Lý do chọn đề tài.

Trong dạy học nói chung cũng như dạy học Lịch sử nói riêng, một tiết học được đánh giá là thành công khi tiết học đó không chỉ được đảm bảo về kiến thức cơ bản mà mặt khác các em biết sử dụng kiến thức đó vào thực tiễn như thế nào, hình thành thái độ ra sao. Vì vậy ngoài bám sát vận dụng chuẩn kiến thức kĩ năng,

1

việc đổi mới phương pháp dạy học theo chủ đề, chủ điểm, lồng ghép, liên môn, trải nghiệm sáng tạo...là một trong những vấn đề cực kỳ quan trọng đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục mới theo tinh thần nghị quyết 29.

Trong những năm qua, Bộ Giáo dục đã đưa ra các chủ đề năm học gắn liền với các vấn đề về giá trị sống, đạo đức sống, kĩ năng sống cho học sinh như “trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “đề án văn hóa ứng xử trong trường học”, xây dựng mô hình “trường học hạnh phúc, thầy cô hạnh phúc, học sinh hạnh phúc”...Việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, nhân cách, lối sống cho học sinh là một nội dung quan trọng trong nhà trường, và muốn giáo dục toàn diện cho học sinh trở thành những con người mới xã hội chủ nghĩa các em phải được quan tâm giáo dục về đạo đức.

Từ sứ mệnh Lịch sử của giáo dục quốc tế, từ thực tiễn chính trị (bối cảnh) và xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, cá nhân đã áp dụng thành công việc giáo dục kĩ năng sống cho các em học sinh qua một số hoạt động trải nghiệm trên lớp gắn với chủ đề “Văn hóa Việt Nam thời phong kiến” (SGK 10 ban cơ bản).

III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.

1. Phạm vi.

Trong khuôn khổ đề tài này tôi xin được đề cập đến khía cạnh giáo dục tư tưởng, đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh lớp 10 gắn liền với vai trò, chức năng của môn Lịch sử thông qua các hoạt động trải nghiệm sáng tạo khi dạy chủ đề “Văn hóa Việt Nam thời phong kiến” (Lịch sử 10).

2. Đối tượng nghiên cứu.

Từ kiến thức trong sách giáo khoa lớp 10, kết hợp với thực tiễn hiện nay và tiến hành dạy học trải nghiệm trên lớp cho các em học sinh lớp 10 ở trường THPT Tương Dương 2.

IV. Mục đích nghiên cứu.

Thực hiện đề tài nhằm góp phần cùng với nhà trường vã xã hội đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh, qua đó giúp các em có ý thức trong những việc làm, việc học, việc ứng xử của bản thân mình với những người xung quanh; sống có ước mơ, lý tưởng; biết yêu thương, vị tha, có trách nhiệm, biết phấn đấu vươn lên trước những khó khăn thử thách để tự khẳng định mình. Đưa những việc làm hay, hành động đẹp, suy nghĩ mới mẻ, tư duy sáng tạo vào trong thực tiễn cuộc sống, trở thành những con người tốt, sống có nghĩa khí, nhân văn, trở thành người Việt Nam toàn diện “ đức, trí, thể, mĩ”.

Góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo tinh thần nghị quyết 29, nâng

2

cao hiệu quả giảng dạy và rèn luyện kỹ năng cho giáo viên; góp phần tạo hứng thú môn học, khắc sâu kiến thức, phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo của học sinh.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Tìm hiểu thực tiễn việc dạy học Lịch sử nói chung và vai trò, sứ mệnh của bộ môn trong việc góp phần rèn luyện nhân cách học sinh hiện nay; chất lượng giảng dạy bộ môn, tình hình hứng thú học tập Lịch sử của học sinh THPT.

Tìm hiểu lối sống của giới trẻ, thanh niên hiện nay để đưa vào làm minh chứng thực tế, từ đó hướng học sinh sang lối sống, cách hành xử tốt đẹp. Xây dựng kế hoạch dưới hình thức giáo án và triển khai các hoạt động trải nghiệm trên, lựa chọn nội dung, địa điểm, hình thức, tài liệu hợp lý.

Tiến hành thực nghiệm ở một số lớp để kiểm chứng các biện pháp sư phạm,

trên cơ sở đó rút ra kết luận khoa học.

Dự báo những đóng góp của sáng kiến về mặt thực tiễn, lý luận.

Ngoài việc đảm bảo các kiến thức chuẩn cho học sinh, việc liên hệ thực tiễn cuộc sống hiện nay những vấn đề văn hóa và mặt trái của nó thông qua các hình thức trải nghiệm trên lớp sẽ giúp học sinh hứng thú hơn với tiết học của mình. Phát huy năng lực học tập, năng lực sáng tạo, tự học của học sinh, giúp các em có sự chủ động, tích cực tìm tòi, nghiên cứu. Mang lại cảm xúc lịch sử, giá trị tinh thần, tình cảm cho học sinh. Tăng cường tính hợp tác, đoàn kết. Từ đó giáo dục cho học sinh có tinh thần học tập tích cực, ý thức dựng xây đất nước, sống tốt, sống có trách nhiệm, có thái độ tôn trọng, giữ gìn giá trị văn hóa của dân tộc.

V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu.

Hoạt động trải nghiệm ở đây không phải được tổ chức thành một buổi ngoài giờ lên lớp hay tại thực địa, mà nó được tổ chức ngay tại lớp học, coi đó như một hoạt động của môn học diễn ra thường xuyên. Giáo viên và học sinh sẽ có một tâm thế thoải mái, gần gũi, rút ngắn hơn khoảng cách về sự hiểu biết, nhận thức và hành động của các em đối với cuộc sống, xã hội xung quanh mình.

Học sinh được tham gia vào các hoạt động chính, các em được vận dụng thực tiễn liên hệ, được đặt ra tình huống và xử lý tình huống từ đó rút ra bài học cho bản thân là một thành công lớn như mong muốn của giáo viên khi xây dựng tiết học này.

Việc học sinh độc lập thể hiện năng lực sáng tạo của bản thân, chủ động hợp tác với nhau cùng xây dựng bài học theo tinh thần đổi mới đã thể hiện tính mới của đề tài, phù hợp với đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm.

3

Gắn nội dung kiến thức cách đây mấy thế kỷ để liên hệ giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, nâng cao ý thức trách nhiệm của đoàn viên, thanh niên đối với đất nước và hoàn thiện bản thân trong bối cảnh hiện nay cũng là một điểm mới có trong đề tài.

4

PHẦN NỘI DUNG

I. Cơ sở lý luận.

1. Vai trò của môn Lịch sử trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức học sinh

Bộ môn Lịch sử có nhiều ưu thế trong việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, vì môn Lịch sử ở nhà trường dạy học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đảm bảo cung cấp những kiến thức thực sự khách quan và khoa học để tiến hành giáo dục tốt tư tưởng, đạo đức cách mạng cho học sinh.

2. Một số hiểu biết chung về hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

2.1. Khái niệm

Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó từng cá nhân học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong môi trường nhà trường cũng như môi trường gia đình và xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của các nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất nhân cách, các năng lực,...từ đó tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân.

2.2. Tầm quan trọng của dạy học Lịch sử theo hướng trải nghiệm.

Hoạt động trải nghiệm môn Lịch sử có tác dụng giáo dục lớn đối với học sinh tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng, say mê học tập, rèn kính kỉ luật và tinh thần tương thân tương ái. Giúp học sinh biết huy động kiến thức giải quyết các nhiệm vụ học tập, qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, phát triển năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống.

2.3. Các hình thức trải nghiệm .

Tổ chức CLB; Hoạt động trò chơi; Tổ chức diễn đàn; Sân khấu tương tác;

Thực địa/tham quan; Hội thi/cuộc thi; Lao động công ích; Hoạt động nhân đạo…

3. Một số kĩ năng sống cơ bản giáo dục cho học sinh.

- Kĩ năng nhận thức và đánh giá bản thân; kĩ năng hợp tác, chia sẽ; kĩ năng giao tiếp và ứng xử, kĩ năng quản lý thời gian có hiệu quả, kĩ năng thể hiện tự tin trước đám đông, kĩ năng đánh giá người khác,…

II. Cơ sở thực tiễn.

1. Thuận lợi

Kiến thức gần gũi, dễ tiếp nhận. Mỗi bài đều tách mục rất rõ ràng, phân chia

cụ thể từng lĩnh vực. Nhiều kiến thức thực tiễn để liên hệ giáo dục…

5

2. Thực trạng và những khó khăn.

2.1. Một số tồn tại của phương pháp dạy học cần khắc phục.

Nhiều giáo viên vẫn quen với lối dạy truyền thống, với cách dạy học ấy khiến người dạy mệt, người học thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, không phát huy được năng lực sáng tạo trong học tập, mau quên, khó vận dụng trong thực tế. Học sinh cảm thấy nhàm chán bởi những con số, những mốc thời gian khô khan, khó nhớ. Chưa phát huy được vai trò của bộ môn đối với việc rèn luyện giáo dục kĩ năng sống, đạo đức, nhân cách cho các em học sinh.

2.2. Thực tiễn chính trị và xã hội.

Đất nước đang đứng trước những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong thực hiện “diễn biến hoà bình”, “bạo loạn lật đổ” với những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về Hồ Chí Minh, về Đảng Cộng Sản Việt Nam nhằm phá hoại chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của nhà nước, sâu xa muốn lật đổ chế độ. Niềm tin của một bộ phận thanh thiếu niên vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN trước những biến động của tình hình thế giới và những mặt trái của cơ chế thị trường bị lung lay, dao động. Vì vậy, sự cần thiết nhất lúc bấy giờ là cần chú trọng việc bồi dưỡng, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho thế hệ trẻ.

Cùng với sự đi lên của xã hội, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, sự bùng nổ của thông tin thì mặt trái của nó là hàng loạt vấn đề nan giải đặt ra trong giới trẻ như lối sống gấp, sống hưởng thụ, sống ích kỉ, thờ ơ, lạnh lùng, vô cảm. Các em sẵn sàng thanh toán nhau chỉ vì một ánh nhìn không thiện cảm, một câu nói bông đùa; nghiêm trọng hơn nữa là các em hành hung thầy cô giáo ngay trên bục giảng; thấy bạn bị đánh hội đồng thì thờ ơ, không gọi người cứu bạn mà chỉ biết cầm điện thoại quay một cách say sưa rồi tung lên mạng xã hội. Năng lực sáng tạo bị thui chột, phạm trù đạo đức xuống cấp nghiệm trọng. Hàng loạt vụ học sinh đánh nhau có tổ chức liên tiếp xảy ra, học sinh vi phạm pháp luật nghiêm trọng như: đánh bài, buôn bán chất trái phép, lạng lách, đua xe, thậm chí là ma túy, mại dâm...Bên cạnh đó phải kể đến cả một bộ phận lớp trẻ bị mất hết chí khí phấn đấu, thiếu sáng tạo trong học tập và lao động, thiếu gương mẫu trong mọi phong trào thi đua học tập, rèn luyện.

2.3. Thực trạng dạy học TN trong các nhà trường hiện nay.

a. Về phía giáo viên và học sinh

Hầu hết giáo viên bộ môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay đều nhận thức rõ về tầm quan trọng của hoạt động dạy học theo hình thức trải nghiệm trong việc mang lại hiệu quả giờ học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, giảm phần lý thuyết, hàn lâm của kiến thức, hướng tới phát triển năng lực học sinh. Tuy nhiên,

6

đa số họ đều băn khoăn, lo lắng vì để tổ chức dạy học theo trải nghiệm mất nhiều thời gian, chưa có kinh nghiệm trong khâu tổ chức nên sợ thất bại.

Qua khảo sát, hầu hết học sinh hứng thú với hoạt động trải nghiệm, tuy nhiên một số em chậm nắm bắt các vấn đề xã hội, nên liên hệ thực tiễn còn lúng túng. Tính mạnh dạn của học sinh ở một số vùng miền núi hạn chế, tâm thế thụ động.

b. Số liệu điều tra khảo sát.

Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã tiến hành phỏng vấn một số giáo viên dạy

môn Lịch sử và điều tra bằng phiếu khảo sát học sinh tại một số đơn vị.

* Giáo viên (Phụ lục 1).

Câu 1: Thầy cô đánh giá như thế nào về dạy học Lịch sử theo hướng trải

nghiệm ở các trường THPT trong những năm qua?

Câu 2: Hoạt động TN của bộ môn Lịch sử ở trường THPT trong những năm

qua đã có đóng góp như thế nào đối với việc nâng cao hiệu quả giáo dục?

Kết quả:

Kết quả điều tra

Câu hỏi 1 Câu hỏi 2

Tổng số giáo viên được điều tra Rất tốt Tốt Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết Bình thường

10 6 3 1 2 3 5

Tỉ lệ 60% 30% 10% 20% 30% 50%

* Học sinh: Khảo sát bằng phiếu (Phụ lục 2).

- Khảo sát tại đơn vị ( Với gần 90 học sinh của 3 lớp10;11;12).

Em có hứng thú với việc học tập Lịch sử ở trường THPT thông qua hình thức

trải nghiệm theo các chủ đề dạy học không?

Kết quả

Số lượng HS Thích Bình thường Không thích

90 12 13.3% 46 51.1% 32 35.6%

- Khảo sát tại đơn vị bạn (Phiếu thăm dò).

7

Câu 1: Ở trường bạn, học Lịch sử chủ yếu theo phương pháp nào? Các bạn

có hứng thú với cách học đó không?

Câu 2: Bạn có thấy tốt hơn không khi môn Lịch sử bậc THPT được học tập

bằng hình thức trải nghiệm?

Kết quả

Số lượng HS Hứng thú Bình thường Tốt hơn Bình thường

12 2 16.7% 10 83.3% 8 66.7% 4 33.3%

Qua bảng kết quả đã giúp giáo viên nhìn nhận khách quan, chính xác về thực

tiễn vấn đề, từ đó hướng hoạt động dạy học bộ môn theo tinh thần nghị quyết 29.

III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.

Tôi đã tiến hành tích hợp kiến thức về tư tưởng, tôn giáo; giáo dục, văn học; nghệ thuật và KHKT ở bài 20 tiết 26, bài 24 tiết 30 và mục 3 bài 25 tiết 31 (SGK 10) lớp thành chủ đề “Văn hoá Việt Nam thời phong kiến”, kết hợp lồng ghép thực trạng văn hóa hiện nay và tổ chức bằng các hoạt động trải nghiệm trên lớp. Bài học chia thành 3 vấn đề lớn xuyên suốt từ thế kỷ X-XIX: Tư tưởng, tôn giáo; Giáo dục và văn học; Nghệ thuật và khoa học kĩ thuật, thực hiện trong vòng 2 tiết (90 phút). Giáo viên tổ chức cho học sinh thành 3 nhóm tương ứng với 3 đội chơi, hoạt động dưới hình thức cuộc thi “Tìm hiểu Văn hóa Việt Nam thời phong kiến” diễn ra ngay tại lớp học. Sau mỗi nội dung giáo viên sẽ đặt câu hỏi liên hệ với ngày nay ở mặt tích cực và hạn chế để từ đó giáo dục tư tưởng cho các em, giúp học sinh thấy được trách nhiệm của bản thân mình trong việc chung tay góp phần gìn giữ, xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

1. Quy trình chuẩn bị của giáo viên và học sinh.

1.1. Giáo viên.

- Chọn các nội dung của chủ đề cần xây dựng, thiết kế giáo án phù hợp.

- Chia lớp thành 3 đội chơi (tương ứng với 3 tổ), mỗi đội gồm 4 thành viên, tương ứng với tên gọi của các đội là: Đội Tư tưởng và tôn giáo; Đội Giáo dục và văn học; Đội Nghệ thuật và KHKT.

- Giao học sinh thành lập Ban giám khảo (3 học sinh). BGK tiến hành đánh

giá bằng cho điểm theo từng phần thi dưới sự cố vấn của giáo viên.

- Cử MC. Hướng dẫn các đội chuẩn bị các yêu cầu về chủ đề Văn hóa Việt

Nam từ thế kỷ X đến thế kỉ XIX cho buổi học dưới hình thức trải nghiệm.

- Giao học sinh lên kế hoạch và chuẩn bị tập các tiết mục văn nghệ, tài năng.

8

1.2. Học sinh.

- Lên kế hoạch. Sắp xếp bàn ghế phù hợp với yêu cầu của cuộc thi. Chuẩn bị

các biểu bảng, cờ. Chọn thành viên BGK. Chuẩn bị các nội dung bài học.

- Tập luyện các tiết mục chuẩn bị cho phần tài năng…

2. Các bước tiến hành.

- Văn nghệ (3 phút)-> Giáo viên giới thiệu tiết học (2 phút)->Giới thiệu thành phần ban giám khảo, phổ biến phần thi (2 phút)->Tổ chức hoạt động dạy học dưới hình thức trải nghiệm (78 phút)-> Nhận xét, trao thưởng (5 phút).

- Cụ thể các phần thi:

* Phần 1: Khởi động (Thời gian không quá 3 phút, tối đa 10 điểm).

Các đội lần lượt khởi động bằng việc giới thiệu thành viên và ý nghĩa tên đội

thông qua bài thuyết minh.

* Phần 2: Tìm hiểu Văn hóa Việt Nam thời phong kiến (33 phút, tối đa 20

điểm).

- Lần lượt các đội báo cáo nội dung tìm hiểu và trả lời các câu hỏi về kiến thức của giáo viên (Đội Tư tưởng-Tôn giáo tìm hiểu kiến thức thuộc lĩnh vực Tư tưởng, tôn giáo. Đội Giáo dục-Văn học tìm hiểu kiến thức về giáo dục, văn học. Đội Nghệ thuật-KHKT tìm hiểu kiến thức nghệ thuật, khoa học kĩ thuật). Nếu đội có câu trả lời trả lời sai hoặc sau 2 phút không đưa ra được đáp án thì quyền trả lời sẽ thuộc về đội bạn.

- Lồng ghép vào mỗi nội dung của đội thi là phần thi dành cho khán giả.

Giáo viên với tư cách là cố vấn cuộc thi sẽ ra các câu hỏi liên hệ hiện nay, khán giả nào trả lời đúng sẽ được nhận một phần quà từ ban tổ chức (bông hoa điểm 10 môn Lịch sử), nếu trả lời sai thì khán giả khác sẽ giành quyền trả lời. Mục đích của hoạt động này là tăng tính tương tác, giáo dục kĩ năng hợp tác, đoàn kết, tập thể, đồng lòng…cho các em.

- Kết thúc nội dung tìm hiểu kiến thức văn hóa các lĩnh vực, giáo viên nhận

xét, đánh giá, trao thưởng cho khán giả, thảo luận với BGK cho điểm các đội.

* Phần 3: Tài năng (mỗi đội thể hiện không quá 5 phút, tối đa là 15 điểm).

Các đội có thể kể chuyện, đóng kịch, múa hát, vẽ tranh, ngâm thơ.

* Phần 4: Xử lý tình huống (7 phút/1 tình huống bao gồm cả đặt tình huống

và xử lý tình huống, điểm tối đa là 15 điểm).

9

Lần lượt mỗi đội sẽ diễn xuất hoặc nêu ra 1 tình huống,đưa ra một vấn đề có nội dung liên quan đến lĩnh vực văn hóa, các đội sẽ xử lý tình huống trên (đội 1 xử lý tình huống đội 2, đội 2 xử lý tình huống đội 3, đội 3 xử lý tình huống đội 1).

* Phần 5. Tổng kết, đánh giá tiết học của giáo viên và trao thưởng (5 phút).

3. Phương pháp tiến hành.

- Phương pháp nghiên cứu, sưu tầm tài liệu, lồng ghép, phân tích, nhận xét,

tổng hợp, kể chuyện, thống kê, phương pháp thực nghiệm sư phạm...

4. Thực hành (Giáo án)

Chủ đề

Văn hóa Việt Nam thời phong kiến (Từ thế kỷ X đến thế kỉ XIX)

Lịch sử lớp 10 (Chương trình chuẩn). Thời lượng: 02 tiết (90 phút).

A. Nội dung chủ đề

I. Tư tưởng, tôn giáo.

Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc. Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính của giai cấp thống trị. Thế kỉ X đến XIV Phật giáo là quốc giáo. Thế kỉ XV, Nho giáo được nâng lên địa vị độc tôn, trở thành hệ tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến thời Lê sơ. Từ thế kỉ XVI, Nho giáo suy thoái, Phật giáo, Đạo giáo có điều kiện khôi phục vị trí nhưng không được như thời Lý-Trần.

Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII: Thiên Chúa giáo du nhập vào nước ta, chữ Quốc ngữ theo mẫu tự Latinh cũng ra đời ở thế kỉ XVII.

TK XIX, Nhà Nguyễn độc tôn Nho giáo, hạn chế Thiên Chúa giáo.

Các tín ngưỡng truyền thống trong dân gian vẫn được duy trì, phát triển.

II. Giáo dục và Văn học.

* Từ thế kỉ XI-XV, giáo dục Đại Việt từng bước được hoàn thiện và phát triển. Năm 1070 lập Văn Miếu. Năm 1075 tổ chức khoa thi minh kinh. Năm 1484, nhà nước quyết định dựng bia Tiến sĩ.

Nhà Mạc tổ chức đều đặn các kì thi Hương, thi Hội. Nhà Lê - Trịnh cố gắng tiếp tục mở rộng giáo dục Nho học theo chế độ thời Lê sơ, nhưng số người đi thi và đỗ đạt không còn nhiều. Ở Đàng Trong: năm 1646 chúa Nguyễn mở khoa thi đầu tiên theo cách riêng. Đến triều Tây Sơn, chữ Nôm được sử dụng trong công việc hành chính, thi cử. Mặc dù vậy, nội dung giáo dục chủ yếu vẫn là kinh sử, các bộ môn khoa học tự nhiên ít được chú ý...

10

* Thời Trần văn học phát triển: “Nam quốc Sơn hà”, “Hịch tướng sĩ”; “Bạch Đằng giang phú”; “Bình Ngô Đại Cáo”; v.v... cùng hàng loạt tập thơ chữ Hán ra đời, vừa thể hiện tài năng văn học vừa toát lên niềm tự hào dân tộc và lòng yêu nước sâu sắc. Thời Lê sơ, đánh dấu bước phát triển cao của nền văn học. Cùng văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm đều phát triển, các tập thơ Nôm ra đời như “Hồng Đức quốc âm thi tập” của vua Lê Thánh Tông, “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi;...

Từ thế kỉ XVI, Nho giáo suy thoái, văn học chữ Hán không còn vị thế như thời Lê sơ. Tuy vậy văn học chữ Nôm phát triển và chiếm vị trí quan trọng (Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Đào Duy Từ,...).Văn học dân gian phát triển rầm rộ: ca dao, tục ngữ, truyện cười, truyện dân gian..., thể hiện ước mơ về cuộc sống tự do, thanh bình của người dân lao động.

III. Nghệ thuật và KHKT.

* Nhiều công trình nghệ thuật Phật giáo được xây dựng như chùa Một Cột, chùa Dâu, chùa Phật Tích, tháp Báo Thiên...Nghệ thuật điêu khắc đặc sắc: rồng mình trơn cuộn trong lá đề, bông cúc nhiều cánh... cùng nhiều bức phù điêu có hình các cô tiên, các vũ nữ vừa múa vừa đánh đàn,... Nghệ thuật sân khấu như tuồng, chèo ngày càng phát triển. Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật đặc sắc, phát triển từ thời Lý.

Thế kỉ XVI-XIX kiến trúc, điêu khắc tiếp tục phát triển: chùa Thiên Mụ (Huế), tượng Phật ở các chùa... Nghệ thuật dân gian được hình thành trong các công trình điêu khắc và kiến trúc. Nghệ thuật sân khấu phát triển ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài với nhiều phường tuồng, chèo ở các làng, các làn điệu dân ca.

* Thế kỉ X đến thế kỉ XV, KHKT phát triển: “Đại Việt sử kí” của Lê Văn Hưu (thời Trần), “Lam Sơn thực lục”, “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, “Hồng Đức bản đồ”...,”Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú...

Thế kỉ XV: “Đại thành toán pháp” của Lương Thế Vinh, “Lập thành toán pháp” của Vũ Hữu,... Về quân sự, có “Binh thư yếu lược”. Đầu thế kỉ XV, Hồ Nguyên Trừng đã chế tạo súng thần cơ, thuyền chiến có lầu.

Thế kỉ XVI - XVIII, XIX: “Ô châu cận lục”, “Đại Việt thông sử”..., địa lí học có tập bản đồ “Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư”, quân sự có tập “Hổ trướng khu cơ” của Đào Duy Từ,... Một số kĩ thuật phương Tây du nhập vào nước ta: đúc súng đại bác, đóng thuyền máy, xây thành lũy,... Nghề làm đồng hồ ra đời.

B. Tổ chức dạy học chủ đề

I. Mục tiêu

1. Kiến thức: HS nắm được:

11

- Sự thay đổi về vai trò thống trị về tư tưởng của Phật giáo và Nho giáo. Vài

nét về Đạo giáo, tín ngưỡng truyền thống, sự du nhập của Thiên Chúa giáo.

- Sự phát triển của giáo dục nho học thời phong kiến; sự phát triển của văn

học chữ Hán và chữ Nôm.

- Đặc điểm nổi bật của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc; khái quát về sự hình

thành và phát triển những loại hình sân khấu. Thành tựu về KHKT.

2. Kĩ năng

- Phát triển kĩ năng khai thác tranh ảnh, tư liệu lịch sử; kĩ năng phân tích, so

sánh các sự kiện lịch sử; kĩ năng tham gia và tổ chức các hoạt động trải nghiệm.

3. Thái độ

- Bồi dưỡng lòng yêu nước, giáo dục cho HS thái độ trân trọng và ý thức gìn

giữ, bảo tồn các di sản văn hóa của dân tộc. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.

4. Định hướng các năng lực hình thành

Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề,

năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ.

Năng lực chuyên biệt:

- Năng lực tái hiện các sự kiện lịch sử dân tộc, các thành tựu văn hóa.

- Năng lực làm chủ kiến thức, trải nghiệm lịch sử thông qua các hoạt động

trên lớp, năng lực thực hành bộ môn.

- So sánh, phân tích sự thay đổi vai trò thống trị về tư tưởng của Phật giáo và Nho giáo, sự hưng suy giáo dục nho học, sự phát triển của văn học chữ Hán, Nôm.

- Vận dụng những kiến thức lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề thực

tiễn, đặc biệt giáo dục đươc kĩ năng sống cho học sinh.

II. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh.

1. Giáo viên

- Giáo án dạy học trải nghiệm chủ đề Văn hóa Việt Nam từ TK X-XIX.

- Máy chiếu, tài liệu lịch sử...

2. Học sinh

- Chuẩn bị bàn ghế theo tiết học ngoại khóa trên lớp. Làm các bảng biểu: Tên

các đội, cờ cầm tay, bảng điểm cầm tay. Văn nghệ, các tiết mục tài năng...

III. Tiến trình dạy học

12

1. Giới thiệu của giáo viên: Việt Nam là đất nước có bề dày lịch sử, nhiều thành tựu văn hóa của đất nước trở thành di sản văn hóa vật thể hay phi vật thể của nhân loại với những danh nhân văn hóa thế giới như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Nền tảng cho các thành tựu văn hóa nổi bật đó chính là giai đoạn lịch sử dân tộc từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX. Chúng ta sẽ được tìm hiểu chủ đề ”Văn hóa Việt Nam thời phong kiến” bằng cuộc thi tìm hiểu giữa 3 đội chơi.

2. Hoạt động: Dạy học trải nghiệm chủ đề “Văn hóa Việt Nam thời

phong kiến”.

- Văn nghệ: Bạn Lê Na thể hiện ca khúc “Thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh”.

2.1. Hoạt động 1: Khởi động.

Các đội lần lượt giới thiệu đội của mình với chủ đề mang màu sắc tên đội

dưới hình thức bài thuyết minh. BGK cho điểm từng đội chơi.

+ Đội Tư tưởng - Tôn giáo .

+ Đội Giáo dục - Văn học.

+ Đội Nghệ thuật - KHKT.

2.2. Hoạt động 2: Tìm hiểu kiến thức Văn hóa Việt Nam thời phong kiến.

* Đội Tư tưởng - Tôn giáo: Tìm hiểu về tư tưởng, tôn giáo thế kỷ X-XIX.

a. GV: Chiếu các tư liệu, đặt câu hỏi:

+ Nêu ngắn gọn tình hình tư tưởng, tôn giáo nước ta từ thế kỷ X đến XIX?

+ Vì sao Phật giáo trở thành “Quốc giáo” thời Lí, Trần?

+ Nho giáo du nhập vào nước ta khi nào, vị trí của nó qua các thời kì? Vì sao

từ thời Lê sơ Nho giáo đã giữ vị trí độc tôn ?

+ Tại sao nhà Nguyễn chủ trương độc tôn Nho giáo?

+ Thiên chúa giáo du nhập vào nước ta như thế nào?Chữ quốc ngữ xuất hiện

ra sao?

b. Học sinh: Báo cáo tóm tắt .

Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc.

- Nho giáo: + Thế kỉ X-XIV: hệ tư tưởng chính của giai cấp thống trị, chi phối nội dung giáo dục, thi cử . Thế kỉ XV: vị trí độc tôn, trở thành hệ tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến thời Lê sơ. Từ thế kỉ XVI: từng bước suy thoái.

+ Đầu thế kỷ XIX : Nhà Nguyễn chủ trương độc tôn Nho giáo.

13

- Phật giáo - Đạo giáo:

+ Thời Lí- Trần, Phật giáo giữ vị trí “quốc giáo”. Đạo giáo tồn tại song song với Nho giáo và Phật giáo. Từ cuối thế kỉ XIV, Phật giáo và Đạo giáo suy giảm.

+ Thế kỉ XVI: Phật giáo, Đạo giáo có điều kiện phục hồi.

+ Đầu thế kỉ XIX, nhà Nguyễn hạn chế hoạt động của Phật giáo.

- Thiên chúa giáo: từ thế kỉ XVI Thiên Chúa Giáo du nhập vào nước ta.

Chữ Quốc ngữ theo mẫu tự Latinh cũng ra đời.

+ Thế kỷ XIX nhà Nguyễn hạn chế sự hoạt động của Thiên Chúa Giáo.

- Các tín ngưỡng truyền thống trong dân gian vẫn được duy trì và phát huy như tục thờ cúng tổ tiên, thờ những người anh hùng có công với nước, với làng.

Liên hệ: - GV: Trong xã hội Việt ngày nay những vấn đề nào còn mang tư

tưởng của nho giáo? Theo em, vấn đề đó tích cực hay hạn chế?

HS trả lời. GV nhận xét và liên hệ thêm một số vấn đề để qua đó giáo dục tư

tưởng, kĩ năng sống cho các em.

- GV: Hiện nay vấn nạn bạo lực học đường, nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành

niên, con giết cha mẹ, học trò vô lễ với thầy cô giáo...trở nên phổ biến.

Em có suy nghĩ như thế nào trước những vấn đề trên? Vận dụng thực trạng nêu trên để rút ra mặt tích cực của Nho giáo mà xã hội đang cần thiết lập lại?

HS trả lời . GV nhận xét, đánh giá.

- GV: Hiện nay ở nước ta Phật giáo phát triển như thế nào?Ảnh hưởng

của đạo phật đến tư tưởng, tình cảm của người Việt ra sao?

HS: Suy nghĩ, trả lời. GV: Kết luận..

- GV chiếu một số bức tranh về văn hóa đi lễ chùa (Phụ lục 7).

Em có nhận xét gì khi quan sát những bức tranh này? Bài học rút ra được

cho bản thân trước những vấn đề trên?

- GV: Ảnh hưởng của Thiên Chúa Giáo đến đời sống tín ngưỡng hiện nay

của nhân dân ta như thế nào?

HS: Trả lời. GV: Nhận xét.

- Đời sống tín ngưỡng hiện nay của nhân dân ta, nhất là nhân dân địa

phương em?

14

HS: Trả lời. GV Liên hệ vấn đề tín ngưỡng hiện nay dưới góc độ tích cực và hạn chế (Phụ lục 8), qua đó để học sinh nhận thức được cần phải tiếp thu cái mới, tiến bộ và loại bỏ cái hạn chế trong tín ngưỡng của nhân dân ta, trong đó có địa phương mình.

- GV: Em đã làm gì để giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp của các tư

tưởng, tôn giáo trên?

HS trả lời dựa trên những quan điểm của bản thân. GV: Nhận xét, kết luận.

Dù tín ngưỡng, tôn giáo nào cũng đều hướng con người ta đến những giá trị đạo đức, tư tưởng đẹp đẽ, vậy nên hãy sống và hành xử đúng nghĩa với giá trị của tôn giáo đó, đừng lợi dụng tôn giáo để làm mất đi ý nghĩa vốn có của nó.

* Đội Giáo dục - Văn học: Tìm hiểu về giáo dục và văn học.

a. GV: chiếu tư liệu (Phụ lục 9).

+ Em hãy khái quát ngắn gọn tình hình giáo dục-văn học nước ta thời phong kiến và cho biết giáo dục nho học phát triển mạnh mẽ dưới vương triều nào? Vì sao?

+ Ý nghĩa việc dựng Bia tiến sĩ?

+Vì sao trong thế kỉ XVI-XIX, dòng nghệ thuật dân gian, văn học dân gian

phát triển mạnh mẽ?

b. Học sinh: báo cáo tóm tắt (Phụ lục 5).

*Giáo dục

- Từ TK XI-XV, giáo dục Đại Việt từng bước được hoàn thiện và phát triển.

+ Năm 1070: lập Văn Miếu. Năm 1075: khoa thi quốc gia đầu tiên (minh

kinh).

+ Sang thời Trần, giáo dục, thi cử được quy định chặt chẽ hơn.

+ Thời Lê sơ: Năm 1484 dựng bia tiến sĩ.

- Thế kỉ XVI, giáo dục Nho học tiếp tục phát triển, không còn vị trí như

trước.

+ Nhà Mạc tiếp tục phát triển giáo dục, tổ chức đều đặn các kì thi.

+ Nhà nước Lê - Trịnh được khôi phục, giáo dục Nho học tiếp tục được

duy trì. Đàng Trong, năm 1646 chúa Nguyễn mở khoa thi đầu tiên.

15

+ Quang Trung: chấn chỉnh lại giáo dục, đưa chữ Nôm thành chữ viết

chính thống.

Mặc dù vậy, nội dung giáo dục vẫn là kinh sử. Các bộ môn khoa học tự

nhiên ít được chú ý.

- Đầu TK XIX: Giáo dục Nho học được củng cố song không bằng các thế

kỷ trước.

* Văn học

- TK X-XV: + Thời Trần, văn học phát triển: "Hịch tướng sĩ", "Bạch

Đằng giang phú", "Bình Ngô Đại cáo"...=> Thể hiện lòng yêu nước.

+ Các tập thơ bằng chữ Nôm ra đời như: "Hồng Đức quốc âm thi tập" của

Lê Thánh Tông và "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi.

- TK XVI - XVIII: + Văn học chữ Nôm phát triển mạnh hơn trước, các nhà thơ nổi tiếng như: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Phùng Khắc Khoan…

+ Văn học dân gian phát triển rầm rộ.

- Thế kỷ XIX văn học chữ Nôm đạt đến độ hoàn thiện: Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan...Văn học chữ Hán kém phát triển.

Liên hệ: GV hỏi, HS trả lời, sau đó GV nhận xét, kết luận vấn đề.

GV chiếu một số hình ảnh (Phụ lục 10) và hỏi: em có suy nghĩ gì về những

việc làm của một số người trong những bức tranh trên?

HS: Trả lời. GV: Hiện nay tại Văn Miếu Quốc Tử Giám có 82 bia tiến sỹ, hàng năm cứ đến dịp thi THPT Quốc gia, đầu năm mới, các sỹ tử đến đây sờ vào đầu Rùa để lấy may mắn, có một số người còn trèo rào chắn nhảy vào, ngồi lên đầu rùa, viết vẽ lên các bia đá...Đó là những cử chỉ không đẹp mắt, chúng ta chỉ nên chiêm ngưỡng từ đằng xa, ko nên sờ vào những hiện vật đó.

GV: Giới thiệu cho học sinh biết Hà Tĩnh có những Tiến sỹ nào được khắc tên ở Bia Tiến sỹ để các em cảm thấy tự hào về quê hương mình, từ đó giáo dục cho các em thấy được trách nhiệm của mình là phải chăm chỉ học tập để phát huy truyền thống khoa bảng của quê hương mình trong các kỳ thi.

GV: Em hãy liên hệ vấn đề giáo dục hiện nay ở nước ta? Trách nhiệm của

bản thân đối với sự phát triển của nền giáo dục mới?

16

HS: Trả lời. GV: Giáo dục ở thời hiện đại khác với thời phong kiến chính là coi trọng khoa học tự nhiên, nhưng dù ở thời đại nào thì cũng đều chung một quan điểm xem “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, trách nhiệm của các em là phải chăm chỉ học tập thật tốt, không phụ lòng tin tưởng của bố mẹ, thầy cô, xứng đáng là con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ.

Em hãy nêu hiểu biết của mình về sự phát triển văn học hiện nay?

HS: Trả lời. GV nhận xét và tiểu kết: Văn học dù ở thời đại nào cũng đều mang giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Mỗi tác phẩm văn học, đặc biệt là văn học dân gian đều thể hiện tiếng nói và ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp của con người. * Đội Nghệ thuật - KHKT: Tìm hiểu về nghệ thuật và KHKT.

a. GV: cung cấp hình ảnh (Phụ lục 11), học sinh nhận diện.

- Nêu những hiểu biết của em về nghệ thuật và KHKT của nước ta từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX? Những công trình nghệ thuật được công nhận là di sản văn hóa cấp quốc gia, thế giới mà em biết?

b. Học sinh: báo cáo tóm tắt (Phụ lục 5).

* Nghệ thuật.

- Thế kỉ X-XV: + Nghệ thuật kiến trúc phát triển, các chùa, tháp được xây dựng: chùa Một Cột, chùa Dâu, chùa Phật Tích, tháp Báo Thiên, tháp Phổ Minh,…

+ Nghệ thuật điêu khắc đặc sắc: rồng mình trơn cuộn trong lá đề, bệ chân

cột hình hoa sen nở…

+ Nghệ thuật sân khấu như tuồng, chèo ngày càng phát triển…

+ Âm nhạc phát triển với các nhạc cụ như trống cơm, sáo, tiêu, đàn cầm.

+ Ca múa trong các ngày lễ hội dân gian khá phổ biến.

- Thế kỉ XVI-XVIII: + Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc tiếp tục phát triển:

chùa Thiên Mụ (Huế), tượng Phật…Nghệ thuật dân gian được hình thành.

+ Nghệ thuật sân khấu phát triển ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài với

nhiều phường tuồng, chèo ở các làng, các làn điệu dân ca ở các địa phương.

- Thế kỉ XIX: quần thể cung điện nhà vua ở Huế, cột cờ Hà Nội. Nghệ

thuật dân gian phát triển.

* KHKT:

- Thế kỉ X - XV: + Nhiều công trình khoa học ra đời, như : "Đại Việt sử kí" của Lê Văn Hưu (thời Trần), "Lam Sơn thực lục", "Dư địa chí" của Nguyễn

17

Trãi…

+ Quân sự có "Binh thư yếu lược". Toán học có "Đại thành toán pháp" của

Lương Thế Vinh, "Lập thành toán pháp" của Vũ Hữu.

+ Hồ Nguyên Trừng đã cho chế tạo súng thần cơ và thuyền chiến.

- Thế kỉ XVI - XVIII: + Nhiều công trình khoa học trên các lĩnh vực: sử học có Ô Châu Cận lục, Đại Việt thông sử, địa lí có Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, y học có Lê Hữu Trác, triết học có sách Lê Quí Đôn…

+ Kĩ thuật: đúc súng theo kiểu phương Tây, đóng thuyền, xây thành luỹ

được hình thành và phát triển, nghề làm đồng hồ ra đời...

- TK XIX: Quốc sử quán thành lập, tác phẩm “Lịch triều hiến chương loại

chí”...

- GV: Nghệ thuật sân khấu đã mang lại cho đời sống tâm hồn tình cảm con người thêm phong phú với những thể loại như chèo, tuồng - đó là những loại hình sân khấu độc đáo, mang đậm “chất Việt, hồn Việt”. Trong xu thế của xã hội hiện đại, khi mà những dòng nhạc rốc, nhạc trẻ ảnh hưởng mạnh mẽ đến tầng lớp trẻ, thì những làn điệu chèo, tuồng ít người quan tâm, nó dần dần vắng bóng khán giả, điều đó đặt ra cho tất cả mọi chúng ta trách nhiệm gìn giữ, phát huy, làm sống lại những loại hình nghệ thuật này, để nó hấp dẫn người xem như nó vốn đã từng có.

Bên cạnh chèo, tuồng thì những làn điệu dân ca ví, giặm ngọt ngào, trữ tình, sâu lắng dễ đi vào lòng người. Năm 2014, Dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh - di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại tại kỳ họp thứ 9 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ngày 27/11/2014 tại Paris.

- Nêu cảm tưởng của bản thân khi dân ca, ví giặm Hà Tĩnh được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể? Em đã và sẽ làm gì để quảng bá và phát huy loại hình nghệ thuật đặc sắc này?

- GV: Hiện nay, sự phát triển như vũ bão của KHKT, mặt trái của nó là những vấn đề như bùng nổ dân số, vơi cạn của tài nguyên thiên nhiên, hàng loạt vũ khí hiện đại, đặc biệt là vũ khí hóa học gây ra nhiều hiểm họa đối với con người, em có suy nghĩ như thế nào về vấn đề này?

- HS: Trình bày suy nghĩ của mình. GV: Nhận xét và kết luận

Trong quá trình phát triển, nhà nước ta rất quan tâm đến KHKT, tổ chức nhiều cuộc thi sáng tạo kĩ thuật cho tầng lớp học sinh, sinh viên như Robocom, hội thi sáng tạo kĩ thuật trẻ...nhằm kích thích khả năng sáng tạo của lớp trẻ, tạo tiềm lực phát triển đất nước. Ngoài ra để giữ vững an ninh, tạo tiềm lực quốc phòng

18

trước diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ, trước những hành động gây hấn của một số thế lực bên ngoài (Trung Quốc sau sự kiện hạ đặt giàn khoan trái phép Hải Dương 981) nước ta đã mua thêm một số tàu ngầm, một số vũ khí hiện đại phòng vệ trước mọi nguy cơ có thể xảy ra. Là những thế hệ tương lai của đất nước, các em hãy cố gắng học tập thật giỏi, phấn đấu trở thành những nhà khoa học tiên tiến, gánh vác trọng trách cao cả để đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ kính yêu đã căn dặn.

GV nhận xét, kết luận nội dung. BGK cho điểm (Phụ lục 12).

2.3. Hoạt động 3: Tài năng (Phụ lục 13)

- Đội Tư tưởng - Tôn giáo: kể câu chuyện về Vua Trần với Phật giáo.

- Đội Giáo dục - Văn học: Ngâm đoạn trích “Kiều trước lầu Ngưng Bích”.

- Đội Nghệ thuật - KHKT: Thể hiện tài năng vẽ tranh Bác Hồ với thiếu nhi.

2.4. Hoạt động 4: Xử lý tình huống (Phụ lục 14).

* Tình huống của đội Tư tưởng - Tôn giáo: Hà theo đạo Phật, Hoàng theo đạo Thiên Chúa. Hôm đó cô giáo yêu cầu về nhà chuẩn bị câu hỏi :Một số hiểu biết của bản thân về một tôn giáo nào đó mà em cho là tâm đắc nhất. Đầu giờ sinh hoạt 15 phút, hai bạn tranh cãi với nhau về vấn đề mà cô giáo ra. Trong lúc nóng nẩy, Hà hét lên: Thiên Chúa giáo là phản động. Ngay sau đó Nam vung tay đấm thẳng vào mặt Hà.

a) Quan điểm của Hà đúng hay sai? Hành vi của Nam như thế có đúng

không?

b) Em sẽ làm gì để cho Hà và Nam hiểu những quan điểm và hành động trên

là không đúng.

* Tình huống của đội Giáo dục- Văn học: Ca dao, tục ngữ Việt Nam rất

phong phú. Em hãy vận dụng thực tiễn và giải thích câu ca dao sau:

“ Trăm năm bia đá cũng mòn

Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”.

* Tình huống của đội Nghệ thuật-KHKT: Tuấn và Hùng đang nói chuyện với nhau. Tuấn cho rằng: “Ở nước ta có nhiều di tích lịch sử bị tàn phá nặng nề. Nhà nước thay vì bỏ ra một số tiền lớn để trùng tu xây dựng thì tại sao lại không cải tạo nơi đó thành một trường học hay một nhà máy, xí nghiệp để phát triển đất nước, con người Việt Nam”.

Hỏi: a) Em có nhận xét gì khi Tuấn đưa ra ý kiến như vậy?

b) Nếu em là Hùng trong trường hợp trên em sẽ làm gì?

19

2.5. Kết thúc Hoạt động

- GV: nhận xét tiết học, củng cố, khẳng định trách nhiệm của các em học sinh trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, giáo dục thái độ, cách sống, cách ứng xử, ý thức cần phải chăm chỉ học tập để phát huy truyền thống hiếu học, truyền thống “khoa bảng” của xứ Nghệ quê hương, giữ gìn và phát triển nghệ thuật, khoa học kĩ thuật đáp ứng với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

- Ban giám khảo công bố kết quả, trao thưởng (Phụ lục 15).

+ Giải nhất: Đội Giáo dục-Văn học đạt 56/60 điểm (Phần thưởng là điểm 10).

+ Giải nhì: Đội Tư tưởng- Tôn giáo đạt 54,5/60 điểm (Phần thưởng là điểm

9).

+ Giải ba: Đội Nghệ thuật-KHKT đạt 53/60 điểm (Phần thưởng là điểm 8).

3. Giao bài tập về nhà

- Lựa chọn một sự kiện hoặc một nhân vật, lĩnh vực trong các thành tựu văn

hóa ở các thế kỉ X-XIX trình bày thành một bài tiểu luận ngắn...

C. Bảng mô tả các yêu cầu và biên soạn câu hỏi/bài tập kiểm tra đánh giá

trong quá trình dạy học (Phụ lục 16).

IV. Hiệu quả của sáng kiến.

1. Kết quả

Sau khi áp dụng phương pháp dạy học trải nghiệm chủ đề Văn hóa Việt Nam thời phong kiến vào thực tiễn giảng dạy ở lớp 10A1, tôi đã kiểm nghiệm thực tế bằng cách cho học sinh làm một bài kiểm tra lấy tỷ lệ giỏi, khá, trung bình, yếu, kém ở 2 lớp: 10A1, 10A2 (Lớp 10A1 là lớp đối chứng. Lớp 10A2 là lớp thực nghiệm). Kết quả:

Giỏi Khá TB Yếu, Kém

Lớp % % % % Số lượng Số lượng Số lượng Số lượng

10 A1 (32em) 4 12.5 10 31.2 16 50.0 2 6.3

10 A2 (31 em) 8 25.8 15 48.4 8 7,9 0 0

Tiến hành tiếp khảo sát thái độ sau khi kết thúc tiết học trải nghiệm với chủ

đề trên ở lớp thực nghiệm (10A2).

20

Rất thích thú Thích Không thích Bình thường

Lớp % Số lượng % % % Số lượng Số lượng Số lượng

10 A2 (31 em) 10 32.3 17 54.8 4 12.9 0 0

Đặc biệt, tôi làm thêm phiếu thăm dò khả năng liên hệ thực tiễn, kiểm tra thái độ, tư tưởng và kĩ năng sống của các em ở lớp đối chứng (10A1) và lớp thực nghiệm (10A2), kết quả như sau:

Liên hệ thực tiễn, kĩ năng sống khá Liên hệ tốt, thái độ đúng đắn, kĩ năng sống tốt. Liên hệ thực tiễn, kĩ năng sống trung bình Liên hệ thực tiễn, tư tưởng, kĩ năng sống hạn chế

tỉ lệ tỉ lệ tỉ lệ tỉ lệ Lớp Số lượng Số lượng Số lượng Số lượng % % % %

10A1 (32em) 7 21.9 8 25.0 15 46.8 6.3 2

10A2 (31 em) 12 38.7 14 45.2 5 16.1 0 0

2. Một số kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện sáng kiến. - Đảm bảo mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông của môn học và

- Xác định nội dung và thực hiện các bước chuẩn bị chu đáo. Khi thực hiện

Qua bảng thăm dò trên đã cho thấy hiệu quả của phương pháp. Các em đã biết vận dụng những điều học được từ sách vở vào trong thực tiễn cuộc sống, biết cư xử đúng mực với thầy cô, người lớn, tôn trọng bạn bè, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập cũng như trong cuộc sống, biết kiềm chế trước những vấn đề xảy ra, có ý thức trách nhiệm cao trong công việc được giao, không nề hà, ngại khó. Rất vui mừng vì trong các cuộc vận động tết vì người nghèo, ủng hộ các gia đình thiệt hại trong lũ lụt vừa qua, các em đã hưởng ứng rất tốt, thể hiện nghĩa cử cao đẹp, biết sẻ chia khó khăn, giúp đỡ người hoạn nạn, gương mẫu trong các phong trào thi đua, tránh xa những trang mạng xã hội không lành mạnh, biết tố giác những hành vi sai trái, sử dụng thời gian hợp lý, sử dụng điện nước tiết kiệm, tránh lãng phí; tự tin hơn với bản thân mình, vững vàng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh. mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. đề tài phải thực hiện nghiêm túc, chọn lọc kĩ càng, có tính giáo dục cao.

21

.

- Theo sát học sinh để động viên và hỗ trợ, hướng dẫn học sinh cách thực hiện yêu cầu của giáo viên. Cuối tiết học có nhận xét, đánh giá, khen thưởng, động viên để khuyến khích các em (bằng hình thức cho điểm). V. Khả năng ứng dụng và triển khai của sáng kiến. Đề tài được áp dụng sau khi tích hợp các bài, các mục nhỏ nội dung văn hóa phần Lịch sử Việt Nam lớp 10 THPT, ngoài ra giáo viên có thể định hướng cho học sinh tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu ở những bài học khác thành những chủ đề như: Kinh tế Việt Nam thời phong kiến...sau đó cho học sinh trải nghiệm tương tự như trên. Định hướng cho học sinh các khối lớp 11,12 tìm hiểu các chủ đề tương tự và thực hiện dưới hình thức trải nghiệm ngay tại lớp học, trong giờ chính khóa. Mô hình này có thể áp dụng vào các môn Giáo dục công dân, Địa lý, Ngữ Văn, Âm nhạc, Mĩ thuật; vào các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động trải nghiệm khác...hoặc các hoạt động tuyên truyền của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Sáng kiến có khả năng phát triển theo hướng chuyên đề, chủ đề theo chiều sâu. Có thể áp dụng vào dạy học ở các trường THCS, THPT trên phạm vi cả nước với quy mô rộng rãi ở bộ môn Lịch sử nói riêng và các môn có kiến thức liên quan nói chung. Việc áp dụng này đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục theo tinh thần nghị quyết 29 TW, phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông mới, phù hợp với các chỉ thị, chủ trương của Bộ Giáo dục về giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh. Tin rằng, sẽ hạn chế được những vấn đề nhức nhối của lớp trẻ bấy lâu nay như bạo lực học đường, rượu chè, sống buông thả, thờ ơ, lạnh lùng..., phấn đấu trở thành những con người mới xã hội chủ nghĩa vừa có tài vừa có đức, vừa hồng vừa chuyên.

VI. Ý nghĩa của sáng kiến. Việc tổ chức dạy học theo hình thức trải nghiệm chủ đề Văn hóa Việt Nam thời phong kiến nhằm giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh có ý nghĩa hết sức to lớn, biến sự khô khan của Lịch sử thành giờ học sinh động, hấp dẫn, sáng tạo, lôi cuốn được tất cả học sinh tham gia với một thái độ đầy thích thú. Hơn thế nữa, qua hoạt động trải nghiệm ngay tại lớp học đã mang lại cho cả giáo viên và học sinh cảm giác gần gũi với không gian sư phạm. Bằng việc các em vừa tìm hiểu, vừa trải nghiệm qua một số hoạt động như phần tài năng, xử lý tình huống đã góp phần không nhỏ giáo dục ý thức, tinh thần, thái độ, kĩ năng sống cho các em trước thực trạng xã hội hiện nay. Các em trở thành chủ thể, trung tâm của hoạt động dạy học, được phát huy sở trường cá nhân, năng lực thuyết trình, năng lực ứng xử…trước tập thể, bồi dưỡng lòng yêu ước, lòng tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống Việt Nam. Giá trị ý nghĩa do sáng kiến mang lại hết sức to lớn!

22

PHẦN KẾT LUẬN

1. Kết luận

Trong dạy và học Lịch Sử ở trường phổ thông hiện nay, người giáo viên khéo léo trong việc tổ chức tiết học, một cách khoa học có tác dụng rất lớn nhằm nâng cao hoạt động nhận thức của học sinh. Đây là việc cần phải làm của giáo viên, vì nó tạo ra sự hứng thú, sự rung cảm của người học, nhất là học sinh trung học - lứa tuổi rất nhạy cảm trong việc tìm tòi cái mới, cái chưa biết, thức dậy khả năng học hỏi và tính tích cực, chủ động học tập của các em.

Với những kết quả đã đạt được như trên, tôi nhận thấy đây là một trong những cách tổ chức dạy học hay, thực tế phù hợp với đặc trưng bộ môn nói chung và đối với nội dung của các bài học nói riêng, qua đó giáo viên biết khắc phục những tồn tại, thiếu sót trong dạy và học, phải bỏ kiểu dạy “thầy giảng, trò ghi”, “thầy đọc trò chép”, trò trả lời theo sách mà không có những sáng tạo chủ động nào trong quá trình học tập của trò.

Dạy học theo chủ đề, đặc biệt là chủ đề văn hoá dưới hình thức trải nghiệm trên lớp học để qua đó giáo dục kĩ năng sống, hình thành tư tưởng, tình cảm cảm, phát huy tính tích cực cho học sinh là một trong những biện pháp, cách thức dạy học “mở” để phát huy tính tích cực học tập bộ môn Lịch Sử đối với học sinh ở nhà trường phổ thông hiện nay , góp phần hoạt động giáo dục theo hướng tích cực hoá trong dạy và học.

2. Kiến nghị, đề xuất.

Về phía giáo viên: không tham lam, chồng chất nhiều kiến thức, phải biết chọn lọc; giản và tinh chứ không phải ôm đồm, từ đó để đi đến nội dung vấn đề gãy gọn đầy đủ, dễ hiểu, dễ học, dễ nhớ nhất.

Phải có vốn kiến thức nhất định về văn hóa, liên hệ với thực tiễn phong phú, khéo léo. Đồng thời giáo viên phải biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp dạy học, lựa chọn đúng hình thức dạy học phù hợp, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục để vận dụng tốt kiến thức vào bài giảng đúng lúc, đúng nội dung yêu cầu của bài.

Có kĩ năng tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh, có hình thức khuyến khích, động viên các em trong các buổi học để tăng tính tương tác, tính hợp tác trong quá trình dạy học.

Về phía nhà trường:

Nâng cao hơn nữa nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ

huynh về vai trò và ý nghĩa của hoạt động trải nghiệm ở tất cả các môn học.

23

Tổ chức nhiều hơn nữa những tiết học ngoài giờ lên lớp theo các chủ đề nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, để các em cảm thấy yêu hơn bộ môn Lịch Sử, hiểu thêm hơn nhiều vấn đề về văn hóa của dân tộc ta và xem đây là một sân chơi có ý nghĩa, xây dựng nếp sống lành mạnh, lôi cuốn học sinh tham gia.

Về phía Sở Giáo Dục và Đào Tạo:

Nên tổ chức tập huấn một cách bài bản kĩ năng tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho từng bộ môn theo hình thức trải nghiệm để giáo viên được trang bị đầy đủ những điều kiện cơ bản cho công cuộc cải cách giáo dục sắp tới.

Những vấn đề tôi trình bày trên đây sẽ không tránh khỏi những thiếu sót,

kính mong các đồng nghiệp nhận xét, góp ý, bổ sung để đề tài hoàn thiện hơn.

24

PHẦN PHỤ LỤC

Đội Tư tưởng-Tôn giáo Đội Giáo dục-Văn học Đội Nghệ thuật-KHKT

Phụ lục 1: Phần “khởi động” của 3 đội chơi.

- Tư liệu : Năm 1299, vua Trần Nhân Tông xuất gia tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Ðầu Ðà (sau là Trúc Lâm Ðầu Ðà). Vua được nhận là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử, thế hệ thứ sáu, tiếp nối vị tổ thứ năm là thiền sư Huệ Tuệ. Từ đó trở đi, phái Yên Tử trở thành nổi tiếng, thế lực lan rộng trong triều đình và giữa nhân gian. Một ông vua đã từng đánh bại cuộc xâm lăng của nhà Nguyên, một ông vua đã đem hòa bình và thịnh trị về cho dân, một ông vua như thế khi đi xuất gia chắc chắn đã gây nên một tiếng vang lớn và khiến tất cả mọi người trong nước hướng nhìn về ngọn núi Yên Tử. Đạo Phật trở thành yếu tố tâm lý liên kết toàn dân lại trong mục đích xây dựng và bảo vệ quốc gia. Vua Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông là những nhà chính trị giỏi, nhưng đồng thời cũng là những Phật tử thật sự.

25

Phụ lục 2: Các đội chơi báo cáo nội dung trong phần thi “Tìm hiểu”.

Phụ lục 3: Ngày nay số tín đồ theo phật giáo rất đông. Con người tìm đến đạo Phật như một phương thuốc tinh thần làm cho tâm hồn cảm thấy thanh tịnh, an nhàn, thoải mái. Khi phạm trù đạo đức xã hội có nhiều vấn đề thì con người hướng đến Phật giáo chính là hướng thiện. Chúng ta cũng có thể thấy rằng tư tưởng Phật giáo có ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống của thanh thiếu niên hiện nay. Ở các trường phổ thông giấy lên các phong trào nhân đạo như “Lá lành đùm lá rách”, “quỹ giúp bạn nghèo vượt khó”, “quỹ viên gạch hồng”…Việc giúp đỡ người khác không phải hạn chế ở việc xin bố mẹ tiền để đóng góp mà có thể bằng chính kiến thức, sức lực của mình. Sự đồng cảm với những con người gặp khó khăn, những số phận bất hạnh cô đơn, cộng với truyền thống từ bi, bác ái đã giúp những học sinh, sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường có đủ nghị lực và tâm huyết để lập ra những kế hoạch, tham gia vào những hoạt động thiết thực như hội chữ thập đỏ, hội tình thương, các chương trình phổ cập văn hoá cho trẻ em nghèo, chăm nom các bà mẹ Việt Nam nghèo... Hình ảnh những đoàn thanh niên, sinh viên tình nguyện hàng ngày vẫn lăn lội trên mọi nẻo đường tổ quốc thật đáng xúc động và tự hào. Tất cả những điều đó chứng tỏ thanh niên, sinh viên ngày nay không chỉ năng động, sáng tạo mà còn thừa hưởng những giá trị đạo đức tốt đẹp của ông cha, đó là sự thương yêu, đùm bọc lẫn nhau giữa mọi người, lòng thương yêu giúp đỡ mọi người qua cơn hoạn nạn mà không chút nghĩ suy, tính toán. Trong khi có những sinh viên đang dồn hết sức mình để học tập cống hiến cho đất nước thì vẫn còn một số bộ phận thanh niên ăn chơi, đua đòi. Tối đến, người ta bắt gặp ở các quán bar, sàn nhảy những cô chiêu, cậu ấm đang đốt tiền của bố mẹ vào những thú vui vô bổ. Rồi những học sinh, sinh viên lầm đường lỡ bước vào ma tuý, khiến cho bao gia đình tan nát, biết bao ông bố bà mẹ cay đắng nhìn những đứa con của mình bị chịu hình phạt trước pháp luật. Hơn bao giờ hết việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ trở nên rất quan trọng và một trong những phương pháp hữu ích là nêu cao truyền bá tinh thần cũng như tư tưởng nhà Phật trong thế hệ trẻ. Đó thực sự là công việc cần thiết cần làm ngay.

Chúng ta cũng nhận thấy rằng, ngày nay người dân lên chùa thường quá chú trọng đến lễ vật, đến các ham muốn tầm thường. Họ đến chùa cúng bái, thắp hương vái xin phù hộ độ trì cho họ đạt được mong muốn của mình. Những mong muốn ấy thường là chuyện học hành, tình cảm, sức khoẻ, vật chất... hoặc hơn nữa, họ coi đến chùa chỉ là hình thức đi chơi, giải trí với bạn bè kèm theo đó là sự thiếu nghiêm túc trong ăn mặc, đi đứng, nói năng. Số lượng học sinh, sinh viên nói riêng cũng như số lượng người dân đi chùa gần đây càng đông, song xem ra ý thức cầu thiện, cầu mạnh về nội tâm còn quá ít so với những mong muốn tư lợi. Có rất ít người đến chùa để tìm sự thanh thản trong tâm hồn, để tu dưỡng nghiền ngẫm đạo

26

lý làm người, về thiện - ác. Như vậy, mục đích đến chùa của nột số người dân đã sai lầm so với điều mà giáo lý nhà Phật mong muốn.

Một số hình ảnh của khán giả tham gia trả lời các câu hỏi liên hệ

Phụ lục 4: Hình ảnh tại một số ngôi chùa

Phụ lục 5: Quá trình đô thị hóa với sự thay đổi của thành phần dân cư, sự xuất hiện của những mối quan hệ mới cũng không làm mất đi những giá trị văn hoá tín ngưỡng của dân gian bền vững từ bao đời, đặc biệt là tình cảm láng giềng tắt lửa tối đèn có nhau.

Có thể thấy rằng cuộc sống trong thời đại mới, nhịp sống hiện đại đang ngày càng len lỏi vào từng góc nhà, ngõ xóm. Và trong dòng chảy đó, con người ngày hôm nay, một mặt luôn cố gắng lưu giữ những giá trị văn hoá tốt đẹp của cha ông nhưng mặt khác, cũng “gạn đục khơi trong”, cải biến những gì cho phù hợp với thời đại.

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có một số hạn chế trong tục lệ, tín ngưỡng, chẳng hạn như theo quan niệm chung của người Việt, điều quan trọng nhất trong thờ cúng tổ tiên là cúng giỗ. Đó chính là dịp để con cháu tưởng nhớ tới người đã khuất, bày tỏ lòng thành kính của mình. Trước kia người tới ăn giỗ thường mang lễ vật nhỏ thì ngày nay được thay thế bằng phong bì. Ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường đã len lỏi vào từng khía cạnh của cuộc sống. Đây cũng chính là cơ hội để cho sự tính toán, đầu óc thực dụng, bản địa hẹp hòi được trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, nhiều gia đình coi việc giỗ như một dịp để thu lợi nhuận,

27

là cái cớ để khoe khoang với bạn bè, hàng xóm theo kiểu “con gà tức nhau tiếng gáy”. Nếu như trước kia người ta đến với nhau bằng tình cảm bình dị, thắm đượm tình làng nghĩa xóm, tình anh em thì nay, phần nào đó, ở không ít người đi ăn giỗ, như là để “trả nợ miệng”. Ngoài ra cón có các vấn đề như mê tín dị đoan,bói toán, thờ cúng tùy tiện, sống gấp. Phải chăng đó chính là mặt trái của những biến đổi hiện nay đã và đang diễn ra ở hầu khắp các làng xã Việt Nam?

…………………………………………

- Tư liệu 1: Văn Miếu được xây dựng vào năm 1070 dưới thời vua Lý Thánh

Tông, là nơi thờ Khổng Tử, các bậc Hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc tử

giám Chu Văn An, người thầy đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam.

Quốc Tử Giám được xây dựng năm 1076 dưới triều vua Lý Nhân Tông, là nơi đào

tạo nhân tài cho đất nước, là trường đại học đầu tiên ở nước ta (Trích:

http://vietbao.vn/Xa-hoi)

- Tư liệu 2: Một trong những di tích nổi tiếng của Văn Miếu –Quốc Tử Giám

là 82 tấm bia Tiến sĩ, ghi họ tên, quê quán của 1307 vị Tiến sĩ của 82 khoa thi. Bia

Tiến sĩ nêu rõ…“Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước

mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp..”. Bia được đặt

trên lưng rùa. Rùa là một trong bốn linh vật: Long, Ly, Qui, Phượng. Rùa sống

lâu, có sức khỏe nên việc đặt bia Tiến sĩ trên lưng rùa đá thể hiện sự tôn trọng hiền

tài và trường tồn mãi mãi. Ngày 9/3/2010, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn

hóa Liên hiệp quốc UNESCO đã chính thức ghi danh 82 bia đá các khoa thi Tiến

sĩ triều Lê và Mạc là di sản tư liệu thứ 2 của Việt Nam trở thành Di sản tư liệu thế

giới trong chương trình “Ký ức thế giới” , sau mộc bản triều Nguyễn, ....(Trích

trong: http://vietbao.vn/Xa-hoi/Van-Mieu-Quoc-Tu-Giam)

28

Phụ lục 6: Tư liệu về Giáo dục- Văn học

Phụ lục 7: Hình ảnh “không đẹp” khi tham quan Văn Miếu.

Phụ lục 8: Nghệ thuật

Phụ lục 9: 1. Bảng mô tả các mức độ nhận thức theo chuyên đề

Nội dung Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Vận dụng cao

- Trình bày được nét chính về tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta (X-XIX) thích - Giải được nguyên nhân Phật giáo phát triển mạnh TK X-XIV. tích - Phân được tại sao 1070, nhà Lí cho xây dựng Văn Miếu.

TƯ TƯỞNG, TÔN GIÁO - Liên hệ được ảnh hưởng của PG, NG và các tín ngưỡng dân gian trong đời sống văn hóa, tinh thần người Việt hiện nay.

- Giải thích được vì sao từ thời Lê sơ Nho giáo giữ vị trí độc tôn.

- Giải thích được thái độ của chính quyền PK đối với giáo dục qua các thời kì. - Đánh giá những được hạn chế của nền giáo dục Nho học. GIÁO DỤC - Trình bày được tình hình giáo dục khoa cử ở Việt Nam phong thời kiến.

- Kể tên được - Giải thích được tác động - Liên hệ vấn đề giáo dục

29

một số nhân vật tiêu biểu.

của giáo dục đối với sự phát triển Việt Nam thời PK. hiện nay, từ đó giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.

Liên hệ văn học hiện đại ngày nay.

- Trình bày được tình hình từ văn học thếkỉ X-XIX. VĂN HỌC

- Giải thích được đặc điểm nổi bật của văn học qua các thời kì.

- So sánh được những đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam giữa các thời kì.

Liên hệ hiểu biết của mình về nghệ thuật ở địa phương.

NGHỆ THUẬT - Chứng minh được sự phong phú của nghệ thuật Việt Nam ở các thế kỉ X - XIX.

- Trình bày những được nét chính về kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, sân khấu dân thời gian phong kiến.

- Nhận xét được đời sống VH nhân dân ta thời Lý, Trần, Lê.

KHKT - Trình bày được những tựu cơ thành bản của khoa học - kĩ thuật. thích - Giải được nguyên nhân các thành tựu KHKT ít phát triển.

- Lập được bảng thống kê thành về các tựu khoa học - thuật của kĩ ta nhân dân (X-XIX).

- Đánh giá được vị trí, vai các của trò tựu thành KHKT thời phong kiến đối với đời sống xã hội ngày nay.

- Phân tích được của ý nghĩa tựu thành KHKT…

2. Câu hỏi/bài tập kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học chủ đề.

a. Mức độ nhận biết

Câu 1. Nêu nét chính về tư tưởng, tôn giáo ở nước ta từ TK X đến đầu TK

XIX.

Câu 2. Trình bày tình hình giáo dục khoa cử ở Việt Nam thời kì này.

Câu 3. Trình bày tình hình văn học Việt Nam từ thế kỉ X – XIX. Kể tên

những tác giả và tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kì này.

30

Câu 4. Kể tên một số lễ hội và các trò chơi dân gian của Việt Nam.

Câu 5. Trình bày những thành tựu của KHKT nước ta từ thế kỉ X- XIX.

b. Mức độ thông hiểu

Câu 1. Vì sao Phật giáo phát triển mạnh ở các thế kỉ X - XIV ?

Câu 2. Vì sao từ thời Lê sơ Nho giáo đã giữ vị trí độc tôn?

Câu 3. Vì sao Kitô giáo bị chính quyền phong kiến hạn chế truyền bá và mở

rộng ảnh hưởng ở nước ta?

Câu 4. Tại sao nền giáo dục Nho học không tạo điều kiện phát triển kinh tế?

Câu 5. Vì sao các thành tựu khoa học tự nhiên, kĩ thuật thời phong kiến ít phát

triển?

Câu 6. Giải thích ý nghĩa của thành tựu kĩ thuật nước ta ở các TK XVII-XIX.

c. Mức độ vận dụng thấp

Câu 1. Phân tích tại sao năm 1070, nhà Lí cho xây dựng Văn Miếu?

Câu 2. So sánh những đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam giữa các thời

kì: từ TK X đến TK XV và từ TK XVI đến TK XVIII, XIX.

Câu 3. Chứng minh sự phong phú của nghệ thuật Việt Nam ở các thế kỉ X -

XIX.

Câu 4. Lập bảng thống kê về các thành tựu khoa học - kĩ thuật của nhân dân

ta (X-XIX).

d. Mức độ vận dụng cao

Câu 1. Liên hệ ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo và các tín ngưỡng dân gian

trong đời sống văn hóa – tinh thần người Việt hiện nay.

Câu 2. Em đánh giá như thế nào về nền giáo dục Nho học ở Việt Nam thời

phong kiến. Liên hệ với nền giáo dục hiện nay?

Câu 3. Nhận xét về đời sống văn hóa của nhân dân ta thời Lý, Trần, Lê?

Câu 4. Hãy đánh giá vị trí, vai trò của các thành tựu KHKT thời phong kiến

đối với đời sống xã hội ngày nay.

31

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. N.G. Đairi , Chuẩn bị giờ học Lịch sử như thế nào?, NXB Giáo Dục, Hà

Nội,1973.

2. Nghị quyết TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ II khoá VIII.

3. Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên), Tiến trình Lịch Sử Việt Nam , Nxb Giáo

dục.

4. Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (Chủ biên) (2000), Phương pháp dạy học

Lịch sử, Nxb Giáo dục

5. Đinh Xuân Lâm (Chủ biên) (1998), Đại cương Lịch sử Việt Nam tập 2,

Nxb Giáo dục.

6.Internet.

32