0 | P a g e
-
ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
------------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO CƠ HỘI CHO TRẺ CÓ BIỂU HIỆN
TĂNG ĐỘNGA NHẬP VỚII TRƯỜNG GIÁO DỤC
Lĩnh vực : Chủ nhiệm
Cấp : Tiểu học
Tác giả : Nguyễn Thị Phương
Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Thanh Xuân Nam
Chức vụ : Giáo viên
Năm học 2019- 2020
Một số kĩ năng tạo hội cho trẻ có biểu hiện tăng động hội nhập với môi trường giáo dục”
1/21
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Học sinh bậc Tiểu học là nền tảng cho hệ thống giáo dục, đặt cơ sở ban đầu
cho sự hình thành phát triển nhân cách của trẻ. Đối với học sinh Tiểu học,
hoạt động trong nhà trường chủ đạo, nhà trường nơi tổ chức các hoạt động
chuyên biệt, nơi giáo dục trẻ theo mục tiêu giáo dục của bậc Tiểu học. Bởi
vậy nhà trường nơi diễn ra cuộc sống của trẻ, nơi trẻ bộc lộ khả năng, năng
lực, nhân cách một cách đầy đủ, rõ ràng nhất.
Để đảm bảo được nhiệm vụ trồng người, mi giáo viên phải nhiệm vụ
đào tạo nên những con người có đức, tài cho hội. Bởi thế nhiệm vụ của
mỗi người giáo viên không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức về tự
nhiên, xã hội mà còn phải xây dựng và hình thành choc em ý thức tự chủ, tinh
thần trách nhiệm cao ngay từ nhỏ… Người giáo viên vừa dạy chữ, vừa dạy ch
làm người cho trẻ.
Đối với học sinh Tiểu học, việc được đến trường học không phải chỉ nhu
cầu được học n niềm vui nữa. trường, c con được học, được vui
chơi, được gặp gỡ các bạn, giáo. Đến trường không chỉ đhọc các con chữ
các con còn được họcch tự lập làm việc, học tập, ý thức với sự việc
với mi người xung quanh mình. Song, nhiều trẻ em biểu hiện ng động thì
lại rất sợ phải đến trường, với c con mắc bệnh hội chứng tăng vận động,
giảm chú ý cũng một sự thiệt thòi cho bản thân cho gia đình, đã vậy
còn không được đến trường vui đùa cùng các bạn thì thiệt thòi cho các con biết
bao nhiêu.
Hiện nay trẻ biểu hiện tăng động một vấn đề nóng trên toàn thế giới.
Việt Nam cũng không loại trđiều đó. Việc giáo dục học sinh biểu hiện
tăng động là điều rất quan trọng và cần thiết. Trước nay, việc cải thiện tình trạng
cho học sinh có biểu hiện ng động chthể thông qua con đường giáo dục
hòa nhập và được xem đó là một hoạt động trị liệu tốt nhất.
Từ ý ởng suy nghĩ đó, tôi mạnh dạn trình bày nội dung “Một số biện
pháp tạo hội cho trẻ biểu hiện tăng động hòa nhập với môi trường
giáo dục.” mà tôi đã tích luỹ được. Hy vọng được sự chia sẻ, tham gia đóng góp
chân thành từ các thầy giáo, giáo các cấp nh đo đnhững kinh nghiệm
này được hoàn thiện và áp dụng hiệu qu.
Một số kĩ năng tạo hội cho trẻ có biểu hiện tăng động hội nhập với môi trường giáo dục
2/21
2. Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 01 tháng 08 năm 2019 đến ngày 10 tháng 01 năm 2020 năm học
2019 – 2020.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng học sinh hội chứng có biểu hiện tăng động.
Một s học sinh trong lớp 2A7 trường Tiểu học Thanh Xn Nam năm
học 2019 – 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện
+ Phương pháp quan sát
-Phương pháp nêu gương.
-Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Một số kĩ năng tạo hội cho trẻ có biểu hiện tăng động hội nhập với môi trường giáo dục
3/21
PHẦN II. GII QUYT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất
nước với các quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa… mô hình bệnh lý tâm lý,
tâm thần cũng có nhiều thay đổi. Đặc biệt có sự gia tăng của các rối loạn tâm lý,
tâm thần ở trẻ em & vị thành niên như: rối loạn tự kỷ, tăng động giảm chú ý, ri
loạn cảm xúc hành vi…Theo Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD.10),
rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) là nhóm các rối loạn có đặc trưng: khởi
phát sớm, sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, khó kiểm soát với
thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc và những đặc điểm hành vi
trên lan tỏa trong một số lớn hoàn cảnh và kéo dài với thời gian. Cho đến nay
phần lớn trẻ mắc rối loạn tăng động giảm chú ý không được công nhận đang
bị bệnh.
Theo báo cáo thống kê của Viện Tâm thần học trung ương, tỷ lệ ADHD ở trẻ
6 tuổi (sinh 2008, học lớp 1) cao nhất, 8,16%, sau đó đến trẻ 7 tuổi (sinh 2007,
học lớp 2): 7,87%, trẻ 8 tui (sinh 2006, học lớp 3): 7,52%. Kết quả nghiên cứu
của chúng tôi đưa ra tỷ lệ ADHD cho trẻ từng lứa tuổi, sinh từ 2008 đến 2000
(lớp 1-lớp 9). Tỷ lệ trẻ ADHD đạt học lực loại giỏi thấp nhất: 5,22%, sau đó đến
học lực loại khá, 14,18%, có 24,13% trẻ ADHD xếp loại học lực kém. Kết quả
này cũng phù hợp với nhận xét của nhiều tác giả: trẻ ADHD bị ảnh hưởng nhiều
đến kết quả học tập do giảm chú ý nên không tuân theo sự hướng dẫn của thầy
giáo. Trí thông minh và ADHD không có liên quan gì đến nhau. Khó khăn
trong học tập là hậu quả của việc giảm tập trung chú ý và tăng động gây nên chứ
không phải do trẻ kém thông minh. Khoảng 19-26% trẻ có ADHD sẽ có khó
khăn đủ để chẩn đoán là có rối loạn hc tập & khoảng 80% trẻ có rối loạn học
tập đủ để trẻ b thụt lùi 2 lớp so với trẻ cùng tuổi (Barley, 2003). Kết quả học tập
kém là hậu quả tự nhiên của trẻ kém tập trung chú ý, tăng hoạt động và bốc
đồng. Các biểu hiện tăng động như hoạt động luôn chân tay như thể được gắn
“động cơ” là biểu hiện gặp ở tất cả các trẻ tăng động, sau đó đến biểu hiện cãi
nhau, đánh nhau với bạn 97,51%, cựa quậy chân tay hoặc vặn vo, ngồi không
yên 94,78%. Một số biểu hiện khác gặp với tỷ lệ thấp hơn: Rời khi chỗ
những nơi phải ngồi yên 89,05%, nói quá nhiều 88,81%, chạy nhảy, leo trèo quá
mức quá mức ở những nơi cần phải ngồi yên 70,4%, mất trật tự thường xuyên
trong lớp 63,18%. Có tới 57,71% gia đình sau 2 năm mới biết con mình bị tăng
động, giảm chú ý, 25,62% gia đình biết sau 1-2 m. Tỷ lệ gia đình sớm biết trẻ
bị bệnh (1-6 tháng) rất thấp, 7,71%. Như vậy, rối loạn tăng động giảm chú ý
trẻ em chưa được nhiều gia đình lưu ý, vì vậy gần 2/3 s cha mẹ sau 2 năm mới
biết con mình mc chứng này.
Một số kĩ năng tạo hội cho trẻ có biểu hiện tăng động hội nhập với môi trường giáo dục
4/21
Luật giáo dục năm 2005 (sửa đổi , bổ sung m 2009) đã xác định: Mục
tiêu của giáo dục phthông giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mĩ các năng bản, phát triển năng lực các nhân, tính
năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách của con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, y dựng tư ch và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp
tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng bảo vệ tổ
quốc.” Với vai trò cấp học nền tảng, giáo dục Tiểu học phải “nhằm giúp học
sinh hình thành những sở ban đầu cho sphát triển đúng đắn lâu dài về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các năng cơ bản để học sinh tiếp tục học
trung học cơ sở.”. Trong đó cũng bao gồm những vấn đliên quan đến các vấn
đề tâm lý nói chung hay biểu hiện tăng động nói riêng. Vậy tăng động là gì?
Tăng động vấn đxoay quanh rối loạn phát triển hành động thiếu tự chủ.
Xuất hiện các vấn đề liên quan đến s chú ý, kiểm soát sự kích thích và về s
tăng động, thế nhưng còn hơn thế, nó còn liên quan đến sự hạn chế khả năng
những đứa trẻ này, các mục tiêu tương lai và hệ quả ứng xử của chúng.
Theo thống kê cứ 100 trẻ thì có 3 đến 5 trẻ mắc chứng tăng động giảm chú ý với
một số triệu chứng bắt đầu trước tuổi lên 7. Thực tế không ít trẻ mắc rối loạn
tăng động giảm cý ở mức độ nặng mới được các bậc cha mphát hiện và đưa
đi khám.
Ở trẻ có biểu hiện tăng động thường có những dấu hiệu hiếu động q
mức. Trẻ thường chạy nhảy không biết mệt. Vì vậy, việc phải ngồi yên một chỗ
thực sự là một khó khăn với những trẻ này. Trẻ chỉ muốn đứng lên và lao vào
mọi thứ, bất chấp nguy hiểm.Ví dụ: Trẻ có thể leo trèo khắp nơi trong nhà mà
không biết mệt hay có cảm giác sợ sệt từ lời dọa nạt của người lớn.
Trẻ khó tập trung, dễ sao nhãng. Mặc dù luôn hào hứng với mọi thứ
nhưng điều đó không kéo dài được lâu bởi trẻ luôn trong trạng thái luôn tay luôn
chân, không thể ngừng nghỉ dù chỉ một chút.
Trẻ hấp tấp, bồng bột. Điều này thể hiện ràng nhất qua việc trẻ không
thể chờ đợi đến lượt mình, nói trên người khác, phá đám người lớn hoặc các bạn
khác. Hệ quả trẻ d mc lỗi khi làm i tập hoặc gặp vấn đề khi làm việc
khác.
Trẻ chậm i, khó khăn khi diễn đạt, bày tỏ mong muốn của mình là điều
thường thấy những trẻ này. Ngoài ra, trẻ phát triển kỹ năng bình thường
trong những năm đầu, nhưng về sau sẽ chậm lại gặp các vấn đề trong việc sử
dụng từ ngữ và nối câu hoàn chỉnh.
Đặc biệt, trẻ dễ ni nóng, khó kiềm chế cảm xúc. Chính vì vậy, trẻ thường có
những hành động qmức dẫn đến xô xát, đánh bạn hoặc làm tổn thương ngay