Nguyn Văn Song - THPT Phù C
Sáng kiến kinh nghiệm
Một số kinh nghiệm dạy Văn
Nguyễn Văn Song - THPT Phù C
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chn đề tài
1. Cơ s lý luận:
Dạy văn là mt công việc nhc nhằn, vất vả và có ý nghĩa quan trọng trong việc
giáo dc, bồi đắp thế giới tâm hồn của học sinh. Nhà văn Mác xim Gor-ki đã từng
khẳng đnh Văn học là nhân hoc” nên dy học n đồng nghĩa với việc dạy làm
người là vì thế. Mỗi tác phm văn học chứa đựng bao nhiêu ưu tư, trăn trước
mong thm kín của người cầm bút thông qua thế giới hình tượng. Văn học chân chính
luôn hướng con người đến với những tình cảm cao đẹp như tình yêu q hương, đất
nước, tình yêu con người, yêu cuộc sng với đủ mọi cung bậc, sắc thái. Những tình
cảm ấy được thể hiện hp dn, sinh động qua nghệ thuật ngôn từ mang đặc trưng ca
văn chương. Người dạy n vừa phải là mt nhà phạm đồng thời phải là mt người
tâm hồn nghệ sĩ đcó thể đm đương vai trò làm cầu nối giữa tâm hồn nhà văn với
trái tim người học. Để có được những giờ dạy văn hiệu quđòi hỏi người dy phải có
tình yêu thiết tha với n chương, tri thức phong phú, sâu rộng, phương pháp
phạm và kinh nghim dạy học. Kinh nghiệm dạy văn được hình thành trên stích
lũy từ những người đi trước và trong thc tế giảng dy ca bn thân. Không một người
dy văn nào thtrở thành mt giáo viên dy giỏi mà không shọc hỏi kinh
nghiệm từ những người đi trước và không ngừng tìm tòi, đúc rút từ những giờ dạy văn
ca chính mình.
2. Cơ sở thực tiễn:
Dạy học văn nhọc nhn vất vả nhưng không phải vì thế mà thiếu vắng những
thy cô tâm huyết với ngh, luôn có ý thức trau dồi, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân
truyền lại những kinh nghiệm ấy cho bạn bè, đồng nghiệp. Mỗi người dy văn
mt sở trường, một thế mạnh, một cái hay riêng. Các thy yêu nghề thường biết tìm
đến nhau để chia sẻ và học hỏi không ngoài mc đích vì trọng trách dạy làm ngưi ca
mt người thầy văn chương. Ra trường đi dạy văn 12 năm nay, i luôn thấy mình
là người thật may mắn khi được tiếp xúc, trao đổi với nhiều thầy giáo dạy văn nhiều
kinh nghiệm trong và ngoài trưng, hơn nữa lại là cộng tác viên với phòng thanh tra
ca Sở Giáo dục Đào tạo ng Yên nên tôi được dự giờ của khá nhiều thầy dạy
văn trong tỉnh. Chính vì lđó tôi được học hi đúc rút cho mình được một số
kinh nghiệm mà theo tôi cần thiết đối với một giáo viên dy văn. Ban đu, tôi cũng
Nguyễn Văn Song - THPT Phù C
hơi phân vân khi lựa chọn đề tài y làm Sáng kiến kinh nghiệm của mình trong năm
học này bởi lẽ sợ ai đó cho rằng mình tphụ, tự cho mình nhiều kinh nghiệm nhưng
thiết nghĩ những kinh nghiệm này tôi cũng học hỏi từ các thầy đi trước, từ bạn bè,
đồng nghiệp gần xa. Hơn nữa, mục đích của tôi đchia sẻ, góp phần ít nhiều cho
công tác dạy hc văn. Sau những phân vân y, i mnh dạn lựa chọn đề tài “Một số
kinh nghiệm dạy vănlàm ng kiến kinh nghiệm của mình năm học 2011- 2012. Rất
mong nhận được sự chia sẻ, góp ý ca các thầy cô, bạn bè đồng nghip gần xa.
II. Ph¬ng ph¸p nghiªn cøu:
- Phân tích, đánh giá t thực tiễn
- Da trên cơ s của phương pháp dạyn, học văn
- Da vào đặc thù của bộ môn Ngữ văn
III. Phm vi nghiên cu:
Kinh nghiệm trong dạy hc Văn
IV.i liu tham kho:
- Sách giáo khoa, sách giáo vn Ng văn 12.
- Sách tham kho
- Các bài ging, các ý kiến ca các ging viên Đại hc
Nguyễn Văn Song - THPT Phù C
NỘI DUNG
I. THC TRẠNG CỦA VIỆC HỌC VĂN HIỆN NAY:
Môn văn việc học văn đã từng một chđứng đáng tự hào trong lịch sử
giáo dục nước nhà. Trong các kì thi chọn nhân tài dưới các triều đại phong kiến không
th thiếu những bài thi vvăn chương, thơ, phú. Với những bậc trí thức Nho học thì
những buổi bình thơ văn thực sự là những cuộc đua tài để thể hiện vốn học thức và cốt
cách, khí tiết ca người quân tử. Dưới thời , trong triều còn Hi Tao Đàn hội
tụ hai mươi tám ngôi sao sáng về thơ văn (nhị thập bát tú) mà vuaThánh Tông làm
chsoái. Nn giáo dục phong kiến lấy văn chương làm nền tảng ấy dù những hạn
chế nhất định nào đó nhưng đã to nên mt bản sắc văn a Á Đông hết sức độc đáo
ca người Việt Nam. Chính nền giáo dục y đã sn sinh ra nhng con người kiệt xuất
vtài năng, nhân cách làm rạng danh cho lịch sdân tộc nNguyễn Trãi, Thánh
Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Quát, Nguyễn
Khuyến, Nguyễn Đình Chiu...
Cuộc đời biến đổi, xoay vần với quy luật tất yếu của nó. Chế độ thi cử, khoa
bảng gn 1000 năm đã dần lùi o quá vãng. Nghiên, mc, bút lông vi những bài thi
đậm chất văn chương, thơ p nhường chỗ cho một nền giáo dục hiện đại với những
tri thức phong phú về nhiều nh vực. Biết đó là quy luật tất yếu của lịch sử, của thời
đại mà nhiều người vẫn thấy hụt hng, chới vi và tiếc nuối giống như tâm scủa nhà
thơ Vũ Đình Liên.
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn đâu bây giờ?
Trong bi cnh hiện nay, b môn văn đã mt đi vị trí độc tôn một thuở của
mình, thậm chí bngười học và xã hi quay lưng một cách phũ phàng. Tất nhiên,
môn văn vẫn được đưa vào thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh vào các trường đại
học khối C, khối D nhưng không phải vì thế mà người học mặn mà với văn. Các
trường, các ngành tuyển sinh bằng môn văn không nhiều. Những nghề nghiệp có liên
quan đến văn thưng kng kiếm ra tiền đến nỗi chính các thầy dạy văn còn phải
khuyên hc trò ca mình không nên thi vào các trưng sư phạm văn dù h vẫn tha
thiết yêu nghề và rất mong có nhiều thế hệ yêu văn tiếp nối công việc của mình. Chính
Nguyễn Văn Song - THPT Phù C
vì thế việc học văn trong các nhà trưng hiện nay thực sự đáng buồn nếu không muốn
nóiđáng báo động. Ngoại trừ các lớp chuyên văn các trường chuyên, trường năng
khiếu và một số ít i các học sinh thi khối C còn hầu hết học sinh học văn mang tính
đối phó hoặc nếu không thì cũng không hứng khởi gì. Slưng học sinh viết được một
i văn ca riêng mình, mang màu sắc n chương, sự cảm thụ nhân ít i
cùng. Nếu làm mt phép thống kê, xin dám chắc đến 70% học sinh tốt nghiệp PTTH
không biết thực hành viết một bài làm văn theo đúng yêu cầu, đúng chính tả, ngữ
pháp, đấy chưa kể đến việc hiểu và tiếp nhận tác phm. Không hiểu c em đã học
như thế nào trong 12 năm học phổ thông đkhi đã trthành những tú tài, phn lớn
không biết viết được một câu n gãy gn, thậm chí còn mắc phải những lỗi chính tả
hết sức bản mà lra bất cứ học sinh nào hc xong tiểu học cũng có thnắm được.
Môn tp làm văn được học đến 5 năm cả hai cấp học (THCS, THPT) đã luyện cho
học sinh từ cách viết u văn, đon n đến bcục một bài n; luyện khá kỹ về các
thao tác nghluận: chứng minh, giải thích, phân ch, bình luận...Vậy mà tt cả đều bị
hiệu hoá. Hầu hết học sinh làm mt bài văn không cn quan tâm đến yêu cầu th
loi, một yêu cầu quan trọng của bài văn, giúp giáo viên có thể đánh giá được năng lực
duy, khnăng, mc độ hiểu biết và cảm nhận văn học ca học sinh. Cách làm bài
ca các em như những cỗ y hồn, hễ đặt bút là viết, chỉ cn liếc qua đề bài nhắc
đến tác phm hoặc tác giả nào cthế viết. Còn viết cái gì thì đã bài văn mẫu
trong hàng tập tài liệu sẵn, đã bài ging các lớp ôn luyện sẵn, tha hồ cóp
chnày, lắp ghép chkia. Đa phần học sinh không thể tự viết được một bài n bằng
chính ssuy nghĩ và cảm nhận ca mình, mà nếu viết được đi chăng nữa thì phn lớn
là những câu văn n nghê, những ý tưởng "cười ra nước mắt" như: " Chế Lan Viên
mt nhà văn lớn", " Tố Hữu được giải - Ben Văn học năm 1960", Nguyễn Tuân...là
người say mê tái hiện các nhân vật lịch sử nổi tiếng cùng thời như Hồ Xuân Hương,
CaoQuát", " Vit Nam tuy không phải là cường quốc về kinh tế và quân snhưng
là cường quốc về tình yêu", “Tràng nhặt Mị về làm vợ”,ông Xuân Qunh”,bà Xuân
Diệu”..... Trong kỳ thi tốt nghiệp 12 hàng năm, khi đi chm Văn, các thầy cô chủ yếu
được đọc các bài văn na giống nhau. khác chăng chỉ độ dài ngn hoặc là ch
viết.
Nguyên nhân dẫn đến việc học văn đáng báo động như hiện nay thì nhiều
nhưng trong đó có nguyên nhân từ việc dạy n hiện nay. Bản thân việc dạy văn trong