
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG
ĐỒ DÙNG TRONG DẠY HỌC
NGỮ VĂN THPT

Phần thứ nhất
MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Dạy văn là quá trình hướng dẫn học sinh khám phá, rung động với vẻ đẹp nội
dung và hình thức của tác phẩm, từ đó, trang bị năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ với
các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và bồi dưỡng tình người, lẽ đời cho học sinh.
Trong những năm gần đây, vấn đề dạy học theo phương pháp đổi mới đã và
đang được thực hiện một cách đồng bộ ở các cấp học, các môn học. Nằm trong hệ
thống các môn văn hoá cơ bản của cấp học THPT, bộ môn Ngữ văn cũng đã đặt ra
những yêu cầu cấp thiết về việc đổi mới phương pháp Giảng dạy theo hướng :
Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của học sinh.
Lối dạy mới tập trung vào việc làm sao cho học trò hoạt động tư duy càng
nhiều càng tốt, Thầy chỉ là người tổ chức, hướng dẫn, giúp học sinh giải quyết vấn
đề và chủ động tiếp cận, lĩnh hội tri thức. Đó là kiểu dạy lấy người học làm trung
tâm, kiểu học lấy việc tự học có hướng dẫn làm chính.
Để thực hiện tốt phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, bên cạnh
việc đổi mới một số phương pháp giảng dạy (như cách đặt câu hỏi, cách kiểm tra,
đánh giá...) thì việc sử dụng các phương tiện, đồ dùng dạy học cũng rất quan
trọng. Việc sử dụng đúng, sử dụng hợp lí đồ dùng dạy học trong các giờ dạy với
những hình ảnh, âm thanh sinh động làm cho người học dễ dàng tiếp thu, khắc sâu
kiến thức và sẽ đem lại sự hứng thú trong học tập cho học sinh ; tăng tính tích
cực, chủ động sáng tạo ; tăng khả năng tự học ; tăng bản lĩnh tự tin ; chất lượng,
hiệu quả dạy học cao.
Việc sử dụng đồ dùng có thể thực hiện bình thường ở tại lớp học, thực hiện
cho các tiết đọc văn, tiết Tiếng Việt và cả tiết Tập làm văn trong chương trình
toàn cấp : lớp 10,11,12. Phạm vi ứng dụng đa dạng, dưới nhiều hình thức : kiểm
tra bài cũ, tìm hiểu bài mới, kỹ năng trình bày một vấn đề, kỹ năng cảm thụ văn
học.
Nguồn tư liệu để tạo đồ dùng dạy học, có thể lấy từ thông tin trên mạng
internet, từ các tài liệu tham khảo khác. Giáo viên vừa tự sưu tầm vừa yêu cầu học
sinh sưu tầm tài liệu trong quá trình chuẩn bị bài mới ; giáo viên lựa chọn, xử lý
và tự tạo các đồ dùng theo mục tiêu bài học. Như thế, người giáo viên vừa có tư
liệu để sử dụng vừa lôi cuốn được học sinh vào bài học ngay từ lúc chuẩn bị bài ở
nhà.
Đây là những kinh nghiệm mang tính chủ quan, quỹ thời gian biên soạn eo
hẹp nên chắc chắn còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Rất mong sự đóng góp ý kiến của
quý thầy cô, xin chân thành tiếp thu và tri ân !

II.THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI :
1.Thuận lợi :
- Sống trong một môi trường xã hội mới, học sinh ngày nay có cơ hội tiếp
xúc với lối sống hiện đại, nên các em rất năng động, sáng tạo, tự tin ham hiểu biết,
ưa khám phá, thích tìm tòi.
- Trong chương trình Ngữ văn THPT có rất nhiều bài có thể sử dụng đồ
dùng dạy học.
- Song song với việc đổi mới phương pháp là trang thiết bị dạy học được cải
thiện với kỹ thuật hiện đại. Nguồn thông tin để thu thập tài liệu cũng như các loại
vật liệu dùng để làm đồ dùng khá phong phú, đảm bảo điều kiện tối thiểu cho việc
sưu tầm và tự tạo các loại đồ dùng dạy học.
2.Khó khăn :
- Tồn tại lớn nhất là thói quen thụ động, quen nghe, quen chép, ghi nhớ và
tái hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những gì giáo viên đã giảng. Đa phần
học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học. Người học chưa
có hào hứng và chưa quen bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của cá nhân trước tập
thể, cho nên khi phải nói và viết, học sinh cảm thấy khá khó khăn. Học sinh phải
học một lúc nhiều môn, môn nào cũng quan trọng.
- Đồ dùng giảng dạy môn văn khá phong phú. Nhưng trên thực tế, hiện nay
các phương tiện, đồ dùng của Phòng Thiết bị nhà trường phục vụ cho bộ môn Ngữ
văn hầu như không có gì. Đây là vấn đề khó khăn lớn đối với mọi giáo viên khi
lên lớp mà không muốn dạy chay. Do đó, đồ dùng mà tôi sử dụng để phục vụ cho
các tiết dạy trên lớp ở đây chủ yếu là đồ dùng tự làm.
- Tự làm các loại đồ dùng dạy học đòi hỏi một sự đầu tư khá lớn về vật chất,
chuẩn bị công phu và tốn nhiều thời gian.
Tuy nhiên, những khó khăn trên thiết nghĩ có thể khắc phục đựơc bởi đội ngũ
nhà giáo có tâm huyết và nhiệt thành với tinh thần đổi mới.

Phần thứ hai
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN :
1. Cơ sở lí luận :
“Trăm nghe không bằng một thấy”. Đó là kinh nghiệm ngàn đời không bao
giờ cũ mà Ông cha ta đã để lại cho các thế hệ mai sau. Đúng vậy, nếu hoạt động
học được tiến hành một cách thụ động, thì sớm hay muộn nó cũng sẽ trở về điểm
xuất phát ban đầu. Bởi vậy, hoạt động dạy và học phải thực sự là một hoạt động
tích cực. Theo các nhà khoa học giáo dục thì “Muốn thực hiện dạy và học tích
cực thì cần phát triển phương pháp thực hành, phương pháp trực quan theo
kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện….” (Trang 14 - Tài liệu bồi
dưỡng Giáo viên môn Ngữ văn 11- NXBGiáo dục – 2007).
Trong phương pháp giảng dạy văn học, người ta nói đến ba loại trực quan
là trực quan thị giác, trực quan thính giác và trực quan ngôn từ. Tuy nhiên, có
thể vận dụng các hình thức trực quan ấy không chỉ ở dạng “thuần nhất” mà cả ở
dạng kết hợp.
Đồ dùng dạy học bao gồm các thiết bị dạy học mà nhờ đó giáo viên minh
hoạ truyền thụ kiến thức cho học sinh, là một trong những điều kiện quan trọng
góp phần nâng cao chất lượng dạy - học. Giá trị lớn nhất của việc sử dụng hợp
lý đồ dùng dạy học là sự tác động tích cực của chúng đến các giác quan của học
sinh – đặc biệt là thị giác và thính giác. Những đồ dùng, phương tiện ấy được
coi là một kênh thông tin dẫn học sinh đến những tri thức mới, giúp cho tư duy
nhận thức của học sinh phát triển theo chiều hướng lôgic : từ trực quan sinh
động đến tư duy trừu tượng, đến thực tiễn. Điều này càng khẳng định cần thiết
có sự hỗ trợ của các đồ dùng dạy học trong các giờ học, tránh dạy chay, theo
kiểu truyền đạt thông tin một chiều.
2. Cơ sở thực tiễn :
Việc sử dụng một cách hợp lý đồ dùng dạy học sẽ hỗ trợ có hiệu quả cho
tiết dạy, giúp học sinh hiểu sâu sắc và nằm vững kiến thức bài học. Thu hút sự
hứng thú tham gia của học sinh, tạo được không khí sôi nổi trong học tập. Rèn
đựơc tính chủ động, sáng tạo và khả năng tư duy cho học sinh.
Sử dụng đồ dùng dạy học tốt giúp giáo viên và học sinh mất ít thời gian và
công sức, dành nhiều thời gian cho các hoạt động dạy và học, thực hiện có hiệu
quả bài học.

II. PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRONG DẠY HỌC MÔN
NGỮ VĂN THPT :
1.Vai trò của đồ dùng dạy học trong dạy học môn văn :
Muốn “dạy tốt, học tốt” thiết nghĩ, trong các giờ hoạt động trên lớp việc kết
hợp sử dụng đồ dùng dạy học là một yếu tố góp phần tạo nên thành công cho tiết
dạy học. Vì nó là những hình ảnh trực quan sinh động giúp học sinh tiếp thu bài
tốt Đồ dùng dạy học làm giảm nhẹ công việc của người giáo viên và giúp cho học
sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi. Có được đồ dùng thích hợp, người giáo
viên phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho
hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho
học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn học. Do đặc điểm của quá trình nhận
thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của học sinh tăng dần theo các cấp độ của tri
giác : nghe – thấy – làm được, nên khi đưa Đồ dùng dạy học vào quá trình dạy
học, giáo viên có điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập của học sinh và từ
đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ
năng, kỹ xảo cho các em.
2. Phương pháp sử dụng đồ dùng trong dạy học môn Ngữ văn THPT :
a. Lập sổ kế hoạch sử dụng đồ dùng dạy học :
Để sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả và có đồ dùng để sử dụng, ngay từ
đầu năm học người giáo viên phải xây dựng kế hoạch sử dụng đồ dùng dạy học
cho từng khối lớp mà mình có tham gia giảng dạy.
- Trước hết, chúng ta cần xác định bài dạy có thể sử dụng đồ dùng dạy học.
Sau đó, ta xác định loại đồ dùng có thể sử dụng trong giảng dạy bài học đó.
- Tiếp theo, chúng ta xác định loại đồ dùng nào đã có sẵn, loại đồ dùng nào
phải tự làm và lên kế hoạch sử dụng cũng như kế hoạch làm đồ dùng.
- Ví dụ :
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC CỦA GIÁO VIÊN
MÔN NGỮ VĂN LỚP 11
Tuần
Tiết CT
Tên bài dạy Loại đồ dùng Ghi chú
2 6 Câu cá mùa thu Chân dung tác giả
Cảnh mùa thu Bắc bộ
Nguyễn Khuyến
4 13 Bài ca ngất ngưởng Chân dung tác giả Nguyễn Công Trứ
6 21 Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Chân dung tác giả Ng Đình Chiểu
10 37, Hai đứa trẻ Chân dung tác giả Thạch Lam
11 41 Chữ người tử tù Chân dung tác giả Nguyễn Tuân

