
SỞ GIÁO SỞ SỞ GIÁO
DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRƯỜNG THPT SỐ I TP LÀO CAI
………………………………….
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
TÍCH HỢP TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
THIẾT KẾ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BÀI DẠY.
Người thực hiện: Lưu Thị Ngân Hà
Đơn vị công tác: Tổ Ngữ văn trường THPT số I thành phố Lào Cai
Lào Cai, tháng 3 năm 2011

TÍCH HỢP TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
THIẾT KẾ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BÀI DẠY.
----------------------------------------
A. PHẦN më ®Çu
I.Tính cấp thiết của ñề tài
Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện ñại hiện ñang ñược quan
tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới và Việt Nam.
Chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 do Bộ GD&ĐT dự thảo ñã ghi rõ:
“Lấy quan ñiểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ ñạo ñể tổ chức nội dung chương trình,
biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy.” (tr. 27) “Nguyên tắc tích
hợp phải ñược quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt ñến Làm
văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt tromg mọi yếu tố của
hoạt ñộng học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong
phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt ñộng học tập của HS; tích hợp
trong các sách ñọc thêm, tham khảo.” (tr.40).
Như vậy, ở nước ta hiện nay, vấn ñề cần hay không cần tích hợp trong xây dựng
nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy
môn Ngữ văn không ñặt ra nữa. Bài toán ñang ñặt ra trong lĩnh vực lí luận và
phương pháp dạy học bộ môn là phải tiếp cận, nghiên cứu và vận dụng dạy học tích
hợp vào dạy học Ngữ văn ở THPT nhằm hình thành và phát triển năng lực cho HS
một cách có hiệu quả hơn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và ñào tạo của
bộ môn .Với quan ñiểm như vậy, chương trình sách giáo khoa mới so với các bộ
sách ñã ñược giảng dạy lâu nay tất nhiên là có nhiều ñiểm khác biệt. Do vậy, người
làm công tác giảng dạy không thể không tìm cách tự thay ñổi phương pháp dạy học
cho phù hợp với yêu cầu mới, mục tiêu dạy học mới.
II. Tình hình nghiên cứu
Ở nước ta, từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại ñây, vấn ñề xây dựng môn
học tích hợp với những mức ñộ khác nhau mới thực sự ñược tập trung nghiên cứu,
thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông, chủ yếu ở bậc Tiểu học và cấp
THCS. Trước ñó, tinh thần giảng dạy tích hợp chỉ mới ñược thực hiện ở những
mức ñộ thấp như liên hệ, phối hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học hay
phân môn khác nhau ñể giải quyết một vấn ñề giảng dạy.
Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn ñang ñược tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm
và áp dụng vào ñổi mới chương trình và SGK THPT. Mặc dù ñã ñược qua một số
ñợt tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về ñổi mới phương pháp dạy học theo quan
ñiểm tích hợp, nhưng do chương trình quá mới mẻ nên chưa hẳn tất cả giáo viên
ñều ñã nhận thức về vấn ñề một cách thấu ñáo.Bản thân người viết ñề tài này cũng

không ít lần lúng túng trong thiết kế bài dạy cũng như vận dụng một cách hiệu quả
các phương pháp dạy học theo quan ñiẻm tích hợp.
III. Mục ñích nghiên cứu
Từ những cơ sở trên, khi chọn ñề tài này người viết cũng không ngoài mục
ñích là muốn ñúc rút những vấn ñề lí luận cơ bản nhằm giúp cho việc nhận thức
về phương pháp dạy học theo quan ñiểm tích hợp rõ hơn, từng bước góp phần ñổi
mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ văn
bậc THPT ( nâng cao năng lực sử dụng những kiến thức và kĩ năng mà HS lĩnh hội
ñược, bảo ñảm cho mỗi HS khả năng huy ñộng có hiệu quả những kiến thức và kĩ
năng của mình ñể giải quyết những tình huống có ý nghĩa, cũng có khi là một tình
huống khó khăn, bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp. Mặt khác, tránh ñược
những nội dung, kiến thức và kĩ năng trùng lặp, ñồng thời lĩnh hội những nội dung,
tri thức và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn riêng rẽ không có ñược ).
IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong ñề tài này tôi chỉ ñi vào tìm hểu một số vấn ñề lí luận về phương pháp
dạy học tích hợp nói chung và ñối với bộ môn Ngữ văn THPT nói riêng, sau ñó
minh hoạ bằng một số thiết kế bài giảng trong chương trình lớp 10.
B-Néi dung
I- C¬ së lÝ luËn
I.1. Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp. Nội
hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay
là sự nhất thể hoá ñưa tới một ñối tượng mới như là một thể thống nhất trên những
nét bản chất nhất của các thành phần ñối tượng, chứ không phải là một phép cộng
giản ñơn những thuộc tính của các thành phần ấy. Hiểu như vậy, tích hợp có hai
tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy ñịnh lẫn nhau, là tính liên kết và
tính toàn vẹn. Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân
chia giữa các thành phần kết hợp. Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các
thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp ñặt các thành phần bên cạnh nhau.
Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ ñược thụ ñắc, tác ñộng một
cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay
giải quyết một vấn ñề, tình huống.
Trong lí luận dạy học, tích hợp ñược hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có
hệ thống, ở những mức ñộ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học
khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên
cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn ñược ñề cập ñến trong các môn học
hoặc các hợp phần của bộ môn ñó. Trong Chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm

2002 của Bộ GD&ĐT, khái niệm tích hợp cũng ñược hiểu là “sự phối hợp các tri
thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, ñể chúng hỗ trợ và tác
ñộng vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và
vững chắc.” (tr. 27)
I.2. Việc vận dụng quan ñiểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT chẳng
những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn ñược ñề cập trong các
phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như
hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật... mà còn xuất phát từ ñòi hỏi thực tế là
cần phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà
trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ,
bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình
huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này. Nói khác ñi, ñó là lối dạy học khép kín “trong
nội bộ phân môn”, biệt lập các bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn vốn có
quan hệ gần gũi về bản chất, nội dung và kĩ năng cũng như mục tiêu, ñủ cho phép
phối hợp, liên kết nhằm tạo ra những ñóng góp bổ sung cho nhau cả về lí luận và
thực tiễn, ñem lại kết quả tổng hợp và vững chắc trong việc giải quyết những tình
huống tích hợp hoặc những vấn ñề thuộc từng phân môn.
Vận dụng quan ñiểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn là cách thức ñể khắc
phục, hạn chế lối dạy học ñó nhằm nâng cao năng lực sử dụng những kiến thức và
kĩ năng mà HS lĩnh hội ñược, bảo ñảm cho mỗi HS khả năng huy ñộng có hiệu quả
những kiến thức và kĩ năng của mình ñể giải quyết những tình huống có ý nghĩa,
cũng có khi là một tình huống khó khăn, bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp.
Mặt khác, tránh ñược những nội dung, kiến thức và kĩ năng trùng lặp, ñồng thời
lĩnh hội những nội dung, tri thức và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn riêng
rẽ không có ñược.
II/Tìm hiểu nội dung tích hợp trong chương trình SGK mới:
II.1- Tên gọi bộ môn theo tinh thần tích hợp:
Chương trình mới chỉ còn một bộ sách với tên gọi chung là Ngữ văn. Trong
khi lâu nay vẫn quen dùng riêng biệt 3 quyển ứng với 3 phân môn ñược biên soạn
ñộc lập ñó là: Tiếng Việt, Làm văn và Văn học.
II.2- Chương trình ñược biên soạn theo hướng tích hợp :
Chương trình phân ban mới soạn theo lô gích tích hợp.Chú trọng rèn kĩ năng
tổng hợp: Đọc, nói, nghe, viết cho học sinh bằng việc gắn kết, phối hợp các nội

dung gần gũi liên quan giữa các phân môn Tiếng Việt, Làm văn, Đoc- hiểu văn
bản. Chương trình ñược phân bố theo các cụm bài học có kiến thức gần gũi .
Ví dụ:
*Chương trình lớp 10 Nâng cao, ở tuần học 21, 25 ñược sắp xếp gồm :
- Đọc hiểu văn bản : + Phẩm bình nhân vật lịch sử ( Lê Văn Hưu).
+ Tựa “Trích diễm thi tập” ( Hoàng Đức Lương )
+ Thái phó Tô Hiến Thành (Trích Đại Việt sử lược )
+ Thái sư Trần Thủ Độ (Ngô Sĩ Liên)
- Xen kẽ là các tiết luyện tập về :
+ Các hình thức kết cấu văn bản thuyết minh.
+ Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
+ Đọc hiểu văn bản văn học.
+ Kỹ năng liên kết trong văn bản.
* Hay từ tuần thứ 26 ñến tuần 29, chương trình ñược bố trí như sau:
+ Đọc- hiểu : Một số ñoạn trích trong Truyện Kiều
+ Tiếng Việt : Luyện tập Từ Hán Việt.
+ Luyện tập Đọc hiểu văn bản văn học.
Sắp xếp cụm bài học như vậy chính là nhằm tập trung hình thành và rèn cho
học sinh kỹ năng ñọc văn và làm văn. Theo cách bố trí này thì 3 phân môn Tiếng
Việt, làm văn và văn không còn là 3 phân môn ñộc lập cung cấp những kiến thức
kỹ năng ñộc lập mà có mối quan hệ qua lại chặt chẽ: Trang bị kiến thức Tiếng Việt
là ñể giúp ñọc - hiểu văn bản, làm văn.Còn các tri thức văn học, văn hoá xã hội,
lịch sử, Tiếng Việt ... là những công cụ cần thiết giúp cho việc ñọc- hiểu văn bản
văn học cũng như khả năng tạo lập văn bản .
* Trong hệ thống bài Đọc- hiểu văn bản, việc bố trí sắp xếp bài học cũng theo
hướng tích hợp:
Các tác phẩm ở phần này ñã ñược lựa chọn theo từng thể loại theo từng giai ñoạn
lịch sử văn học và tổ chức dạy học theo ñặc trưng thể loại trên cơ sở kết hợp chặt
chẽ với các bài học , bài luyện tập Tiếng Việt và Làm văn.
Ví dụ : Ở chương trình Ngữ văn Nâng cao lớp 10, từ tuần 12 ñến tuần 15, các tác
phẩm lựa chọ ñưa vào phần ñọc- hiểu văn bản ñều là các tác phẩm thuộc các thể
thơ Đường luật ( Thất ngôn bát cú ĐL, Thất ngôn tứ tuyệt) như :
+ Thuật hoài ( Phạm Ngũ Lão )
+ Cảm hoài (Đặng Dung)
+ Bảo kính cảnh giới ( Nguyễn Trãi )
+ Quốc Tộ ( Pháp Thuận )
+ Cáo tật thị chúng (Mãn Giác thiền sư)
+ Quy hứng ( Nguyễn Trung Ngạn)
+ Nhàn ( Nguyễn Bỉnh Khiêm)
+ Độc Tiểu Thanh kí ( NGuyễn Du )
+ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng ( Lí Bạch )
+ Thu hứng (Đỗ Phủ )...

