
MT S Ý KIN V TÁC ĐNG CA YU T THI TIT KHÍ HU
Đ SN XUT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ GII PHÁP ĐM BO
SN XUT LÚA ĐÔNG XUÂN & Đ'NG B(NG SÔNG H'NG
Lê Hưng Quốc
Impacts of climate factor on winterspring rice and solutions for production
in the red river delta region
Up to now, cold and warm weather have still considered as natural disaster for winterspring rice
season in the Red River Delta Region (RRD). Rice in this season only gains optimal yield if and
only if the climate is favorable. Based on the new cultivated technologies, procedures and available
varieties, if farmers move from winterspring to springsummer rice, impacts of disadvantage
climate on rice production will be diminished.
Springsummer rice will start at the beginning of spring. If cold weather still remains after beginning
of spring, farmers can delay transplanting and wait for warm temperature. The longer cold weather
lasts, the longer rice transplant delays, rice also obtains high yield. Springsummer rice production
will eliminate impacts of cold and warm weather on winterspring rice, move from passive remains
to initiative situation to stabilize spring rice season like other rice seasons in different regions of
Vietnam.
Rice varieties with short duration from 100 to 105 days which are cultivated in wet season
(previous season) with high yield and quality will adapt for springsummer rice production and
favorably create conditions for developing early wet season to expand winter crops with enough
four months. Springsummer season will be new cropping pattern with high economic efficiency
and sustainability in the Red River Delta Region.
Expansion of direct seedling rice areas in springsummer is approaching to modernization and
mechanization of rice production in the Red River Delta and North Coastal Region of Vietnam in
coming years.
Keywords: Winter spring rice, climate, Red River delta.
I. TÌNH HÌNH VỤ SẢN SUẤT LÚA
ĐÔNG XUÂN Ở CÁC TỈNH ĐỒNG
BẰNG SÔNG HỒNG
1. Tóm tắt diễn biến thời tiết vụ đông xuân
Số liệu theo dõi thời tiết 25 năm cho thấy
tính dao động của thời tiết mùa đông miền
Bắc là một quy luật, hầu như không có mùa
đông nào giống mùa đông nào, các chỉ số
trung bình (TB) chỉ có ý nghĩa tương đối
(Bảng 1). Từ số liệu trên cho thấy 60% tháng
lạnh nhất tập trung vào tháng giêng; 30%
tháng lạnh nhất tập trung vào tháng hai; 10%
tháng lạnh nhất tập trung vào tháng mười hai.
Bảng 1. Thời tiết trung bình vụ đông xuân 25 năm qua
(Số liệu Trạm Ba La % Hà Đông 1981% 2006)
Tháng
Ch5 tiêu 10 11 12 1 2 3 4 5 6
Nhi/t đ1 (
0
C/ngày)
TB
Max
Min
24,41
33,90
15,50
21,44
32,50
8,70
17,72
29,40
5,30
16,27
27,60
6,10
17,16
20,80
6,20
19,72
33,10
7,30
23,40
36,10
13,30
26,70
36,80
16,50
28,75
39,30
20,80
Mưa (mm/tháng)
TB
147,20
98,50
18,00
39,50
29,70
59,70
92,70
178,00
259,50

Max
Min
469,90
10,40
586,30
4,00
59,00
0,00
185,00
5,20
115,30
4,70
189,20
9,40
283,00
20,90
255,90
62,20
476,80
43,80
Gi? n@ng (gi?/tháng)
TB
Max
Min
152,00
179,70
91.70
133,70
200,40
75,90
125,70
217,40
57,70
69,00
128,50
11,90
42,60
90,00
14,40
48,00
109,50
12,90
91,00
150,60
33,00
172,60
226,40
140,90
167,70
215,50
98,60
Tháng 2, 3 trời ít nắng nhất, có ngày hầu
như không có nắng. Những năm rét đậm, rét
muộn, thời tiết âm u cả tháng, có khi hết cả
tháng 4. Số giờ nắng ngược lại với lượng
mây. Số giờ nắng là điều kiện cơ bản để đạt
được năng suất lúa cao. Trong 15 ngày trước
trỗ và 25 ngày sau trỗe tổng số 40 ngày cuối
cùng của vụ lúa xuân phải có trên 200 giờ
nắng mới đạt năng suất lúa cao, vì vậy lúa
đông xuân phải trỗ từ 1/5 trở đi mới tốt.
* Tổng tích ôn hữu hiệu (HH): Là
nhiệt độ trên 10
0
C (giới hạn thấp của mạ).
Trong phạm vi dưới 32
0
C/ngày, tốc độ sinh
trưởng của mạ tỉ lệ thuận với tích ôn hữu
hiệu.
Bảng 2. Tổng tích ôn 3 tháng 12 + 1 +2 (Số liệu Trạm Ba La % Hà Đông)
1973 1974 =1450
o
C
1974 1975 = 1532
o
C
1975 1976 = 1448
o
C
1976 1977 = 1351
o
C
1977 1978 = 1517
o
C
1978 1979 = 1666
o
C
1979 1980 = 1547
o
C
1980 1981 = 1575
o
C
19811982 = 1510
o
C
1982 1983 = 1343
o
C
1983 1984 = 1312
o
C
1984 1985 = 1445
o
C
1985 1986 = 1491
o
C
1986 1987 = 1756
o
C
1987 1988 = 1450
o
C
1988 1989 = 1413
o
C
1989 1990 =1575
o
C
1990 1991 = 1656
o
C
1991 1992 = 1548
o
C
1992 1993 = 1617
o
C
1993 1994 = 1586
o
C
1994 1995 = 1531
o
C
1995 1996 = 1449
o
C
1996 1997 = 1561
o
C
1997 1998 = 1630
o
C
Tổng tích ôn ba tháng mùa đông (90
ngày) của tháng 12 + 1 + 2 bình quân 25
năm qua là 1512
0
C, năm cao nhất là 1756
0
C
(1986 e 1987) và năm thấp nhất 1312
0
C
(1983 e 1984) chênh nhau 444
0
C trong 90
ngày, bình quân 5
0
C/ngày.
Bảng 3. Biến động nhiệt độ bình quân/tuần 25 năm (Trạm Ba La)
NhiAt đC bình quân10 ngày (°c) So sánh năm Om và rét
Bình quân
TuRn max
TuRn min 1986/1987 Om quá
(AQ)
1983/1984 rét đZm
(RĐ)
TuBn 1 T12 17,9 21,6 15,9 18,2 15,9
TuBn 2 T12 17,5 20,3 10,8 19,8 19,1
TuBn 3 T12 16,2 19,6 11,3 18,3 12,7
TuBn 1 T1 16,3 18,5 11,5 19,9 12,7
TuBn 2 T1 16,3 19,6 12,9 19,6 18,3
TuBn 3 T1 16,1 20,1 11,7 17,6 11,7
TuBn 1 T2 15,9 20,5 10,8 19,2 12,3
TuBn 2 T2 16,5 22,5 14,2 22,5 16,0
TuBn 3 T2 17,7 22,4 14,5 18,6 14,8
TCng tích ôn 90 ngày 1504 1851 1138 1756 1312
TCng tích ôn HH 90 ngày 604 951 238 856 412
Có thể kể ra một số năm biến động thời tiết ấm và rét như sau:
Năm rét, rét đIm (RĐ) Năm Km, Km quá (AQ)
1964 1965 1980 1981 1972 1973 1990 1991 (AQ)
1965 1966 1981 1982 1974 1975 1991 1992
1967 1968 1982 1983 (RĐ) 1977 1978 1992 1993 (AQ)
1970 1971 1983 1984 (RĐ) 1978 1979 (AQ) 1993 1994
1971 1972 1984 1985 1979 1980 1996 1997

1973 1974 1987 1988 1986 1987 (AQ) 1997 1998
1975 1976 1988 1989 1989 1990 2006 2007 (AQ)
1976 1977 (RĐ) 1994 1995
1995 1996
2. Tóm tắt diễn biến sản xuất lúa đông
xuân
a) Diễn biễn năng suất: 10 năm (1960e
1970): Vụ lúa đông xuân miền Bắc chiếm
đại bộ phận là lúa chiêm, năng suất trung
bình là 20 tạ/ha, biến động từ khoảng 13,61
tạ đến trên 20 tạ/ha.
e Từ 1970 có thể coi là năm chuyển
mùa. Năm 1971 lúa xuân chiếm ưu thế,
năng suất đều trên 20 tạ/ha, năng suất trung
bình 1970 e 1980 đạt 27,33 tạ/ha.
Từ 1985 năng suất trung bình đạt 31,9 tạ/ha.
Thái Bình 42 tạ/ha, Hải Hưng 38 tạ/ha, Hải Hậu
48 tạ/ha, Đan Phượng 55 tạ/ha. HTX Vũ Thắng
70 tạ/ha; HTX Xuân Phương 80 tạ/ha.
e Những năm 1990: NSTB đạt 53,40 tạ/ha;
những năm 2000: NSTB đạt 60,07 tạ/ha.
e Từ những năm 1982 trở đi, ngoài
ảnh hưởng của thời tiết và các yếu tố
giống, kỹ thuật, còn có tác dụng quyết
định của "chế độ khoán sản phNm đến
nhóm và người lao động" nên năng suất
lúa chiêm và lúa xuân đều tăng, riêng lúa
xuân tăng nhiều hơn lúa chiêm.
b) Quy luật năng suất lúa đông xuân
trong mối tương quan với thời tiết được
tổng kết là:
e N ăm rét đậm: Được mùa.
e N ăm rét bình thường: Bội thu.
e N ăm ấm: N ăng suất lúa đông xuân
không cao.
c) Diễn biến sản xuất về giống lúa, trà
lúa đông xuân
Từ bộ giống lúa, bố trí các trà gieo mạ,
hình thành các trà lúa để điều khiển lúa trỗ
vào 25/4 đến 10/5. Xuân sớm: Gieo mạ
tháng 11; xuân chính vụ: Gieo mạ tháng 12;
xuân muộn: Gieo mạ cuối tháng 1 đầu
tháng 2.
e Giai đoạn trước 1990: Thời gian này
có giống N N 8 năng suất cao, có ưu thế
trong trà xuân chính vụ, có một số giống
dài ngày năng suất khá ổn định nên cơ cấu
chỉ đạo là:
+ Xuân sớm 30 e 35% diện tích (DT);
xuân chính vụ 50 e 55% DT; xuân muộn 10
e 20% DT
+ Các giống chủ lực là: 13/2, VN 10,
DT10, N N 8, Xi12, CR203...
e Giai đoạn trước 2000: Thời gian này
có giống CR203 (IR8423) thích ứng rộng,
năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt,
thích hợp với trà xuân muộn nên cơ cấu chỉ
đạo là:
+ Xuân sớm 30 e 35% DT; xuân chính
vụ 15 e 20% DT;e Xuân muộn 45 e 65% DT.
+ Các giống chủ lực là: 13/2, VN 10,
DT10, CR203; Q5, Khang dân, lúa lai...
e Giai đoạn 2000 đến nay: Giống
Khang dân, Q5 là chủ lực, các giống lúa lai
ngắn ngày, năng suất cao như N hị, Bồi tạp,
các giống chất lượng cao như Bắc thơm,
HT, LT... phát triển rộng nên cơ cấu chỉ đạo
là: Giảm hẳn xuân chính vụ, xuân sớm;
tăng tối đa trà xuân muộn.
N hư vậy: Xuân chính vụ từ 55 e 60%
diện tích đến nay giảm không còn đáng kể;
xuân sớm từ 30 e 40% diện tích đến nay giảm
nhiều, chỉ còn ở một số tỉnh có chân đất lúa
trũng như Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh
Phúc... cấy với tỷ lệ 10 e 15% diện tích; xuân
muộn từ 10 e 20% DT tăng lên 80 e 90% DT.

Bảng 4. Cơ cấu các trà lúa xuân hiện nay (%)
V\ Xuân s]m Xuân chính v\ Xuân muCn
19931994 27,0 38,0 35,0
19941995 32,0 15,0 53,0
19951996 33,0 14,6 52,4
1996 1997 35,0 15,5 49,5
19971998 32,0 12,8 55,2
19992000 25,0 4,0 71,0
20012002 15,2 6,0 78,8
20022003 18,2 3,1 78,7
20032004 13,6 2,4 84,0
(Nguồn: Báo cáo các sở NN e PTNT)
Bộ giống lúa đông xuân khá phong phú,
có 20 giống lúa đạt năng suất bình quân
trên 60 tạ/ha chủ yếu là các giống ngắn
ngày như KD 18, Q5.
d) Diễn biến năng suất lúa xuân
Trong 40 năm qua năng suất lúa đồng
bằng sông Hồng tăng nhanh từ 13,3 tạ/ha
lên 62,9 tạ/ha năm 2004. Trong 11 tỉnh
đồng bằng sông Hồng thì có 9 tỉnh năng
suất trà xuân muộn cao hơn trà xuân
sớm. Tỉnh Ninh Bình, xuân muộn cao
hơn xuân sớm 12,1 tạ/ha, tỉnh Nam Định,
Vĩnh Phúc chênh lệch 9 tạ/ha.
Bảng 5. Lăng suất các trà lúa xuân các tỉnh đồng bằng sông Hồng
S_
TT T5nh Xuân s]m (S) Xuân muCn (M) Chênh lAch M/S
(ta/ha)
% NS (ta/ha) % NS (ta/ha)
1 Ninh Bình 5,6 50,2 94,4 62,3 12,1
2 Nam ĐOnh 1,0 60,9 99,0 70,2 9,3
3 Vĩnh Phúc 16,5 47,2 83,4 56,4 9,2
4 Hà N1i 6,2 48,2 70,8 56,3 8,1
5 Hà Nam 0,1 51,9 95,8 58,6 6,7
6 Hà Tây 2,6 57,4 95,1 60,8 3,4
7 B@c Ninh 3,0 58,1 90,2 60,0 1,9
8 HTi Dương 37,9 64,5 61,6 66,4 1,9
9 HTi Phòng 31,4 60,1 62,8 61,2 1,1
10 Hưng Yên 6,7 64,7 94,3 64,5 0,2
11 Thái Bình 26,7 26,7 73,3 68,7 1,7
(Nguồn: Báo cáo các sở NN e PTNT)
e) Một số biện pháp chỉ đạo ứng phó với
những năm thời tiết ấm và rét bất thường
1) Năm rét đậm:
e Những năm sáu mươi, quy trình sản
xuất đề ra gieo mạ xung quanh đại hàn và
cấy cuối tháng 2 đầu tháng 3 (đây là thời vụ
lý thuyết đạt năng suất cao) và đề ra giải
pháp ủ thúc mầm mạ xuân. Quy trình này
gây ra sự lãng phí nhiên liệu (thúc mầm) và
mất thóc giống, cấy đi cấy lại nhiều lần, hệ
số mạ e cấy chỉ 2 e 3. Sau 1968, quy trình
mới đề ra gieo NN8 vào đầu tháng 12, thay

biện pháp ủ thúc mầm bằng ủ đống tạo ra
sự "chuyển trà" vào năm 1970/1971.
Thời vụ gieo mạ các giống dài ngày từ
1 e 20/12. Không gieo vào cuối tháng 11 như
trước. Thời vụ gieo mạ các giống ngắn ngày
từ 20/1 đến xung quanh 5/2 (lập xuân).
Che phủ nilon cho mạ: 1 kg nilon mỏng
khổ 2,2 m dài 30 m, diện tích 66 m
2
, che
được 46 m
2
mạ, giá thành cho 1 m
2
mạ
khoảng 500 e 700 đồng (kể cả khung), 1 sào
cấy cần 10 m
2
mạ chi phí thêm 5000 đồng,
công lao động 5000 đ. Vì vậy với lúa lai chi
phí thêm 7000 e 10.000 đ, tiết kiệm 1 kg
giống giá 20.000 đồng, cấy sớm được 10
ngày. Với giống thuần chi phí thêm 15.000
đồng tiết kiệm được 3 e 4 kg thóc giống trị
giá 20 e 25.000 đồng, cấy sớm được 10
ngày. Chất lượng mạ tốt hơn hẳn mạ không
che phủ nilon.
e Cấy mạ non, tuổi mạ cấy không quá
5 lá
+ Cách tính: Lá 1 là lá nhỏ, chỉ dài 1 cm
(ở rìa luống mạ). Sau đó tính tương quan lá
mạ còn xanh trên cây mạ đó với cây mạ ở
giữa luống. Tuổi mạ tính từ lá thứ 1 đến lá
trên cùng, nếu lá trên cùng bằng bao nhiêu
phần 10 lá thứ 2 từ trên xuống thì tính phần
lẻ ấy, thí dụ 4,5 lá; 5,5 lá...
+ Tuổi mạ tính theo lá không quá 40%
tổng số lá của giống đó. Ví dụ: DT 10 có 18
lá thì tuổi mạ cao nhất không quá 7,2 lá; Q5
có 13 lá thì tuổi mạ cao nhất không quá 5,2
lá; KD18 có 12 lá thì tuổi mạ cao nhất
không quá 4,8 lá. Cấy mạ già chức năng
sinh lý bị đảo lộn dù có tăng mức chăm bón
vẫn không đạt năng suất cao, hiệu quả thấp.
+ Mật độ cấy: Hàng sông 20 cm. Hàng
con tùy loại đất, giống có thể cấy 10, 11, 12,
13, 14, 15 cm để có mật độ cấy xung quanh
40 e 45 khóm/m
2
. Cấy 2 e 3 dảnh/khóm,
không quá 4 dảnh/khóm.
e Lộ ruộng là TBKT nâng ruộng lúa
bình thường thành ruộng cao sản.
Khi lúa đẻ đủ số nhánh khoảng 300 e
350 nhánh/m
2
là tiêu nước lộ ruộng. Để lộ
ruộng đất nẻ chân chim, rắn bùn, mặt đất có
rễ trắng xuất hiện. Khi lúa có đòng non tưới
ngập nước trở lại và bón thúc kali. Khi lúa
vào chắc, tiêu hết nước phòng mưa úng.
Thời kỳ lúa có đòng dài 10 cm là cần nước
nhất, tuyệt đối không để lúa bị hạn. Thời kỳ
lúa trổ cần giữ lớp nước sâu 10 cm để khắc
phục thời tiết bất thuận (gió Đông Bắc
muộn, gió nóng sớm, có lớp nước đệm).
2) Năm ấm và rất ấm:
Những năm 1978 e 1979; 1986 e 1987;
1990 e 1991; 1992 e 1993; 2006 e 2007 là
những năm ấm khác thường.
e Biện pháp chỉ đạo thành công:
+ Làm lúa tái sinh: Khi lúa trổ gặp rét,
bị lép nhiều, cắt bỏ 2/3 cây lúa (chừa 30 cm)
giữ nước ruộng lúa không cho trâu bò vào
ruộng, bón thêm 2 e 3 kg đạm/sào, 5 kg lân
và 1 kg kali cuối vụ. Sau 60 ngày có thể thu
30 e 40 tạ/ha. Trong mỗi nách lá đều có mầm
nhánh ở dạng ngủ, kích thích mầm ngủ
"thức" dậy sẽ có nhánh lúa trổ như mạ non
tạo ruộng lúa trẻ. Bón thêm N tạo tỷ lệ C/N
thấp, để bật nhánh ngủ. Cục Khuyến nông và
Khuyến lâm đã phổ biến quy trình này, nâng
lên thành quy trình thâm canh lúa tái sinh vụ
xuân cho năm trỗ sớm gặp rét và áp dụng ở
vùng trũng bỏ hóa vụ mùa (điển hình Nho
Quan, Gia Viễn) và vụ thu đông ở đồng
bằng sông Cửu Long (không cấy vụ 3 khi lũ
về) biện pháp này gọi là "bỏ mẹ bắt con".
+ Biện pháp phân loại các trà mạ, trà
lúa để có biện pháp chăm sóc đặc biệt:
Bao gồm: Kỹ thuật hãm mạ chưa cấy
vội, chăm bón thêm phân cho mạ bị già khi
đã cấy, giữ nước không để ruộng bị hạn, lùi
thời vụ gieo cấy v.v...
Nói chung những năm ấm, nên lùi thời
vụ gieo mạ lại 10 e 15 ngày (nếu thời tiết
tháng 11, 12, 1 đều ấm) hãm mạ và giữ
nước, phân loại các trà lúa, bón thêm phân
(bằng khoảng 20 e 30% tổng lượng phân

