I LIU ÁP DNG CHUN PHÂN LC BNH CP CU
T TIÊU CHUN AUSTRALIAN TRIAGE SCALE
1. NGUYÊN LÝ CHUNG 2
1.1 Chc năng ca vic phân bnh 2
1.2 Đánh giá phân bệnh 2
1.3 An toàn tại phân bệnh 2
1.4 Thời gian để điều trị Thời gian chờ điều trị 3
1.5 Tái phân bệnh 3
1.6 Màu sắc trong phân loại bệnh 3
2. MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA MỞ RỘNG VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ 4
2.1 Thời gian đến 4
2.2 Thời gian đánh giá và điều trị. 4
2.3 Thời gian chờ 4
2.4 Tiêu chuẩn về tài liệu 4
3. CÁC QUY ƯỚC ĐẶC THÙ 5
3.1 Trẻ em 5
3.2 Chấn thương 5
3.3 Rối loạn hành vi 5
4. CÁC MÔ TẢ LÂM SÀNG 6
4.1 Nguồn 6
4.2 Các đặc điểm khẩn cấp nhất xác định Phân loại 6
5. HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI THANG ĐO PHÂN LOẠI MỨC ĐỘ TRONG PHÒNG
CẤP CỨU CỦA ÚC 6
6. ĐÁNH GIÁ LẠI TÀI LIỆU 12
6.1 Trách nhiệm: 12
6.2 Lịch sử sửa đổi 12
1. NGUYÊN CHUNG
1.1 Chc năng ca vic phân bnh
Phân lọc bệnh một chức năng thiết yếu của khoa Cấp cứu, nơi nhiều người bệnh
thđược tiếp nhận cùng một lúc. Chức năng này đảm bảo cho người bệnh được điều trị
theo thứ tự về mức độ khẩn cấp lâm sàng, dựa vào yêu cầu được can thiệp y khoa kịp thời
về mặt thời gian. Tính khẩn cấp lâm sàng không đồng nghĩa với mức độ phức tạp hay
nghiêm trọng của bệnh. Phân lọc bệnh cũng đồng thời cho phép quá trình sắp xếp, phân bổ
người bệnh vào khu vực phù hợp để được đánh giá điều trị đóng góp thông tin cho
việc phân tích đánh ghoạt động của khoa. Việc thay đổi mô hình tổ chức và chăm sóc
tại khoa Cấp cứu (ví dụ: mô hình phân luồng dòng di chuyển người bệnh “streaming”, điều
dưỡng chăm sóc lâm sàng bộ (clinical initiatives nurse), phân lọc theo mức độ điều trị
của bác sĩ) đều không thể phủ nhận được yêu cầu cần có bước phân lọc bệnh.
1.2 Đánh giá phân bệnh
Phân lọc bệnh điểm giao tiếp đầu tiên giữa khoa Cấp cứu và người bệnh. Đánh giá phân
lọc bệnh thường được thực hiện trong khoảng thời gian không quá hai đến năm phút với
mục đích đảm bảo đánh giá đầy đủ nhưng nhanh chóng. Việc đánh giá xếp loại này bao
gồm kết hợp c vấn đề hiện tại triệu chứng biểu hiện chung của người bệnh
thể kết hợp với các đánh giá tổng trạng chung của người bệnh, thể kết hợp với sự
quan sát hoặc thăm khám sinh lý phù hợp. Các chỉ số sinh hiệu chỉ nên đo tại bước phước
phân lọc bệnh nếu được yêu cầu để ước tính sự khẩn cấp hoặc trong giới hạn thời gian cho
phép. Nếu người bệnh được xác định thuộc nhóm ATS (Australia triage scale) loại 1 hoặc
2 thì nên ngay lập tức được đưa vào khu vực điều trị/can thiệp thích hợp. Việc đánh giá
hoàn chỉnh cần được thực hiện bởi điều dưỡng chăm sóc khi nhận người bệnh từ điều
dưỡng phân bệnh. Đánh giá phân bệnh không nhằm mục đích chẩn đoán bệnh. Việc tiến
hành tìm hiểu chẩn đoán ban đầu hoặc chuyển bệnh trực tiếp từ bước phân lọc bệnh vẫn
thể được thực hiện nếu thời gian cho phép. Nếu đủ thời gian phải tiến hành khai thác
bệnh hoặc chuyển tiếp bệnh từ phân loại bệnh
Tại Úc, phân bệnh được thực hiện bởi nhân viên đã được đào tạo chuyên biệt và có đủ kinh
nghiệm cần thiết.
1.3 An toàn tại phân bệnh
Khoa Cấp cứu cần thiết phải lên kế hoạch cho các nguy cơ xảy ra tình huống phản ứng quá
khích từ người bệnh người thân tại khu vực Phân lọc bệnh. Cần tạo ra được môi trường
an toàn và không có đe dọa, nơi đảm bảo được sự riêng tư mà vẫn không tạo quá nhiều rủi
ro cho nhân viên. Các nhân viên tuyến đầu nên được đào tạo kiến thức và kĩ năng cần thiết
để kiểm soát tối thiểu hóa các phản ứng quá khích, có các quy trình và hướng dẫn cụ thể
trong các tình huống đối mặt với các hành vi ứng xử khó khăn. Khi sự an toàn của nhân
viên và/hoặc người bệnh khác bị đe dọa, ưu tiên hàng đầu đảm bảo an toàn cho nhân
viên và người bệnh với những hỗ trợ an ninh phù hợp. Việc tiến hành đánh giá lâm sàng và
điều trị chỉ được thực hiện trong điều kiện an toàn đảm bảo.
1.4 Thời gian để điều trị Thời gian chờ điều trị
Thời gian chờ điều trị được đề cập trong các phân loại của ATS ý nghĩa như thời gian
tối đa mà người bệnh thuộc nhóm phân loại đó phải chờ đợi để được tiếp cận đánh giá lâm
sàng điều trị. Trong trường hợp phân loại mức độ khẩn cấp, việc thăm khám điều
trị nên được thực hiện đồng thời. Người bệnh n được theo dõi trong suốt thời gian chờ
tối đa khuyến nghị. Theo ý nghĩa của nội dung mô tả thuộc Phân loại ATS từ 1 đến 4, kết
quả lâm sàng thể bị ảnh hưởng bởi sự chậm trễ trong thăm khám và điều trị khi vượt ra
khỏi khung thời gian chờ tối đa đã được đề xuất.
Thời gian chờ tối đa cho mục Phân loại ATS 5 đại diện cho mức tiêu chuẩn của dịch vụ.
Khi người bệnh thời gian chờ ít hơn hoặc bằng với mức thời gian được đề cập trong
Phân loại ATS cho thấy khoa Cấp cứu đã đạt được các chỉ số hoạt động liên quan. Kết quả
đo lường các chỉ số nên được lưu lại và so sánh giữa các mẫu có số lượng lớn với nhau.
1.5 Tái phân bệnh
Khi tình trạng bệnh của người bệnh bị thay đổi trong thời gian chờ được điều trị, hoặc khi
có thêm thông tin liên quan khác có ảnh hưởng đến mức độ khẩp cấp, người bệnh nên được
phân bệnh lại (tái phân bệnh). Tất cả việc phân bệnh ban đầu kết quả sau đó nên được
ghi nhận, kèm theo lý do cho việc tái phân bệnh trong hồ sơ.
1.6 Màu sắc trong phân loại bệnh
Khoa Cấp cứu tại các bệnh viện Úc New Zealand sử dụng Hệ thống Thông tin Cấp
cứu (ED Information System - EDIS) để cung cấp thông tin cho các chức năng quan trọng,
như quản lý phân lọc bệnh và điều trị. Việc sử dụng các hệ thống này, khoa Cấp cứu có thể
chọn để xác định các mức phân loại ATS bằng các màu sắc được quy định cụ thể.
Đỏ (Loại 1), Cam (Loại 2), Xanh lá (Loại 3), Xanh dương (Loại 4) và Trắng (Loại 5) là các
màu thường được dùng trong khoa cấp cứu để phân lọc bệnh theo phân loại ATS, và được
khuyến cáo trở thành bộ màu tiêu chuẩn để sdụng thống nhất tại Úc New Zealand.
Tuy nhiên, các quy định về màu sắc chỉ nên được sử dụng như môt công cụ bổ sung cho hệ
thống phân loại theo số học nhằm xác định các nhóm phân lọc bệnh.
2. MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA MỞ RỘNG GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
2.1 Thời gian đến
Thời gian đến thời điểm tiếp xúc được ghi nhận đầu tiên giữa bệnh nhân và
nhân viên Khoa Cấp cứu. Các bước phân lọc bệnh cấp cứu nên được thực hiện vào thời
điểm này.
2.2 Thời gian đánh giá và điều trị.
Mặc dù các đánh giá và điều trị quan trọng có thể được thực hiện trong bước phân
lọc bệnh, “thời gian đánh giá điều trị” được nh từ thời điểm bắt đầu quá trình chăm
sóc trên người bệnh
- Thông thường đó thời gian tiếp xúc đầu tiên giữa người bệnh bác chịu
trách nhiệm chăm sóc ban đầu cho họ. Thường được ghi lại 'Thời gian được bác
thăm khám”.
- Trường hợp người bệnh tại khoa Cấp Cứu được chăm sóc bởi điều dưỡng viên
dưới sự giám sát của bác sĩ thì đó là thời điểm bệnh nhân tiếp xúc đầu tiên với điều dưỡng
viên. Điều này thường được ghi lại là 'Thời gian được điều dưỡng viên chăm sóc'
- Trong trường hợp bệnh nhân được điều trị theo một hướng dẫn cụ thể, theo quy
trình chuyên môn, theo hướng dẫn điều trị, theo chỉ dẫn y khoa đã được Trưởng khoa Câp
cứu/BS phụ trách chuyên môn tại Cấp cứu phê duyệt, đây thời điểm đầu tiên nhân
viên y tế thực hiện bước chăm sóc theo hướng dẫn trên người bệnh. Điều này thường
được ghi lại 'Thời gian người bệnh được điều dưỡng viên chăm sóc, "Thời gian người
bệnh điều dưỡng chuyên sâu chăm sóc " hoặc “Thời gian bệnh nhân được bác thăm
khám'.
2.3 Thời gian chờ
Thời gian chờ khoảng thời gian chênh lệch giữa “thời gian đến” “thời gian đánh giá
điều trị”. Việc ghi nhận khoảng thời gian này với độ chính xác đến từng phút được coi
là phù hợp.
2.4 Tiêu chuẩn về tài liệu
Hồ sơ tài liệu liên quan đến bước phân lọc bênh cần bao gồm tối thiểu các thông tin sau:
Ngày và giờ phân lọc bệnh
Tên của nhân viên thực hiện phân lọc
Các vấn đề chính được ghi nhận
Bệnh sử hoặc thông tin liên quan (ngắn gọn)
Các nhận xét có liên quan
Nhóm phân loại ban đầu được xác định
Tái phân lọc: nhóm phân loại, thời gian và lí do tái phân lọc.
Định vị khu vực đánh giá và điều trị của người bệnh
Bất kỳ chẩn đoán, sơ cứu hoặc biện pháp điều trị ban đầu được thực hiện
3. CÁC QUY ƯỚC ĐẶC THÙ
3.1 Trẻ em
Các tiêu chuẩn phân loại cấp cứu tương tự nên được áp dụng cho tất cả các tình
huống cấp cứu khi thăm khám trẻ em cho hoàn toàn bệnh Nhi hoặc gồm nhiều
chuyên khoa. Cả 5 phân loại đều nên được sử dụng trong tất cả các hoàn cảnh. Trẻ em phải
được phân loại cấp cứu dựa vào độ khẩn cấp lâm sàng khách quan. c quy định của mỗi
khoa dụ như “tra cứu nhanh” của các nhóm bệnh nhân đặc thù phải được phân biệt
với việc sắp xếp khách quan của một nhóm phân loại cấp cứu.
3.2 Chấn thương
Mỗi khoa có thể có các quy định về đội phản ứng nhanh đối với bệnh nhân đáp ứng
một số các tiêu chí nhất định. Tuy nhiên, phân loại cấp cứu nên được sắp xếp dựa trên sự
khẩn cấp lâm sàng khách quan của bệnh nhân.
3.3 Rối loạn hành vi
Bệnh nhân tâm thần hoặc có các vấn đề về hành vi nên được phân loại cấp cứu theo
độ khẩn cấp lâm sàng và cũng y từng tình huống. Khi gặp đồng thời các vấn đề về thể
chất và hành vi, thì nên áp dụng phân loại cấp cứu phù hợp ở cấp độ cao nhất dựa trên triệu
chứng của cả hai.
Trong khi một số bệnh nhân rối loạn cấp tính có thể được đảm bảo sự an toàn bằng
các xử lý lâm sàng ngay lập tức (có thể kết hợp với phản ứng tự vệ (gọi đội bảo vệ)), người
ta phải thừa nhận rằng một số người khi nhập viện vào Khoa cấp cứu hành vi đe dọa
trực tiếp tới nhân viên y tế (ví dụ mang theo vũ khí nguy hiểm) thì trước hết là không điều
trị lâm sàng cho đến khi sự an toàn của nhân viên y tế đã được đảm bảo. Trong tình huống
này, nhân viên nên hành động để bảo vệ bản thân những bệnh nhân đang cấp cứu khác
và phải sự can thiệp trực tiếp từ đội bảo vệ hoặc cảnh sát. Một khi tình hình ổn định, có
thể bắt đầu xlý điều trị lâm sàng nếu cần. Việc phân loại cần y vào sự cấp thiết của
tình huống và về mặt chuyên môn lâm sàng.
Mỗi khoa thể các quy định các công cụ đánh giá để giúp xác định những
bệnh nhân có nguy mắc bệnh tâm thần. Những quy định công cụ này hỗ trợ để phân
loại bệnh nhân bước đầu hoặc thể được áp dụng sau khi đã đánh giá phân loại chính
thức.