
Chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp

Huyết áp là áp lực của máu tác động lên thành mạch. Một người được
gọi là bị tăng huyết áp (THA)khi có huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng
140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90mmHg.
Đa số người bị THA đều không tìm thấy căn nguyên, vì vậy gọi là
THA nguyên phát. Ở những người này thường thấy có một số yếu tố làm
cho dễ bị bệnh hơn người không có các yếu tố đó - được gọi là các yếu tố
nguy cơ. Các yếu tố nguy cơ của bệnh THA thường gặp là: ăn mặn, béo phì,
ít vận động, có nhiều căng thẳng trong cuộc sống, trong gia đình có người bị
THA, tuổi cao. Những người bị tiểu đường, rối loạn mỡ máu thì cũng rất dễ
có bệnh THA đi kèm.
Chỉ có khoảng 10% các trường hợp là tìm được nguyên nhân gây
THA. THA có nguyên nhân hay gặp ở tuổi trẻ (dưới 30 tuổi). Một số nguyên
nhân dẫn đến THA là bệnh thận cấp hoặc mạn tính, bị hẹp động mạch thận,
hẹp eo động mạch chủ, bệnh hẹp tắc mạch nhiều nơi (còn gọi là bệnh
Takayasu), do nhiễm độc thai nghén, có khối u tuyến thượng thận, bệnh của
tuyến giáp, tuyến yên, do dùng một số thuốc có chứa corticoid, thuốc tránh
thai, cam thảo...
THA được gọi là “kẻ giết người thầm lặng” vì phần lớn những người
bị THA đều không thấy có khó chịu gì, một số ít có thể thấy đau đầu, nóng

bừng mắt. Nếu không được đo huyết áp định kỳ thì người bị THA chỉ được
phát hiện khi có các biến chứng nặng như tai biến mạch máu não, nhồi máu
cơ tim, tổn thương đáy mắt gây giảm thị lực hay đã có biểu hiện suy tim...
Vậy làm thế nào để biết mình bị THA?
Chỉ có một cách duy nhất, đơn giản và dễ thực hiện để biết có bị THA
hay không là đo huyết áp định kỳ. Đo huyết áp cần được thực hiện mỗi năm
một lần với người dưới 40 tuổi, còn những người từ 40 tuổi trở lên thì cần
được đo huyết áp 6 tháng/lần. Mỗi người cần biết rõ số đo huyết áp như số
tuổi của mình.
Đo huyết áp có thể được thực hiện tại bệnh viện, phòng khám hoặc tại
nhà. Máy đo huyết áp có thể là loại máy đo cột thủy ngân, máy đo loại đồng
hồ hay máy đo tự động. Tuy nhiên cần sử dụng loại băng đo huyết áp cuốn ở
cánh tay. Nếu đo tại nhà cần thực hiện đúng chỉ dẫn của bác sĩ và hướng dẫn
của nhà sản xuất máy và cần phải biết cách đo huyết áp đúng.

Đo huyết áp thế nào là đúng?
Để đo được con số huyết áp chính xác, cần tuân thủ một số điểm như
sau:
- Ngồi nghỉ trước khi đo, ít nhất 5-10 phút, trong phòng yên tĩnh.
- Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc) trước khi đo 2 giờ.
- Tư thế đo: ngồi tựa vào lưng ghế, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp
khuỷu ngang mức với tim. Có thể đo thêm ở tư thế nằm. Đối với người cao
tuổi hoặc có bệnh đái tháo đường, nên đo thêm tư thế đứng nhằm xác định
có “hạ huyết áp tư thế” hay không.
Sử dụng huyết áp kế với bao hơi có bề dài bằng 80%; bề rộng bằng
40% chu vi cánh tay. Quấn băng đủ chặt, bờ dưới của bao đo ở trên nếp lằn
khuỷu 2cm. Đặt máy ở vị trí thích hợp sao cho máy hoặc mốc 0 của thang đo
ngang mức với tim.
Nên đo huyết áp ít nhất hai lần, mỗi lần cách nhau 1-2 phút. Nếu số đo
huyết áp giữa 2 lần đo chênh nhau trên 10mmHg, cần đo lại lần 3 sau khi đã
nghỉ trên 5 phút. Lần đo huyết áp đầu tiên, nên đo huyết áp ở cả hai tay.

Huyết áp tâm thu tương ứng với lúc xuất hiện tiếng đập đầu tiên và
huyết áp tâm trương tương ứng với khi mất hẳn tiếng đập.
Trường hợp nghi ngờ, có thể tới các phòng khám chuyên khoa để
được theo dõi huyết áp liên tục bằng máy đo tự động trong 24 giờ (Holter
huyết áp).
Thế nào là tăng huyết áp?
Chẩn đoán xác định THA dựa vào con số huyết áp đo được sau khi đo
huyết áp “đúng”.
Ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi tùy theo từng cách đo huyết áp:
- Đo tại phòng khám hoặc bệnh viện, sau khi đo 2 - 3 lần, mỗi lần đo
ít nhất 2 lượt, nếu huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg và/hoặc
huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg thì khẳng định là bị THA.
- Đo tại nhà: tự đo nhiều lần mà huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng
135 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 85 mmHg thì
cũng xác định là bị THA.

