
So sánh hiệu quả và chi phí
của mô hình cai nghiện tập trung
và mô hình điều trị thay thế bằng methadone
tại cộng đồng tại Hải Phòng, Việt Nam
Kết quả nghiên cứu ban đầu
Tài liệu để thảo luận nội bộ trong cuộc họp với các cơ quan chức năng của
TP Hải Phòng và Tổ Chuyên gia, không dùng cho mục đích phân phát và trích dẫn
Tháng 6 năm 2014
Tác giả: Vương T H Thu1, Nguyễn T Như2, Lê M Giang3, Alison Ritter1, Marian Shanahan1,
Robert Ali4, Phạm M Khuê5, Vương T A Thu2, Đinh T Thúy3
1 Đại học UNSW Australia; 2 FHI360 Việt Nam; 3 Đại học Y Hà Nội;
4 Đại học Adelaide Australia; 5 Đại học Y Dược Hải Phòng


So sánh hiệu quả và chi phí của mô hình cai nghiện tập trung
và mô hình điều trị thay thế bằng methadone tại cộng đồng tại Hải Phòng, Việt Nam 3
HỢP TÁC NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này có thể triển khai thành công là do sự đóng góp của nhiều
tổ chức:
1. Sự gắn kết của Chính quyền đia phương: Các cơ quan Chính quyền thành
phố Hải Phòng tham gia rất chặt chẽ với nghiên cứu từ những bước đầu tiên
trong giai đoạn thiết kế và trong suốt quá trình triển khai các hoạt động của
nghiên cứu. Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng phê duyệt nghiên cứu
vào tháng 2/2012, là điểm tựa để các tổ chức nghiên cứu có thể làm việc
trực tiếp với các lãnh đạo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và Chi
cục Phòng chống Tệ nạn Xã hội. Các lãnh đạo, nhân viên của 3 trung tâm
cai nghiện tập trung và 3 phòng khám methadone cũng đóng góp rất nhiều
thời gian cho nghiên cứu.
2. Hỗ trợ về kỹ thuật: Bốn cơ quan chuyên ngành nghiên cứu tham gia đóng
góp kỹ thuật: tổ chức FHI360 tại Việt Nam, Đại học Y Hà Nội, Đại học Y
Dược Hải Phòng và Trung tâm Nghiên cứu về Ma túy và Rượu (NDARC)
của Đại học New South Wales, Australia.
3. Nguồn tài trợ: Hoạt động của nghiên cứu được tài trợ bởi tổ chức Atlantic
Philanthropies, trong khuôn khổ một dự án hợp tác lớn hơn với Thành phố
Hải phòng thông qua tổ chức FHI360. Tài trợ cũng được đóng góp dưới hình
thức học bổng nghiên cứu sinh của Chương trình Endeavour của Chính phủ
Úc và trung tâm NDARC/UNSW, qua đó nghiên cứu sinh Vương Thị Hương
Thu tiếp cận được hỗ trợ kỹ thuật từ trung tâm NDARC.
TÓM TẮT
Đặt vấn đề
Ở Việt Nam hiện có hai mô hình điều trị nghiện chủ đạo: 1) mô hình điều trị
trong trung tâm cai nghiện tập trung (CCT), bắt đầu triển khai từ những năm
1990 bằng ngân sách của nhà nước cấp trung ương và địa phương; và 2) mô
hình điều trị thay thế bằng methadone (MMT), bắt đầu triển khai năm 2008 chủ
yếu bằng nguồn tài trợ quốc tế với đóng góp ở mức khiêm tốn của Chính phủ.
Mục đích của nghiên cứu này nhằm đánh giá hệ số hiệu quả-chi phí so sánh
giữa hai mô hình điều trị nhằm hỗ trợ cho Chính phủ trong việc lập kế hoạch
phân bổ nguồn ngân sách.
Phương pháp
Tổng số 216 học viên hồi gia từ 3 trung tâm cai nghiện tập trung (gọi tắt là nhóm
CCT) ở Hải Phòng được tuyển chọn vào nghiên cứu sau khi họ trở về cộng
đồng, được phỏng vấn lần đầu, sau 3, 6, và 12 tháng. Số liệu thứ cấp của 467
bệnh nhân methadone (gọi tắt là nhóm MMT) đã tham gia nghiên cứu thuần tập
năm 2009 của Bộ Y tế được sử dụng cho nghiên cứu. Ngoài ra 318 bệnh nhân
methadone (trong số 467 của nghiên cứu cũ) tiếp tục tham gia nghiên cứu mới

So sánh hiệu quả và chi phí của mô hình cai nghiện tập trung
và mô hình điều trị thay thế bằng methadone tại cộng đồng tại Hải Phòng, Việt Nam
4
và phỏng vấn tiếp thêm 12 tháng nữa (với các mốc thời gian tương tự như nhóm
CCT). Số liệu đánh giá về hiệu quả (thu thập qua phỏng vấn với nhóm CCT và
MMT) và số liệu về chi phí điều trị (chi phí nhóm CCT tự chi trả, chi phí cơ hội
của nhóm MMT và chi phí hoạt động của các trung tâm CCT, các cơ sở điều trị
methadone) được thu thập cho phân tích hệ số hiệu quả-chi phí.
Kết quả
Phần I: Mục đích của Phần I là so sánh đặc điểm ban đầu của hai nhóm
Kết quả của Phần I:
• Kết quả ban đầu cho thấy nhóm CCT có mức độ lệ thuộc vào ma túy không
nghiêm trọng bằng nhóm MMT. Tuy nhiên, cả hai nhóm đều trải nghiệm các
mức độ tác hại về sức khỏe và tác hại về luật pháp như nhau;
Phần II: mục đích của Phần II là so sánh hiệu quả của hai mô hình điều trị
thông qua đánh giá 8 chỉ số đo lường khác nhau.
Kết quả Phần II:
• Cả hai mô hình điều trị đều có hiệu quả đối với: 1) giảm tỷ lệ sử dụng heroin
(dựa trên kết quả xét nghiệm nước tiểu); 2) giảm tỷ lệ sử dụng bất cứ loại ma
túy nào (tự báo cáo); và 3) giảm số ngày sử dụng ma túy trong tháng. Tuy
nhiên, MMT hiệu quả hơn đáng kể đối với cả 3 chỉ số đo lường này;
• Cả hai mô hình điều trị đều có hiệu quả ngang nhau đối với: 4) giảm tiền
chi tiêu cho ma túy hàng tháng (đối với những người có sử dụng ma túy); 5)
giảm tỷ lệ có hành vi phạm pháp; và 6) giảm tỷ lệ sốc thuốc quá liều;
• Cả hai mô hình điều trị đều có ảnh hưởng rất nhỏ đối với: 7) tăng thu nhập
bình quân hợp pháp hàng tháng (đối với những người có việc làm);
• Cả hai mô hình điều trị đều không có ảnh hưởng gì đối với: 8) tình trạng việc
làm;
Đối với báo cáo kết quả BAN ĐẦU này, phần phân tích hiệu quả - chi phí chưa
được trình bày. Phần này sẽ được trình bày ở báo cáo CUỐI CÙNG vào tháng
3/2015.

So sánh hiệu quả và chi phí của mô hình cai nghiện tập trung
và mô hình điều trị thay thế bằng methadone tại cộng đồng tại Hải Phòng, Việt Nam 5
CƠ SỞ NGHIÊN CỨU
Ở Việt Nam hiện có hai mô hình điều trị nghiện chủ đạo: 1) mô hình điều trị
trong trung tâm cai nghiện tập trung (CCT), bắt đầu triển khai từ những năm
1990 bằng ngân sách của nhà nước cấp trung ương và địa phương; và 2) mô
hình điều trị thay thế bằng methadone (MMT), bắt đầu triển khai năm 2008 chủ
yếu bằng nguồn tài trợ quốc tế với đóng góp ở mức khiêm tốn của Chính phủ.
Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tính đến cuối năm
2013 có 181.000 người nghiện chích ma túy theo danh sách chính thức. Trong
số này, 25% (45.000 người) được điều trị trong các trung tâm CCT và 10%
(17.500 người) được điều trị trong các cơ sở điều trị methadone. Phần 65% còn
lại (118.500 người) ở cộng đồng hoặc không được điều trị hoặc đã được điều trị
từ trung tâm CCT trở về cộng đồng.
Năm 2010, Việt Nam trở thành quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người
ở mức trung bình. Điều này có nghĩa tài trợ quốc tế sẽ giảm dần từ năm 2015.
Bằng chứng từ một nghiên cứu về hiệu quả-chi phí so sánh hai mô hình điều trị
là một trong những công cụ quan trọng hỗ trợ cho các lãnh đạo Việt Nam trong
nỗ lực xây dựng chính sách ma túy và phân bổ nguồn lực hiệu quả. Kết quả của
nghiên cứu này cũng có thể hỗ trợ các tổ chức quốc tế và trong nước đang hợp
tác với các cơ quan của Chính phủ trong việc điều chỉnh các dịch vụ, chương
trình cho người sử dụng ma túy và sử dụng kết quả của nghiên cứu làm điểm
tựa cho các nội dung tọa đàm với Chính phủ về chính sách ma túy.
MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU
So sánh hệ số hiệu quả-chi phí của mô hình trung tâm cai nghiện tập trung
(CCT) và mô hình điều trị thay thế bằng methadone tại cộng đồng (MMT) ở
Thành phố Hải Phòng, Việt Nam.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Tại thành phố Hải Phòng, Việt Nam:
a) Mô hình trung tâm cai nghiện tập trung có mang lại những thay đổi về sức
khỏe và xã hội đối với người sử dụng ma túy ở Hải Phòng? Hiệu quả về sức
khỏe và xã hội sẽ được đo lường tập trung vào: 1) hành vi sử dụng ma túy;
2) hành vi tội phạm liên quan đến ma túy; 3) hành vi nguy cơ lây nhim HIV
liên quan đến tiêm chích ma túy; 4) số lần sốc thuốc quá liều; và 5) chất
lượng cuộc sống?
b) Mô hình trung tâm cai nghiện tập trung có hệ số hiệu quả-chi phí cao hơn so
với điều trị thay thế bằng Methadone khi so sánh về: 1) tỷ lệ từ bỏ được ma
túy; 2) số ngày không sử dụng ma túy; 3) số ngày không có hành vi phạm
pháp liên quan đến ma túy; 4) số lần thực hiện hành vi nguy cơ lây nhim
HIV liên quan đến tiêm chích ma túy; 5) số lần sốc thuốc quá liều và 6) số
năm sống được hiệu chỉnh theo chất lượng cuộc sống (Quality-Adjusted Life
Year) đối với người sử dụng ma túy?
Các bộ câu hỏi được thiết kế nhằm thu thập số liệu chỉ tập trung vào trả lời hai
câu hỏi nghiên cứu trên.

