
3
điều kiện, khả năng và nhu cầu phát triển của xã hội. Sự đổi mới và phát triển giáo dục
đang diễn ra ở các nước trên thế giới, tạo cơ hội tốt để giáo dục nước ta nhanh chóng
tiếp cận các xu thế mới, nhận thức mới, những cơ sở lý luận, phương thức tổ chức dạy
học, nội dung giảng dạy hiện đại và tiến tới vận dụng kinh nghiệm quốc tế để đổi mới
và phát triển. Riêng trong quản lí giáo dục hiện đại, chúng ta cần tiếp cận cách “quản lí
theo Chuẩn”. Có thể nói xây dựng Chuẩn nghề nghiệp GVTH để quản lí chất lượng
đội ngũ GV là sự đổi mới trong tư duy quản lí giáo dục, là yêu cầu khách quan trong
xu thế phát triển và hội nhập.
- Giáo dục và đào tạo nước ta đang bước vào giai đoạn hết sức quan trọng và
mang tính quyết định, giai đoạn đổi mới giáo dục phổ thông theo tinh thần nghị quyết
Đại hội lần thứ IX, Nghị quyết 40 của Quốc hội và chỉ thị 14 của Chính phủ. Trong
luật giáo dục có nêu: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển
toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm
chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Để thực
hiện mục tiêu giáo dục đó thì vai trò mang tính quyết định là lực lượng CBQL và GV
các cấp, trong đó có đội ngũ CBQL và GVTH. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ này
sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Một trong những biện pháp cơ bản để nâng
cao năng lực đội ngũ GVTH chính là xây dựng chuẩn nghề nghiệp GVTH. Một khi đã
có trường chuẩn thì việc xây dựng chuẩn GV là một việc làm tất yếu đối với việc thực
hiện yêu cầu “ hiện đại hóa, chuẩn hóa” mà Đại hội Đảng lần IX đề ra trong giai đoạn
đổi mới hiện nay. Điều đó cũng phù hợp xu thế phát triển và hội nhập như đã nói ở
trên.
1.2. Chuyển từ xây dựng và quản lí đội ngũ GVTH theo chuẩn trình độ đào tạo
sang xây dựng và quản lí đội ngũ GVTH theo chuẩn nghề nghiệp là cách làm mới, phù
hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
- Trong nhiều năm qua, GVTH được đào tạo từ nhiều hệ khác nhau nhằm đáp
ứng yêu cầu học tập của trẻ em khắp mọi vùng đất nước. Khi đó việc huy động đủ số
lượng người dạy đang là điều bức bách cho việc xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu
học. Đến nay, sự phát triển giáo dục tiểu học đã đi vào ổn định, tình trạng thiếu GVTH
cơ bản đã được khắc phục, do đó đã đến lúc có điều kiện đưa ra các yêu cầu thống
nhất trong cả nước về năng lực nghề nghiệp của GVTH, dù họ đang giảng dạy ở bất cứ
nơi đâu. Đó cũng là bước chuyển cơ bản từ quản lí số lượng sang quản lí chất lượng
đối với đội ngũ GVTH ở nước ta.
- Chuẩn trình độ đào tạo là mức độ và yêu cầu người GV phải đạt được khi họ tốt
nghiệp ở một cấp đào tạo nào đó (như chuẩn trình độ đào tạo THSP, CĐSP, ĐHSP…).
Các yếu tố đầu vào, thời gian đào tạo, nội dung và phương pháp đào tạo…quyết định
chuẩn trình độ đào tạo. Quản lí và xây dựng đội ngũ GVTH theo chuẩn trình độ đào
tạo được thực hiện trong nhiều năm qua, ở giai đọan đầu còn gặp nhiều khó khăn, nhu
cầu về số lượng đang là sức ép lớn. Việc nâng dần mức độ trình độ đào tạo chuẩn đã
góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GVTH, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn giáo dục
tiểu học đã qua. Một trong những hạn chế trong việc quản lí theo chuẩn trình độ đào
tạo là xu hướng “chạy theo bằng cấp”, việc quản lí đó thường bị dùng lại ở điểm xuất
phát ban đầu của giai đoạn khởi nghiệp, chưa quản lí được năng lực của GV trong suốt