Thái Bá Li và qtrình đi
mi bút pháp sáng tạo
Thái Bá Lợi thuộc thế hệ nhà văn cầm bút vào nhng năm cuối của cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước và được bạn đọc biết đến như một trong những cây bút xuất
sắc của văn xuôi cả nước viết về chiến tranh sau chiến tranh. Anh cũng là một trong
những tác giả smnhững đóng góp báo hiệu cho xu hướng vận động của văn học
nước nhà trước khi bước vào thi kỳ đổi mới.
Sinh năm 1945, quê xã Sơn Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Vốn là một
quân y sĩ, đội trưởng một đội phẫu thuật tiền phương, TháiLợi đã tng có mặt
những chiến trường ác liệt nhất trong những năm chống Mnhư Đường Chín, Nam Lào,
Khe Sanh, Đông Hà, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Nhưng phải đến chiến trường Khu V
với xứ Quảng mi thực slà nơi khơi nguồn những trang viết đầu tiên và cũng là nơi t
bấy đến nay, anh đã quen thuộc, gắn bó với nhiều nỗi buồn vui của đời mình .
Nhng tác phm chính của Thái Bá Lợi đã được xuất bản gồm có: Vùng chân Hòn
Tàu (truyn ngắn, 1978), Thung lũng thử thách (tiểu thuyết, 1978), Hcùng thời với
những ai (tiểu thuyết, 1978), Bán đảo (truyện, 1983), Còn lại với thời gian(tiu thuyết,
1989), Đội hành quyết (truyn ngắn, 1994), Trùng tu (tiểu thuyết, 2003), Khê ma
ma (tiểu thuyết, 2004).
Thái Bá Lợi đã tng nhận nhiều gii thưởng của Trung ương và địa pơng: Giải
thưởng truyện ngắn tạp chí Văn Nghệ Qn đội, năm 1983, với tác phẩm Lòng cha; Giải
thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, m 1983, với tiểu thuyết Họ cùng thời với những ai;
Giải A của Ủy ban toàn quốc các Hội Liên hiệp Văn Học Nghệ thuật Việt Nam, năm
2003, với tiểu thuyết Trùng tu; Gii A của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành ph
Đà Nẵng, năm 2004, với tiu thuyết Khê ma ma; Giải B (không có giải A) của Giải
thưởng Văn học- Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng lần thứ nhất (1997-2005) vi tiểu
thuyết Trùng tu và tiu thuyếtKhê ma ma…
Tuy nhiên, theo chúng tôi, đánh giá một nhà văn không thể chỉ căn cvào giải
thưởng; bởi lẽ, trong thực tế, và nhất là những năm gần đây, có không ít trường hợp nhà
văn và tác phẩm cũng được giải thưởng, thậm chí là giải cao, mà cngười đọc lẫn giới
phê bình nghiên cứu vẫn không mấy mặn mà.
Với Thái Li, hành trình sáng tác của anh trong hơn ba thập niên vừa qua, đã
được dư luận và độc giả chú ý theo dõi và đón nhận. Giáo trình Lịch sử văn học Việt
Nam, tập III, nhà xuất bản Đại học Sư phạm, năm 2004, chương viết về Nền văn học
mới từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, khi đề cập đến quá trình vận động của văn học
sau 1975, đã nhận xét và khẳng định: “Công cuộc đổi mới văn học thực sự trở thành
phong trào mnh mẽ từ sau Đại hội Đảng ln thứ VI. Nhưng trước đó đãnhững dấu
hiệu đổi thay ở một số cây bút nhạy bén nhất.m 1977, Thái Bá Lợi viết Hai người trở
lại trung đoàn, năm 1979, Nguyễn Trọng Oánh viết Đất trắng và Nguyễn Khải viết Cha
và Con, và…(1).
*
Quả thực, với Hai ngưi trlại trung đoàn (in ln đầu trên tạp cVăn ngh
Quân đội, số tng 4-1977) của Thái Lợi, dòng chy n học viết về chiến tranh
nước ta, sau 1975, đã kng còn xuôi chiu như tớc. Bằng cm quan của người nghệ
sĩ từng lăn lộn ở chiến trường, bằng vốn sng trực tiếp và tng qua ssàng lc của ký
ức,Thái Lợi đã hướng ngòi bút của mình vphía biểu hiện cuộc chiến đã qua vi
i nhìn nghm cn n, nhiều phía n. Anh kng chngợi ca tôn vinh những phẩm
chất tt đp, cao cả của con người trong cuộc chiến đấu một mất một còn vi kẻ thù,
mà còn pt hin cả nhng mặt khuất lấp đng sau tấm huân chương gợi lên nhng
suy ngm đầy tính dbáo về đạo đức, thế sự. Sự vận đng đi mới quan niệm nghệ
thut về con ngưi của nhà n đã được biểu hiện krõ nét qua thế giới hình tượng
nhân vt. Đã quen vi lối tư duy pn chia rạch ròi địch, ta; xấu, tốt; đến Hai nời trở
lại trung đoàn, ngưi đọc ngỡ ngàng nhn ra, kng còn phi chỉ kẻ đch mới xấu còn
ta bao giờ cũng tốt, mà té ra ngay trong cuộc chiến, ngay hàng ngũ của ta, cũng có
nhng ktrí trá, xảo quyệt cơ hội (nn vật Trí); cnhững ni thật thà trung thực
chvì hkng gần cấp trên hbhiểu lầm oan uổng; phải gánh chịu những thiệt
thòi mt mát (nhân vật Thanh). Ri ngay cmột người con i rất tốt, tng minh,
dũng cm như y cũng có lúc đã ngnhn, đ rồi phải trgiá cho sng nổi, cn
thc của chính mình. c phm kết thúc vi tình hung, sau chiến dịch Hồ CMinh,
nhân vt Trí, con ngưi tng dẫm lên vai đng đội, tng bội bạc trong tình u, nhưng
nhkng ai biết, nhờ những ngưi tốt chịu thiệt thòi mà anh đã được tng chức
trung đoàn trưởng. Trung đoàn của Trí, i mà cả Thanh y đã tng sng và chiến
đấu được tuyên dương anh ng. Trong ngày vui y, được Thanh (ngưi đng đội cũ
đã từng thầm yêu Mây, nhưng vì Trí không thành) o tin, Mây đã quyết đnh đưa
đứa con mà mình đã có vi Trí và cùng Thanh trvề tm lại trung đoàn.
Vậy là, tên gọi tác phẩm Hai người trở lại trung đoàn vừa khái quát được nội
dung thiên truyn, vừa cùng một lúc gợi ra nhiu suy nghĩ và xúc cm thẩm mỹ cho
người đọc. “Hai người” ở đây là Thanh và y, hai người đồng đội cùng trlại thăm
trung đoàn cũ của mình. Mặt khác,“hai người” đây cũng là hình nh hai mẹ con Mây
trở về chứng kiến slên ngôi của Trí. Họ đều là nhng người từng góp phần làm n
chiến công chung của trung đoàn, nhưng chính họ là nhng “nạn nhân” của Trí và hiểu
thực chất về Trí hơn ai cả. Họ không i gì, thái độ tác giả cũng không thể hiện, chỉ để
cho sviệc tự nói lên. Thiên truyn đem đến cho ngưi đọc cả niềm vui lẫn nỗi buồn, cả
thào ln mỉa mai, chua xót, cả hạnh phúc ln lao lẫn mất mát thầm lng.Hai người tr
lại trung đoàn một kết thúc mở tạo n được những âm ng đa thanh cho tác phẩm.
Phi i rằng, vừa mới n một m sau ngày chiến thng, giữa lúc luồng g
đổi mới chưa thổi ti, nếu không thực s nung nấu và nhy bén pt hiện, nếu kng
thc st tin can đm, Ti Lợi khó có được nhng trang viết như
vy. Hai ngưi trlại trung đoàn thế đã thuộc vào trong s tác phẩm sm nhất m
rng, km p và đ cp đến những diễn biến phức tạp của đi sng chiến trường và
c trong m trng ngưi lính buổi giao thời, trưc đó n xi theo mạch s thi
chưa đ cp đến hoc chưa th đng chạm đến. Đây cũng là mt thiên truyn gu
cht tiểu thuyết o hiệu cho một kiểu tư duy hình tưng đm đc thế gii hin thực
ức, to nên mt bn sc ni bt trong phong cách sáng tạo ca Thái Bá Li;đng
thi từ đó đã khng đnh vtrí của anh trên n đàn.
*
Thực ra, bất kỳ nhà văn nào muốn phản ánh và biểu hiện cuộc sống vào tác phm,
cũng đều phải thông qua sự nhớ lại là tưởng tượng đầy cảm hứng chủ quan của họ, tức
là dù ít dù nhiều chất liệu cuộc sống ở trong tác phẩm đều mang thế giới hiện thực ký
ức, nhất là đối với thể loại tiểu thuyết. Milan Kundera cũng đã từng quan niệm: “tiểu
thuyết là nơi stưởng tượng có thể bùng nổ như trong một giấc mơ và tiểu thuyết có thể
vượt qua đòi hỏi trông chừng có vẻ tất yếu phải giống thật”(2). Vì thế, thế giới hiện thực
ức cũng chưa hẳn là đặc điểm của riêng Thái Bá Li. Tuy nhiên, với Thái Lợi, đặc
điểm này đã thấm đẫm và chi phối một cách sâu sắc toàn bộ thế giới nghệ thuật của anh
từ cốt truyện, kết cấu, đến hình tượng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu. Nó trở thành
một nét đặc trưng khi nhận diện phong cách của nhà văn .
Nhiu tác phẩm của Thái Lợi sau Hai ni trở lại trung đoàn đu có chung
một mô típ dẫn vào ct truyện như thế. Chng hạn, tiểu thuyết Hcùng thi với những
ai được bắt đu t Vào mt buổi chiều, cng tôi trèo n đồi 74 ở phía bắc ng Bến
Hi”... vi hồi ức n mưi năm trước”, “chính ttrên đỉnh đồi này, một người bạn
kể lại câu chuyện về nhng con người từ cuộc chiến tranh quyết liệt vừa đi ra….
Truyn dài n đảo cũng là “câu chuyn tôi nghe đưc cám ảnh trong tôi, làm
tôi phải luôn ln ngvề sphận của các nhân vật trong chuyn. Truyn ngắn Đội
nh quyết m đu cũng bằng “điều i bứt rt hai chục m qua hôm nay mới làm
được do sự tình cờ”. Tiu thuyếtTrùng tu sở dĩ được viết nên cũng với lý do, vì “Tôi
và nó, hai trong svài ba chục ni sống sót của mt tiểu đoàn bảy trăm ngưi sau
sự kiện Tết Mậu Tn ở Huế tình cờ gp nhau ri những ngày xa xưa bng “ki
dậy trong ký c”. Và,Khê ma ma dù viết theo hình thức nhật ký, nhưng đó cũng là
cuốn nhật ký nhặt được trên dòng sui mà bây gikng biết tác giả đâu “để có th
gửi lại ri cũng phải “suy đi nghĩ lại mấy lần i mới quyết định công bố…”.
Kiểu vào truyn này dễ cuốn người đọc vào thế giới kỷ niệm cùng với tác giả và
nhân vật, nhưng cũng dễ sa vào hi tưởng lan man. Điều đáng nói ở đây là, Thái Lợi
đã không bị chìm vào màn sương của thế giới ký ức. Anh biết tận dụng sức mạnh của ký
ức để lẩy ra, chắt lọc những sự việc, hình nh, con người nổi bật nhất. Và, cho dù viết về
bất kỳ một mảng đời sống nào, thồi ức về một chiến dịch, về những bề bộn, phức tạp
một vùng “bán đảo” sau ngày giải phóng, hay nhớ lại những ngày Mu Thân ở Huế và
công việc trùng tu” Huế hôm nay, cho đến cviệc “ghi lại” những dòng nhật ký mà ai
đó bỏ quên ở khu rừng Bà Nà, Thái Bá Li đều hướng cái nhìn “ngậm ngợi” (chữ dùng
của tác giả) của mình về phía những vấn đề của con người.Anh thuộc kiểu nhà văn quan
m đến vấn đề trong diễn biến bề bộn của sự việc, hơn là chú tâm thuật lại cho k