
Các thiệt thòi khi không có thương
hiệu công ty mạnh.
Từ trước tới giờ, chúng ta luôn phân tích bài toán xuôi. Nào là
thương hiệu công ty đem lại lợi ích gì cho doanh nghiệp, nào là
vai trò quan trọng của thương hiệu công ty, cách nhận biết
thương hiệu công ty mạnh, cách đánh giá tính cách thương
hiệu,… Bây giờ, chúng ta sẽ làm bài toán ngược tức là chúng ta
phân tích những thiệt thòi khi doanh nghiệp không có một thương
hiệu công ty mạnh.

Chúng ta có 3 loại hình doanh nghiệp chính: sản xuất, dịch vụ và
thương mại. Do loại hình doanh nghiệp cổ phần làm thương mại
gặp chưa nhiều và thực sự rõ rệt các khó khăn, nên chúng ta sẽ
nhắm kỹ vào các doanh nghiệp cổ phần chuyên về sản xuất và
dịch vụ. Khi làm thương mại, các doanh nghiệp sẽ dựa hơi vào
các thương hiệu có sẵn của hàng hóa, sản phẩm nên sẽ không
thấy ngay các thiệt thòi khi không có thương hiệu công ty cho
riêng mình.
Về loại hình các doanh nghiệp chuyên sản xuất và dịch vụ, chúng
ta có các doanh nghiệp sau chịu tác động trực tiếp và ngay từ
thương hiệu công ty: các công ty cổ phần kinh doanh nước giải
khát, sữa, các tập đoàn, doanh nghiệp cổ phần bảo hiểm, tài
chính và các ngân hàng thương mại cổ phần.
A. Thiệt thòi 1: Hiện tượng thoái lui, rút vốn của nhà nước
và các quĩ đầu tư.
Cạnh tranh để phát triển kinh tế. Chúng ta đã vượt ra xa thời kỳ
bao cấp của nhà nước. Không có lẽ nhà nước mãi chia vốn cho

các doanh nghiệp nhà nước để bảo trợ cho họ phát triển. Khi tồn
tại các doanh nghiệp nhà nước, thành phần kinh tế tư nhân liệu
có phát triển công bằng không? Chính vì vậy Đảng và Nhà nước
đã sáng suốt chỉ đạo cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.
Hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh vốn nhà nước hoặc
chuyển thành công ty cổ phần hoặc trở thành công ty TNHH một
thành viên. Việc chuyển thành công ty TNHH một thành viên chỉ
là bước đệm khi công việc cổ phần hóa chưa thực hiện xong.
Hiện tượng thoái vốn đầu tư của nhà nước và các quĩ đầu tư là
tất yếu.
Nhà nước có rất nhiều vốn gửi rải rác trong tất cả các doanh
nghiệp kinh doanh vốn nhà nước. Hiện tượng thoái vốn chỉ thực
hiện được đối với các doanh nghiệp cổ phần và cổ phiếu được
niêm yết trên sàn chứng khoán.
Tại sao nhà nước lại thoái vốn? Các doanh nghiệp kinh doanh có
phát triển toàn diện được không nếu luôn nằm trong sự bao bọc,

bao cấp và bảo lãnh của nhà nước? Nhà nước còn rất nhiều các
vấn đề, hạng mục cần vốn đầu tư.
Tại sao các quĩ đầu tư lại thoái vốn? Rất nhiều lí do: có thể là họ
đã thấy đủ lãi từ tiền đầu tư của mình, có thể họ giải tán quĩ đầu
tư, có thể có một lí do nào khác mà nhóm cổ đông đa số của quĩ
biểu quyết.
Quan trọng là chúng ta thấy được thiệt thòi của doanh nghiệp
không có thương hiệu công ty mạnh. Khi nhà nước hay quĩ đầu
tư thoái vốn, doanh nghiệp sẽ phải tự đứng trên đôi chân của
mình, không còn hậu thuẫn. Khi đó, câu hỏi đặt ra là làm sao để
khách hàng tìm đến doanh nghiệp, làm sao lôi kéo hay thu hút
hay giữ lại các nhân sự giỏi, làm sao để huy động vốn trên thị
trường chứng khoán? Chúng ta sẽ thấy ngay thiệt thòi cho doanh
nghiệp chưa có thương hiệu công ty mạnh. Chứ đừng bao giờ
đổ lỗi cho ai hay cái gì.
B. Thiệt thòi 2: Cạnh tranh trong nước và cạnh tranh với các
thương hiệu nước ngoài.

Thời nay, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau
cũng không đơn giản. Tất cả các doanh nghiệp đa phần cổ phần
hóa hết. Ngoài Hội đồng quản trị và Ban điều hành ra, từ tổng
giám đốc trở xuống đều đi thuê hết.
Không còn hiện tượng bè phái hay lập nhóm bao che cho nhau
như hồi còn bao cấp. Tuy nhiên, để có được cách kết hợp nhịp
nhàng trong công việc hay chủ động trong công việc từng khâu,
không phải tất cả các doanh nghiệp đều làm được. Vấn đề
không phải là phải có được một tổng giám đốc giỏi, biết quán
xuyến mọi việc. Nếu vậy thì chỉ khổ mỗi anh tổng giám đốc thôi.
Cái hay của một thương hiệu mạnh là ý thức của mọi người sở
hữu thương hiệu công ty đều như nhau. Ban lãnh đạo và ban
giám đốc truyền lửa xuống cho mọi nhân viên cùng làm việc.
Chúng ta đề cập đến cạnh tranh trong nước và với nước ngoài
bây giờ không còn sớm nữa. Trong nước thì các doanh nghiệp
buộc phải mở rộng thị trường ra khắp cả nước. Theo các cam kết
với WTO hay ASEAN, các rào cản thuế quan giữa các nước là

