
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 542 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2024
261
NHÂN 1 TRƯỜNG HỢP THIẾU MÁU THIẾU SẮT KÉO DÀI
DO VIÊM TÚI THỪA MECKEL TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Lâm Bội Hy1, Nguyễn Đỗ Trọng1, Vũ Huy Trụ1
TÓM TẮT37
Đặt vấn đề: Thiếu máu thiếu sắt là một trong
những nguyên nhân thiếu máu thường gặp nhất ở
trẻ em. Thiếu máu thiếu sắt thường đáp ứng với
điều trị sắt. Thiếu máu thiếu sắt kéo dài thường
do mất máu rỉ rả bởi sang thương từ đường tiêu
hoá như loét dạ dày tá tràng, viêm túi thừa
Meckel, polyp, dị dạng mạch máu ở ruột non,
viêm ruột mạn,…
Báo cáo ca bệnh: Bé trai 7 tuổi, tiền căn
thiếu máu thiếu sắt kéo dài 1 năm nay kém đáp
ứng, đã từng truyền máu 1 lần, chưa ghi nhận
xuất huyết tiêu hoá trước đây, nhập viện vì tiêu
phân máu đỏ bầm, lượng vừa 1 lần/ngày. Hb lúc
nhập viện 4,4 g/dl, Hct 14%. Bé được tầm soát
nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hoá như: nội soi
dạ dày tá tràng, chụp CT scan bụng. Kết quả:
không ghi nhận ổ loét dạ dày, tá tràng. CT scan:
viêm túi thừa Meckel. Bé được phẫu thuật nội soi
ổ bụng thám sát và cắt đoạn ruột có túi thừa
Meckel’s viêm. Theo dõi sau xuất viện 1 tháng,
da niêm bé hồng hào, Hb cải thiện.
Kết luận: Cần tầm soát nguyên nhân thiếu
máu thiếu sắt kéo dài, trong đó nguyên nhân từ
đường tiêu hoá dễ bị bỏ sót. Viêm túi thừa
Meckel là một trong những nguyên nhân gây
thiếu máu thiếu sắt kéo dài ở trẻ em. Viêm túi
1Bệnh viện Tâm Anh TP.HCM
Chịu trách nhiệm chính: Lâm Bội Hy
SĐT: 0908006612
Email: bhylam@gmail.com
Ngày nhận bài: 05/7/2024
Ngày phản biện khoa học: 03/8/2024
Ngày duyệt bài: 08/8/2024
thừa Meckel có thể không có triệu chứng hoặc
biểu hiện xuất huyết tiêu hoá ở bất kì lứa tuổi
nào.
Từ khóa: thiếu máu thiếu sắt kéo dài, xuất
huyết tiêu hoá, viêm túi thừa Meckel.
SUMMARY
A CASE REPORT OF CHRONIC-
IRON DEFICIENCY ANEMIA DUE TO
MECKEL’S DIVETIVULUM AT TAM
ANH GENERAL HOSPITAL
Background: Iron defiency anemia is one of
the most common reason of anemia in children.
It is usually responsible to oral iron suppliment.
Chronic iron-deficiency anemia from occult
bleeding may be caused by a lesion of the
gastrointestinal (GI) tract, such as peptic ulcer,
Meckel’s diverticulum, polyp, hemangioma, or
inflammatory bowel disease,…
Case report: A 7 year-old boy, who had
history of iron-refractory anemia without any
history of gastrointestinal (GI) bleeding, came to
emergency department with pale, hematochezia.
His Hb at admission was 4.4 g/dl, Hct 14%. He
was screen for the causes of GI bleeding such as:
gastroduodenal endoscopy and abdominal CT
scan. The results were no peptic ulcer, and
Meckel’s diverticulum found in abdominal CT
scan. He was taken laparoscopic abdominal
surgery and removed the intestine with Meckel’s
diverticulum. Followed up 1 month after
discharge, the child's skin and mucous
membranes were pink, Hb improved.
Conclusions: It is necessary to screen for
causes of chronic-iron deficiency anemia, in

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN CỦA HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH - 2024
262
which gastrointestinal causes are easily
overlooked. Meckel’s diverticulum is one of the
causes of chronic-iron deficiency anemia in
children. It can be silent or symptomatic with
gastrointestinal bleeding at any age.
Keywords: chronic-iron deficiency anemia,
gastrointestinal bleeding, Meckel’s diverticulum.
I. GIỚI THIỆU
Mất máu là nguyên nhân hàng đầu gây
thiếu sắt trên thế giới. Đường tiêu hóa vừa là
nơi hấp thu sắt vừa là nơi mất máu phổ biến
nhất, đặc biệt là khi tình trạng xuất huyết
không rõ ràng. Bất thường giải phẫu đường
tiêu hóa là nguyên nhân mất máu thường gặp
và dẫn đến thiếu máu thiếu sắt.
Túi thừa Meckel là một trong những
nguyên nhân bất thường bẩm sinh của ruột
non thường gặp, với tỉ lệ khoảng 2% dân số
chung. Túi thừa Meckel có thể không có
triệu chứng hoặc biểu hiện triệu chứng ở bất
kì độ tuổi nào. Trong đó, triệu chứng thường
gặp của túi thừa Meckel là tắc ruột, xuất
huyết tiêu hoá ồ ạt và viêm túi thừa [1].
Chúng tôi xin trình bày ca bệnh viêm túi
thừa Meckel với thiếu máu thiếu sắt kéo dài
do xuất huyết tiêu hoá rỉ rả.
II. TRÌNH BÀY CA BỆNH
Bảng 1: Xét nghiệm máu trước và sau điều trị
Tên xét nghiệm
Kết quả
Đơn vị
Trước
Sau
WBC
8,87
7,49
k/µl
RBC
1,79
5,28
M/µl
Hb
4,4
13,8
g/dl
Hct
14,2
41,6
%
MCV
79,3
78,8
fl
MCH
24,6
26,1
pg
MCHC
31
33,2
g/dl
PLT
275
k/µl
Sinh hóa máu
CRP
1,1
mg/dl
Sắt huyết thanh
3,89
18,2
µmol/l
Ferritin
27,4
50
ng/ml
AST
21,97
U/l
ALT
6,74
U/l
Đông máu toàn bộ
TQ
14
giây
TCK
23
giây
Fibrinogen
2,1
g/dl
Bé trai 7 tuổi nhập viện khoa cấp cứu
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM vì
tiêu máu đỏ bầm 1 lần, lượng vừa. Tiền căn
thiếu máu thiếu sắt kéo dài 1 năm, kém đáp
ứng với sắt đang theo dõi tại bệnh viện Nhi
Đồng 1, Hb trung bình 7,0 g/dl, đã truyền

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 542 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2024
263
máu 1 lần vào tháng 1 năm 2023 và chưa ghi
nhận xuất huyết tiêu hoá trước đây. Lúc nhập
viện, da bé xanh, niêm nhạt, mạch 140
lần/phút, huyết áp 120/80 mmHg, nhịp thở 26
lần/phút, cân nặng 26 kg, chiều cao 120 cm.
Tim đều, phổi trong, bụng mềm, gan lách
không to, không báng bụng. Xét nghiệm máu
ngày nhập viện với Hb 4,4 g/dl, Hct 14,2%,
sắt huyết thanh 3,89 µmol/l, ferritin 27,4
ng/ml. Các xét nghiệm máu khác như: chức
năng đông máu và tiểu cầu, chức năng gan,
thận bình thường (bảng 1). Bé được nhịn ăn,
dịch truyền, truyền hồng cầu lắng và được
tầm soát nguyên nhân xuất huyết. Kết quả
nội soi dạ dày chưa ghi nhận ổ xuất huyết.
Siêu âm bụng: bình thường. CT scan bụng có
cản quang ghi nhận hình ảnh túi thừa Meckel
(hình 1). Bé được phẫu thuật nội soi ổ bụng
thám sát, ghi nhận đoạn cuối hồi tràng
khoảng 70cm cách góc hồi manh tràng có túi
thừa Meckel viêm (hình 2) và được cắt đoạn
ruột chứa túi thừa Meckel (hình 3). Giải phẫu
bệnh: Túi thừa lót bởi niêm mạc dạ dày, bề
mặt là biểu mô trụ chế nhầy đều nhau, bên
dưới là các tuyến thân vị được lót bởi các tế
bào chính và tế bào viền với hình thái lành
tính (hình 4). Theo dõi sau phẫu thuật 1 tháng,
bé hồng hào, Hb và sắt huyết thanh cải thiện
dù không bổ sung thêm sắt uống (Bảng 1).
Hình 1: CT scan bụng có cản quang ghi nhận túi thừa Meckel ở đoạn cuối hồi tràng
Hình 2: Hình ảnh túi thừa Meckel ở đoạn cuối hồi tràng (qua phẫu thuật nội soi ổ bụng)

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN CỦA HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH - 2024
264
Hình 3: Túi thừa Meckel được cắt và đưa ra ngoài
Hình 4: Giải phẫu bệnh: Túi thừa lót bởi niêm mạc dạ dày, bề mặt là biểu mô trụ chế nhầy
đều nhau, bên dưới là các tuyến thân vị được lót bởi các tế bào chính và tế bào viền với
hình thái lành tính.
IV. BÀN LUẬN
Ống noãn hoàng nối túi noãn hoàng và
ống tiêu hóa trong suốt giai đoạn đầu phôi
thai và thường đóng vào tuần thứ 7 phôi thai.
Khi ống noãn hoàng thoái hóa không đúng
cách sẽ hình thành một số bất thường bẩm
sinh như túi thừa Meckel, tồn tại ống noãn
hoàng, ống xoang,... Trong những bất thường
bẩm sinh trên, túi thừa Meckel thường gặp
nhất và chiếm tỉ lệ 2% dân số. Theo quy tắc
số 2, túi thừa Meckel ở vị trí cách góc hồi
manh tràng 2 feet (60cm), thường dài 2
inches (5cm), đường kính 2cm và tỉ lệ nam
nhiều hơn nữ 2 lần. Khoảng 2% bệnh nhân bị
biến chứng trong suốt cuộc đời, thường là
trước 2 tuổi.
Túi thừa Meckel thường chứa 2 loại mô:
niêm mạc ruột tự nhiên và niêm mạc lạc chỗ.
Trong số các trường hợp có triệu chứng, mô
dạ dày lạc chỗ thường gặp nhất (4,6 - 71%),
tiếp theo là mô tụy lạc chỗ (0 - 12%) [1][2].
Sự hiện diện của mô lạc chỗ liên quan đến
biểu hiện triệu chứng của túi thừa đặc biệt là
xuất huyết tiêu hóa. Ở các trường hợp không

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 542 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2024
265
triệu chứng, thỉnh thoảng có thể gặp mô lạc
chỗ tuy nhiên tỷ lệ thấp hơn nhiều với mô dạ
dày lạc chỗ 0 - 18,2%, mô tụy lạc chỗ 0 - 5%
[1]. Ở bệnh nhân này, kết quả giải phẫu bệnh
ghi nhận túi thừa được lót bởi niêm mạc dạ
dày phù hợp với y văn.
Mặc dù túi thừa Meckel thường không có
biểu hiện lâm sàng, chỉ 4 - 6% có biểu hiện
xuất huyết tiêu hóa hoặc các triệu chứng cấp
tính ở bụng liên quan đến tắc ruột, viêm túi
thừa Meckel hoặc thủng. Túi thừa Meckel có
thể xuất hiện triệu chứng ở bất kì lứa tuổi
nào, nhưng phần lớn báo cáo cho thấy
thường xuất hiện ở trẻ em và 25% - 50%
bệnh nhân có triệu chứng xuất hiện trước 10
tuổi. Triệu chứng của túi thừa Meckel’s ở trẻ
em thường gặp nhất là tắc ruột (46,7%), xuất
huyết tiêu hóa (25,3%) và viêm túi thừa
(19,5%) [1].
Tắc ruột
Túi thừa Meckel’s có thể gây ra tắc ruột
bằng nhiều cách, trong đó lồng ruột là biểu
hiện chính ở trẻ em [3]. Lồng hồi - hồi tràng
và hồi - kết tràng có thể xảy ra, nơi túi thừa
đóng vai trò là điểm khởi đầu. Ngoài ra
người ta cho rằng mật độ sợi thần kinh cao
trong thành túi thừa Meckel có thể làm tăng
nhu động cục bộ và gây ra sự khởi phát lồng
ruột [4]. Nguyên nhân gây tắc ruột phổ biến
thứ hai (20%) là xoắn quanh dải Meckel, đây
là dải mạc treo túi thừa được cho là tàn dư
của động mạch vành chéo. Các loại tắc
nghẽn khác có thể là do xoắn, thắt nút, nghẹt
và thoát vị ruột trong thông qua các lỗ được
hình thành bởi dải Meckel hoặc mạc treo bất
thường gắn vào túi thừa. Một loại thoát vị cụ
thể hiếm gặp là thoát vị Littre, thoát vị bên
trong chỉ chứa túi thừa Meckel [5].
Xuất huyết tiêu hóa
Xuất huyết tiêu hoá do túi thừa Meckel
do sự hiện diện của mô dạ dày lạc chỗ gây
tiết acid làm loét ruột non. Đặc điểm xuất
huyết thường là tiêu máu đỏ bầm không kèm
đau bụng, triệu chứng xảy ra nhanh, nhiều và
bệnh nhân có thể bị thiếu máu cấp tính nặng.
Xuất huyết tiêu hóa ở bệnh nhân túi thừa
Meckel cũng có thể là biểu hiện của lồng
ruột, hoặc sự kết hợp giữa mô dạ dày lạc chỗ
và lồng ruột, trong những trường hợp chảy
máu sẽ kèm theo đau bụng. Thiếu máu thiếu
sắt kéo dài do mất máu rỉ rả từ túi thừa
Meckel’s thường ít gặp hơn với vài ca được
báo cáo ở người lớn và trẻ em [3][6][7].
Viêm túi thừa
Túi thừa có thể bị viêm do vi khuẩn phát
triển quá mức trong lòng khi bị tắc nghẽn,
dẫn đến viêm phúc mạc do viêm túi thừa có
hoặc không có thủng kèm theo. Viêm phúc
mạc chiếm khoảng 20% trong tất cả các
trường hợp túi thừa có triệu chứng và biểu
hiện bằng đau bụng, buồn nôn/nôn và sốt,
giống chẩn đoán viêm ruột thừa. Viêm túi
thừa có thể dẫn đến thủng, đe dọa tính mạng.
Cuối cùng, một số báo cáo trường hợp ca mô
tả rằng viêm túi thừa có thể biểu hiện dưới
dạng viêm hồi tràng mãn tính và bị chẩn đoán
nhầm là bệnh Crohn ruột non đơn độc [6].
Túi thừa Meckel nên được nghi ngờ chẩn
đoán ở trẻ em khi lâm sàng biểu hiện: xuất
huyết tiêu hóa dưới không kèm đau bụng;
xuất huyết tiêu hoá nhưng nội soi dạ dày và
đại tràng âm tính; bệnh nhân biểu hiện triệu
chứng giống viêm ruột thừa dù đã cắt bỏ ruột
thừa; lồng ruột tái phát. Túi thừa Meckel có
thể được chẩn đoán dựa vào siêu âm, X-
quang, chụp mạch máu, CT scan bụng có cản

