
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 488 - THÁNG 3 - SỐ 1 - 2020
165
TÌNH TRẠNG THIẾU MÁU THIẾU SẮT Ở TRẺ 2–5 TUỔI
SUY DINH DƯỠNG ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ
TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI TỈNH QUẢNG NGÃI NĂM 2019
Tr Thị Thanh Vân1, Nguyn Đình Tuyến1 v cộng sự
TÓM TẮT42
Đặt vấn đề: Suy dinh dưỡng (SDD) và thiếu máu
ở trẻ 2–5 tuổi vẫn phổ biến ở mức ý nghĩa sức khỏe
cộng đồng trên nhiều quốc gia trên thế giới trong đó
có Việt Nam. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thiếu máu thiếu
sắt (TMTS) và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến TMTS
ở trẻ 2–5 tuổi có suy dinh dưỡng (SDD) đến khám tại
Bệnh viện Sản-Nhi tỉnh Quảng Ngãi. Đối tượng và
phương pháp: Mô tả cắt ngang trẻ từ 2–5 tuổi được
chẩn đoán SDD đến khám và điều trị tại Bệnh viện
Sản Nhi Quảng Ngãi từ 07/2019 đến 20/10/2019. Kết
quả: Có 147 trẻ có SDD. Tỉ lệ thiếu máu là 85% với
nồng độ Hemoglobin trung bình là 10,1 ± 1,3 mg/dl.
Trong đó có 26,5% trẻ có TMTS. Tỉ lệ TMTS ở trẻ SDD
nhẹ cân, thấp còi, gầy còm, phối hợp 2 thể SDD, phối
hợp 3 thể SDD lần lượt là 0%, 23,5%, 20%, 34,8%,
và 33,3%. Các yếu tố liên quan TMTS là trẻ sống vùng
núi, hải đảo, người dân tộc thiểu số, trẻ được bú mẹ
sau 1 giờ đầu sau sinh, trẻ được cho ăn dặm không
đúng, ăn không đủ 4 nhóm thực phẩm, trẻ không
được xổ giun định kì, trẻ tiêu chảy cấp trong vòng 2
tuần qua. Kết luận: Tỉ lệ thiếu máu ở trẻ SDD cao,
đặc biệt là TMTS. Cần tăng cường công tác phòng
chống và điều trị SDD và TMTS.
Từ khóa:
Thiếu máu thiếu sắt, suy dinh dưỡng.
SUMMARY
IRON DEFICIENCY ANEMIA IN CHILDREN
2–5 YEARS OF AGE WITH MALNUTRITION
AT QUANG NGAI OBSTETRICS AND
PEDIATRICS HOSPITAL IN THE YEAR 2019
Introduction: Malnutrition and anemia in children
2 – 5 years old are still popular in the level of public
health implications in many countries in the world,
including Vietnam. Objective: Determination of iron
deficiency anemia (IDA) rate and explore the factors
associated with IDA in children 2 – 5 years of age
with malnutrition in Quang Ngai Pediatrics and
Obstetrics Hospital. Subject and Method: Cross-
sectional description of children between 2 and 5
years old are diagnosed with malnutrition examined
and treated at Quảng Ngãi Pediatrics and
Obstetrics Hospital from 07/2019 to 20/10/2019.
Result: 147 children with malnutrition. The incidence
of anemia is 85% with an average Hemoglobin
concentration of 10.1 ± 1.3 mg/dl. Of which 26.5% of
children have iron deficiency anemia. The rate of iron
1BV Sản Nhi tỉnh Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm chính: Trà Thị Thanh Vân
Email: teathvan@gmail.com
Ngày nhận bài: 6.01.2020
Ngày phản biện khoa học: 21.2.2020
Ngày duyệt bài: 27.2.2020
deficiency anemia among underweight, stunting,
wasting, coordinated 2 types of malnutrition,
coordinated 3 types of malnutrition children are
respectively 0%, 23.5%, 20%, 34.8%, and 33.3%.
Factors related to iron deficiency anemia are children
living mountains and islands, ethnic minorities,
breastfed babies after 1 hour of birth, children are fed
the wrong miles, not eating enough 4 groups of food,
children do not get regular roundworms, children have
acute diarrhea within the past 2 weeks. Conclusion:
The incidence of anemia in children with malnutrition
is high, especially iron deficiency anemia. It is
necessary to strengthen the prevention and treatment
of malnutrition and iron deficiency anemia.
Key words:
Iron deficiency anemia, malnutrition
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng và thiếu máu ở trẻ 2–5 tuổi
vẫn phổ biến ở mức ý nghĩa sức khỏe cộng đồng
trên nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt
Nam. Suy dinh dưỡng chiếm 50% của tất cả các
nguyên nhân tử vong ở các nước đang phát triển.
Trẻ suy dinh dưỡng thường kết hợp với thiếu một
hoặc nhiều vi chất dinh dưỡng, trong đó có chất
sắt. Tại Quảng Ngãi, năm 2017 tỉ lệ thiếu máu
thiếu sắt ở trẻ dưới 5 tuổi chiếm 34,8%.
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu 1: Xác định tỉ lệ thiếu máu thiếu
sắt của trẻ 2–5 tuổi có suy dinh dưỡng đến khám
tại địa điểm nghiên cứu.
Mục tiêu 2: Tìm hiểu các yếu tố liên quan thiếu
máu thiếu sắt ở trẻ 2–5 tuổi có suy dinh dưỡng.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.
Đối tượng nghiên cứu: Trẻ em từ 12 tháng
đến 60 tháng đến khám và điều trị tại Bệnh viện
Sản Nhi tỉnh Quảng Ngãi.
Tiêu chuẩn chon mẫu: Trẻ em từ 12 tháng
đến 60 tháng tuổi có suy dinh dưỡng đến khám
và điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ngãi.
- Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ số nhân trắc
dinh dưỡng [7]:
Các thể SDD được đánh giá thông qua 2 số
đo nhân trắc là cân nặng, chiều cao theo giới và
độ tuổi của trẻ dưới ngưỡng âm 2 độ lệch chuẩn
(<–2 SD: Standard Deviation) so với quần thể
tham khảo WHO–2007 do WHO công bố, áp
dụng thống nhất toàn cầu.
- Chỉ số cân nặng theo tuổi (CN/T): SDD thể
nhẹ cân:

vietnam medical journal n01 - MARCH - 2020
166
Bình thường: CN/T từ –2 Zscores đến+2 Zscores
SDD (thể nhẹ cân), CN/T<–2 Zscores; trong đó:
+ SDD thể nhẹ cân, mức độ vừa: từ –3 đến <
–2 Zscores
+ SDD thể nhẹ cân, mức độ nặng: < –3 Zscores
- Chỉ số chiều cao theo tuổi (CC/T): SDD thể
thấp còi:
Bình thường: CC/T từ –2 Zscores đến +2 Zscores.
SDD (thể thấp còi), CC/T<–2 Zscores; trong đó:
+ SDD thể thấp còi, mức độ vừa: từ –3 đến <
–2 Zscores
+ SDD thể thấp còi, mức độ nặng: < –3 Zscores
- Chỉ số cân nặng theo chiều cao (CN/CC):
SDD thể gầy còm:
Bình thường: CN/CC từ –2 Zscores đến +2 Zscores
SDD (thể gầy còm) CN/CC <–2 Zscores, trong đó:
+ SDD thể gầy còm, mức độ vừa: từ –3
Zscores đến < –2 Zscores
+ SDD thể gầy còm, mức độ nặng: <–3 Zscores
- Xác định thiếu máu thiếu sắt:
+ Hemoglobin < 11g/dl (đối với trẻ em 12
tháng đến 5 tuổi).
+ Sắt huyết thanh <9 µmol/L hoặc Ferritin
huyết thanh <12 ng/ml.
Tiêu chuẩn loại trừ: Trẻ có bệnh mạn tính:
tim bẩm sinh, bại não, bệnh huyết tán, di
truyền,… Người nhà không đồng ý tham gia
nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu: Chọn liên
tiếp các trường hợp thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu
và tiêu chuẩn loại trừ.
Xử lí số liệu: Số liệu thu thập được phân tích
bởi phần mềm thống kê SPSS 20.0.
Thời gian nghiên cứu: tháng 07/2019 đến
20/10/2019.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ tháng 7 đến 20/10/2019, tại Bệnh viện
Sản Nhi tỉnh Quảng Ngãi có có 147 trẻ 2–5 tuổi
có suy dinh dưỡng đủ tiêu chuẩn phân tích.
1. Tỉ lệ thiếu máu thiếu sắt ca trẻ 2-5
tuổi có suy dinh dưỡng đến khám tại Bệnh
viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ngãi
- Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Theo nhóm yếu tố
Tần số
n=147
Tỉ lệ
(%)
Tuổi
12 tháng–23 tháng
100
68,0
24 tháng–35 tháng
24
16,3
36 tháng–47 tháng
20
13,6
47 tháng–60 tháng
3
2,1
Giới tính
Nam
78
53,1
Nữ
69
46,9
Khu vực
sống
Đồng bằng
97
66,0
Miền núi, hải đảo
50
34,0
- Tỉ lệ suy dinh dưỡng
Bảng 2: Tỉ lệ mắc suy dinh dưỡng ca trẻ
Các thể SDD
Tần số (n=147)
Tỉ lệ (%)
Tỉ lệ (%)
Một thể
Nhẹ cân
11
7,5
51,0
Thấp còi
34
23,1
Gầy còm
30
20,4
Hai thể
Nhẹ cân – Thấp còi
25
17,0
44,9
Nhẹ cân – Gầy còm
1
0,7
Thấp còi – Gầy còm
40
27,2
Ba thể
Nhẹ cân – Thấp còi – Gầy còm
6
4,1
4,1
Tổng
147
100
100
- Tỉ lệ thiếu máu thiếu sắt ở trẻ suy dinh
dưỡng nhẹ cân, thấp còi, gầy còm, phối hợp 2
thể suy dinh dưỡng, phối hợp 3 thể suy dinh
dưỡng lần lượt là 0%, 23,5%, 20,0%, 34,8%, và
33,3%. SDD nhẹ cân là 43 (chiếm 29,3%), thấp
còi là 105 (71,4%) và gầy còm là 77 (52,4%).
- Tỉ lệ thiếu máu, thiếu sắt, thiếu ferritin và
thiếu máu thiếu sắt
Bảng 3: Tỉ lệ thiếu máu, thiếu sắt, thiếu
ferritin và thiếu máu thiếu sắt
Theo nhóm yêu tố
Tần số
n=147
Tỉ lệ
(%)
Thiếu máu
Không
22
15,0
(Hb)
Có
125
85,0
Thiếu sắt
Không
108
73,5
Có
39
26,5
Thiếu ferritin
Không
131
89,1
Có
16
10,9
Thiếu máu
thiếu sắt
Không
108
73,5
Có
39
26,5
Nhận xét:
Trong số 147 trẻ 12 tháng đến 60
tháng suy dinh dưỡng có 125 trẻ thiếu máu,
chiếm 85,0%. Có 39 trẻ thiếu sắt chiếm 26,5%
và 16 trẻ thiếu ferritin chiếm 10,9%. Tỉ lệ trẻ
thiếu máu thiếu sắt là 26,5%.
- Tỉ lệ thiếu máu thiếu sắt theo tuổi
Bảng 4: Tỉ lệ TMTS theo tuổi (n=147)
Nhóm tuổi trẻ
Thiếu máu thiếu sắt
p
Có
%
Không
%
2 tuổi
27
69,2
73
67,6
0,526

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 488 - THÁNG 3 - SỐ 1 - 2020
167
3 tuổi
5
12,8
19
17,6
4 tuổi
7
18,0
13
12,0
5 tuổi
0
0
3
2,8
Nhận xét:
Tỉ lệ TMTS cao nhất ở trẻ 2 tuổi. Có sự khác biệt về tỉ lệ TMTS ở các lứa tuổi trẻ, tuy
nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.
2. Các yếu tố liên quan đến thiếu máu thiếu sắt ở trẻ 2-5 tuổi có suy dinh dưỡng:
Bảng 5: Các yếu tố liên quan TMTS
Yếu tố
n=147
%
2
p
Khu vực sống: Đồng bằng
12
12,4
29,333
<0,001
Miền núi hải đảo
27
54,0
Dân tộc: Kinh
18
16,8
19,014
<0,001
Đồng bào DTTS
21
52,5
Hành vi cho bú sau sinh: Ngay giờ đầu
10
16,7
5,061
0,024
Khác
29
33,3
Hành vi cho ăn dặm: Sau 6 tháng
21
19,8
8,803
0,003
Khác
18
43,6
Hành vi cho ăn hàng ngày: Đủ 4 nhóm TP
6
11,5
9,278
0,002
Không đủ
33
34,7
Uống thuốc xổ giun: Có
2
5,2
12,475
0,001
Không
37
34,3
Nhiễm khuân hô hấp cấp: Có
9
27,3
0,012
0,913
Không
30
36,3
Tiêu chảy cấp: Có
13
40,6
4,169
0,041
Không
26
22,6
Nhận xét:
Các yếu tố liên quan thiếu máu thiếu sắt là trẻ sống vùng núi, hải đảo, người dân tộc
thiểu số, trẻ được bú mẹ sau 1 giờ đầu sau sinh, trẻ được cho ăn dặm không đúng, ăn không đủ 4
nhóm thực phẩm, trẻ không được xổ giun định kì, trẻ tiêu chảy cấp trong vòng 2 tuần qua làm tăng
nguy cơ thiếu máu thiếu sắt.
IV. BÀN LUẬN
1. Tỉ lệ thiếu máu thiếu sắt ca trẻ 2-5
tuổi có suy dinh dưỡng đến khám tại Bệnh
viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ngãi
Nghiên cứu của chúng tôi có tình trạng SDD
các thể nhẹ cân, thấp còi và gầy còm lần lượt là
7,5% 23,1% và 20,4%, phối hợp 2 thể SDD là
44,9%, 3 thể SDD là 4,1% trong tổng số 147 trẻ
tham gia nghiên cứu. Tỉ lệ của chúng tôi tương
tự các nghiên cứu khác như của Nguyễn Anh
Vũ[8] là 7,6%, 29,4% và 3%, của Thorne và cộng
sự[6] là 3,7%, 21,8% và 9,4%. Trong nghiên cứu
của chúng tôi có thể SDD phối hợp cao là do
nghiên cứu chỉ thu thập số liệu trên các trẻ có
SDD đến khám và điều trị tại bệnh viện Sản Nhi
Quảng Ngãi, tất cả trẻ này mắc ít nhất một thể
SDD hoặc nhiều thể SDD phối hợp. Trong khi đó,
các nghiên cứu kể trên là các nghiên cứu trong
cộng đồng trẻ khỏe mạnh, tần suất SDD thấp hơn.
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra tỉ lệ thiếu
máu nói chung ở bệnh nhân suy dinh dưỡng là
85,0%, đây là một con số rất lớn. Kết quả này
tương tự nghiên cứu của Thorne và cộng sự [6]
với tỉ lệ thiếu máu ở trẻ SDD là 80,2%. Kết quả
này cao hơn nghiên cứu của Rin Keo và cộng
sự[3] tại Campuchia, nhóm tác giả này chỉ ra tỉ lệ
thiếu máu ở trẻ dưới 24 tháng tuổi là 59,0%. Sự
khác biệt này là do đối tượng nghiên cứu của các
tác giả này bao gồm cả trẻ có và không có suy
dinh dưỡng. Cũng trong nghiên cứu này, tỉ lệ suy
dinh dưỡng ở trẻ thiếu máu cao gấp 1,8 lần so
với trẻ không có thiếu máu.
Tỉ lệ TMTS của trẻ 12 tháng đến 60 tháng có
suy dinh dưỡng đến khám tại Bệnh viện Sản Nhi
là 26,5%. Kết quả này gần tương đương với một
số nghiên cứu trước đây. Tác giả Nguyễn Thị Thu
Hà[2] nghiên cứu trên 500 bệnh nhi đến khám
ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh
năm 2017 thấy có 19,8% trẻ bị TMTS.
2. Các yếu tố liên quan đến thiếu máu
thiếu sắt ở trẻ 2-5 tuổi có suy dinh dưỡng
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng tỉ lệ
TMTS ở trẻ em đồng bằng thấp hơn nhiều so với
trẻ em sống ở khu vực miền núi và hải đảo. Kết
quả này cũng phù hợp với nghiên cứu quốc gia
của Viện dinh dưỡng năm 2014 – 2015. Điều này
có thể giải thích vì trẻ em khu vực đồng bằng
được nuôi dưỡng tốt hơn do phát triển kinh tế xã
hội cao hơn so với trẻ em khu vực miền núi hải
đảo. Sống ở vùng đồng bằng còn giúp các bé
tiếp cận dễ dàng với các dịch vụ y tế ngay khi bé
bị các bệnh nhẹ, nhờ đó tránh bị bệnh nặng,

vietnam medical journal n01 - MARCH - 2020
168
bệnh kéo dài có thể gây biến chứng suy dinh
dưỡng và thiếu vi chất.
Tỉ lệ TMTS ở nhóm trẻ DTTS là 52,5%, cao
hơn có ý nghĩa so với nhóm trẻ người Kinh
16,84%. Kết quả này có thể là do đời sống kinh
tế xã hội đồng bào DTTS còn khó khăn, trình độ
dân trí không đồng đều; phong tục, tập quán lạc
hậu, đặc biệt là quan niệm về hôn nhân gia đình
như tình trạng tảo hôn, nguồn lực cho hoạt động
dinh dưỡng hạn hẹp; mức hỗ trợ cho cộng tác
viên dinh dưỡng thấp; đội ngũ cán bộ làm công
tác dinh dưỡng thiếu, chất lượng cán bộ hạn
chế, công tác truyền thông về dinh dưỡng cho
cộng đồng mới chỉ tập trung vào bà mẹ và trẻ
em, các đối tượng khác chưa được quan tâm.
Tỉ lệ trẻ được bú mẹ trong giờ đầu trong
nghiên cứu của chúng tôi là 40,8%. Kết quả này
thấp hơn nghiên cứu Nguyễn Anh Vũ[8] là 57,6%.
Điều này cho thấy tỉ lệ thực hành bú mẹ sớm của
các bà mẹ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi còn thấp.
Tỉ lệ trẻ TMTS trong nhóm trẻ được cho bú mẹ
ngay trong giờ đầu sau sinh là 16,84%, thấp hơn
có ý nghĩa so với nhóm còn lại 33,3%. Bú sữa mẹ
trong giờ đầu giúp trẻ nhận được sữa non, thức
ăn đầu tiên của sự sống, rất giàu các yếu tố bảo
vệ, giúp trẻ chống lại các bệnh lý tiêu chảy, nhiễm
trùng, tăng tỉ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6
tháng đầu. Tiếp xúc da kề da sớm giúp tăng khả
năng trẻ được bú mẹ sớm, và tăng tỉ lệ trẻ được
bú mẹ hoàn toàn trong 3–4 tháng đầu, tăng tình
cảm mẹ con, trẻ ít khóc hơn.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 21 trẻ
trong số 106 trẻ cho ăn dặm sau 6 tháng mắc
TMTS (chiếm 19,8%) và tỉ lệ này ở nhóm ăn
không đúng là 43,9%. Nguy cơ TMTS trong
nhóm ăn đầy đủ thấp hơn 32% so với nhóm ăn
không đúng và mối liên quan này có ý nghĩa
thống kê. Có 6 trẻ trong 52 trẻ được ăn đầy đủ 4
nhóm thực phẩm hàng ngày mắc TMTS (chiếm
11,5%) và tỉ lệ này ở nhóm ăn không đủ nhóm
là 34,7%. Nguy cơ TMTS trong nhóm ăn đầy đủ
thấp hơn 25% so với nhóm trẻ ăn không đủ
nhóm. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu
của Nguyễn Thị Thu Hà [2] khi nghiên cứu đặc
điểm lâm sàng, xét nghiệm thiếu máu thiếu sắt ở
trẻ em dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Đa Khoa tỉnh
Quảng Ninh năm 2017. Nghiên cứu của Đinh Kim
Điệp, Phạm Trung Kiên [1] về thiếu máu thiếu sắt
ở bệnh nhân dưới 5 tuổi tại khoa nhi bệnh viện
đa khoa Trung Ương Thái Nguyên cũng ghi nhận
những trẻ thiếu sữa mẹ, cho ăn bổ sung sớm
cũng dễ mắc thiếu máu thiếu sắt gấp từ 2,94
đến 6,03 lần những trẻ khác. Điều này được giải
thích là do trẻ từ 6 tháng tuổi cơ thể tiếp tục lớn
nhanh, nhu cầu sắt rất cao để đáp ứng sự phát
triển và tái lập dự trữ. Lượng sắt cần hấp thu để
đáp ứng nhu cầu cho trẻ hàng ngày (theo tổ
chức y tế thế giới) khoảng 1mg/ngày. Tuy nhiên,
khi trẻ được ăn dặm sớm dẫn đến thiếu nguồn
sữa mẹ, không đúng chất dinh dưỡng, thiếu thức
ăn nguồn động vật, ăn bột quá nhiều kéo dài, thiếu
dinh dưỡng lượng sắt cung cấp sẽ không đủ.
Chúng tôi ghi nhận nguy cơ TMTS trong
nhóm trẻ được xổ giun thấp hơn nhóm chưa
từng uống thuốc xổ giun là 11%. Nghiên cứu
của Trần Thị Lan[4] cũng cho thấy ở nhóm kết
hợp tẩy giun với bổ sung đa vi chất như kẽm,
sắt, vitamin A, C giảm tỉ lệ thiếu máu cao nhất
với 67,3%. Nhóm không tẩy giun, không bổ sung
đa vi chất chỉ giảm tỉ lệ thiếu máu với 27,2%.
Kết quả này cũng được giải thích là do khi bị
giun lưu hành trong cơ thể, chúng có thể gây
bệnh cho cơ thể theo 4 cơ chế tác động nhiễm
độc và dị ứng; tác động sinh học; tác động cơ
học và gây suy dinh dưỡng, đặc biệt đối với giun
móc sẽ bám vào niêm mạc ruột để hút máu gây
nên tổn thương bệnh học chủ yếu ở tá tràng và
hệ tạo máu dẫn đến thiếu máu thiếu sắt nhiều
hơn. WHO khuyến cáo tẩy giun cho trẻ từ 12
tháng. Bộ Y tế cũng đã có hướng dẫn bổ sung
vitamin A cho trẻ 6 – 60 tháng kết hợp với tẩy
giun cho trẻ 12 – 60 tháng.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tiêu chảy
cấp trong 2 tuần qua làm tăng nguy cơ TMTS,
trong khi NKHHC không làm tăng nguy cơ TMTS.
Một số nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa
tiêu chảy cấp và nhiễm khuẩn hô hấp cấp với
TMTS. Thiếu máu thiếu sắt gây đáp ứng miễn
dịch bất thường và làm tăng nguy cơ NKHHC,
viêm dạ dày ruột cấp ở trẻ. Bổ sung sắt ở những
trẻ này làm giảm nguy cơ NKHHC và viêm dạ
dày ruột cấp tái phát. Hepcidin là chất điều hòa
chính của quá trình chuyển hóa sắt, cung cấp
những hiểu biết mới về sinh lý bệnh học của
TMTS. Hepcidin điều chỉnh sự hấp thu sắt tá
tràng và phân phối sắt mô để đáp ứng với các
tín hiệu cạnh tranh liên quan đến tình trạng sắt
và nhiễm trùng/viêm. Hepcidin tăng trong đáp
ứng giai đoạn cấp tính, giúp hạn chế lượng sắt
cần thiết đối với các vi sinh vật gây bệnh và tăng
mạnh trong NKHHC và sốt. Tiêu chảy cấp không
làm tăng Hepcidin. Các quá trình viêm dù rất
nhỏ, đặc biệt trong NKHHC, làm tăng nồng độ
Hepcidin, góp phần gây ra TMTS ở trẻ em. Tuy
nhiên, cũng có nghiên cứu cho thấy không có sự
liên quan này[5].
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có
sự liên quan giữa các thể SDD và TMTS. Tuy

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 488 - THÁNG 3 - SỐ 1 - 2020
169
nhiên, nghiên cứu của Nicolai Petry và cộng sự[5]
cho thấy SDD thấp còi, nhẹ cân làm tăng nguy
cơ TMTS, trong khi gầy còm không có sự liên
quan. Trẻ thấp còi tăng 17% nguy cơ TMTS. Trẻ
SDD thiếu các vi chất và đại chất dinh dưỡng, do
đó làm tăng nguy cơ TMTS. Có sự khác biệt này
là do mẫu của chúng tôi nhỏ, thời gian nghiên
cứu ngắn, cần thực hiện thêm các nghiên cứu
với mẫu lớn hơn để xác định mối liên quan này.
V. KẾT LUẬN
Tỉ lệ thiếu máu ở trẻ suy dinh dưỡng cao, đặc
biệt là thiếu máu thiếu sắt. Cần tăng cường công
tác phòng chống SDD, TMTS, nâng cao kiến
thức, thực hành bữa ăn dinh dưỡng cho trẻ, tích
cực thực hiện xổ giun định kì mỗi 6 tháng, kịp
thời điều trị các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính
nhằm làm giảm tỉ lệ TMTS ở trẻ SDD.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Kim Điệp, Phạm Trung Kiên (2010),
Thiếu máu thiếu sắt ở bệnh nhân dưới 5 tuổi tại
khoa Nhi bệnh viện đa khoa Trung Ương Thái
Nguyên, Tạp chí Y học thực hành, 708, 5-8.
2. Nguyễn Thị Thu Hà (2017), Nhận xét đặc điểm
lâm sàng, xét nghiệm thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em
dưới 5 tuổi tại Bệnh viện ĐK tỉnh Quảng Ninh năm
2017.
3. Rin Keo, Phạm Duy Tướng, và cs (2005), Tình
trạng suy dinh dưỡng và thiếu máu dinh dưỡng ở
trẻ dưới 24 tháng tuỏi tại 4 xã quận DongKor,
Phnôm Pênh, Cam pu chia, Tạp chí nghiên cứu y
học, 36(3), 71-76.
4. Trần Thị Lan (2013), Hiệu quả của bổ sung đa vi
chất dinh dưỡng và tẩy giun ở trẻ em 12-36 tháng
tuổi suy dinh dưỡng thấp còi người dân tộc Vân
Kiều và Pakoh huyện Dakrông, tỉnh Quảng Trị,
Luận án Tiến sĩ Dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng
Quốc gia, Hà Nội.
5. Petry N., Jallow B., et al. (2019), Micronutrient
Deficiencies, Nutritional Status and the
Determinants of Anemia in Children 0-59 Months of
Age and Non-Pregnant Women of Reproductive
Age in The Gambia, Nutrients, 11(10).
6. Thorne C. J., Roberts L. M., et al. (2013),
Anaemia and malnutrition in children aged 0-59
months on the Bijagos Archipelago, Guinea-Bissau,
West Africa: a cross-sectional, population-based
study, Paediatr Int Child Health, 33(3), 151-60.
7. Viện dinh dưỡng (2019), Cách phân loại và
đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào Z-Score.
8. Nguyễn Anh Vũ (2017), Hiệu quả bổ sung thực
phẩm sẵn có đến tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi
trẻ 12–23 tháng tuổi huyện Tiên Lữ - tỉnh Hưng Yên,
Luận án Tiến sỹ Dinh Dưỡng, Viện Dinh Dưỡng.
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH Ở BỆNH NHÂN
NHỒI MÁU NÃO ĐƯỢC TÁI THÔNG TRONG 6 GIỜ ĐẦU
Nguyn Quang Ân*, Nguyn Huy Ngọc*, Nguyn Minh Hin**
TÓM TẮT43
Đặt vấn đề: Phát hiện triệu chứng lâm sàng, cận
lâm sàng và hình ảnh của ĐQ NMN sớm, xác định diễn
biến của bệnh rất quan trọng cho quyết định điều trị
bệnh, trong đó khoảng thời gian 6 giờ đầu vô cùng
quan trọng và có ý nghĩa sống còn đối với BN ĐQ
NMN cấp. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận
lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính của bệnh nhân
nhồi máu não đã tái thông trong 6 giờ đầu kể từ khi
khởi phát. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả
được thực hiện trên 114 BN đột quỵ TMN cấp tại
Trung tâm Đột quỵ Bệnh viện 108, từ tháng 06/2016
đến tháng 07/2017. Kết quả: Các triệu chứng thường
gặp là: Liệt nửa người 96,5%, rối loạn ngôn ngữ
97,4% và méo miệng 92,1%, là biểu hiện chính khiến
bệnh nhân phải nhập viện. Rối loạn ý thức từ lơ mơ
đến hôn mê chiếm 74,6%. Điểm NIHSS trung bình của
bệnh nhân là 16,89 7,14 điểm. Trên hình ảnh CLVT
*Bệnh viện đa khao tỉnh Phú thọ
**Bệnh viện quân đội 103
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Quang Ân
Email: Longdangtrang@gmail.com
Ngày nhận bài: 3.01.2020
Ngày phản biện khoa học: 21.2.2020
Ngày duyệt bài: 28.2.2020
gặp 54,8% bệnh nhân có giảm tỷ trọng dưới vỏ, tổn
thương mạch máu lớn chiếm 98,2%. Điểm ASPECT
trung bình 8,30 1,52. Hầu hết bệnh nhân có điểm
ASPECT > 6 điểm. Vị trí tắc mạch: Chủ yếu là động
mạch não giữa (53,5%) và động mạch cảnh trong
(35,1%). Đa phần bệnh nhân có điểm tuần hoàn bàng
hệ ở mức độ trung bình chiếm tỷ lệ 71,6%. Chỉ có
23,5% bệnh nhân có điểm tuần hoàn bàng hệ tốt.
Kết luận: Việc nắm vững đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng của bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não trong 6 giờ
đầu kể từ khi khởi phát sẽ giúp cứu sống và hy vọng
để lại ít di chứng nhất đang là mục tiêu hướng đến với
tỷ lệ bệnh nhân hồi phục cao nhất.
Từ khóa:
Lâm sàng, cận lâm sàng, đột quỵ, nhồi
máu não.
SUMMARY
CLINICAL AND CTScan OF PATIENTS
WITH HEMORRHAGIC STROKE WITHIN 6
FIRST HOURS
Background: Early determination of clinical
features and imagines of patiens with cerebral
infarction stroke as well as theirs development are
important for treatment’s decision, specially in the 6
first hours. These are means for patients with accute
occurrence of stroke. Objective: The aim of this
study is characterization of clinical and paraclinical

