
Sáng kiến kinh nghiệm
Phạm Thị Hồng. Trường THPT Lê Quý Đôn 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH QUẢNG NAM
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÊ QUÝ ĐÔN
--------------------------------- ** -------------------------------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
*****
TÊN ĐỀ TÀI
NGƯỜI THỰC HIỆN: PHẠM THỊ HỒNG
ĐƠN VỊ: TỔ NGỮ VĂN
NĂM HỌC 2010 – 2011

Sáng kiến kinh nghiệm
Phạm Thị Hồng. Trường THPT Lê Quý Đôn 2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong lịch sử nhà trường đã tồn tại sai lầm khá lâu là coi học sinh (HS) chủ
yếu như một khách thể, một đối tượng thụ động chịu tác động của giáo viên
(GV). Nhưng trước sự phát triển của xã hội, thời đại, của các khoa học liên
ngành và chuyên ngành, vai trò chủ thể và hoạt động tích cực sáng tạo của HS
trong quá trình dạy học đã được đặc biệt chú ý. Hiện nay, vấn đề phát triển chủ
thể HS đang bùng lên với một sức mạnh mới, trở thành xu thế phổ biến, thu hút
sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà phương pháp, nhà sư phạm học.
Đề cao vai trò chủ thể HS trong quá trình giảng dạy và học tập văn hoá nói
chung, văn học nói riêng chính là tìm một phương hướng cơ bản để nâng cao
hiệu quả dạy học. Phương hướng đó không những phù hợp với yêu cầu của thời
đại khoa học hiện nay mà còn là vấn đề quan điểm nhân văn và nhận thức khoa
học (xây dựng những con người mới tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tin vào
năng lực của mình). Chính từ luận điểm này, theo hướng dẫn của Chương trình
ngữ văn trung học phổ thông, Đọc - hiểu văn bản đang được xem là khâu trung
tâm của quá trình dạy học văn, và đổi mới phương pháp dạy học Đọc - hiểu văn
bản văn học là khâu trung tâm của đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà
trường.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
TS. Nguyễn Thị Thanh Hương cho rằng: “ Mối quan hệ giữa văn bản - bạn
đọc - học sinh thực chất là mối quan hệ giữa sự tác động của văn bản đến sự
tiếp nhận của bạn đọc”, từ đó xác định GV là “chủ thể tác động và định hướng
quá trình tiếp nhận những tác động thẩm mĩ của một văn bản văn học cho HS”.
“Hoạt động định hướng của GV, theo tác giả là hoạt động hai chiều: định hướng
dạy và định hướng học. Định hướng dạy để dẫn dắt, khêu gợi, định hướng
những rung động thẩm mĩ của HS nhằm giúp các em tiếp nhận các tác động cụ
thể của một văn bản văn học, uốn nắn những sự hiểu sai, hiểu lệch lạc, phát
triển và nâng cao năng lực tiếp nhận của HS. Định hướng học nhằm hoàn thành
tốt ba nhiệm vụ: giáo dục, giáo dưỡng, và phát triển”.
Như vậy, đọc một tác phẩm (TP) văn học, dù ở mức độ nào thì cuối cùng vẫn
phải đi đến mục đích chung là hiểu văn. Khái niệm “hiểu” ở đây không chỉ là
nhận ra kí hiệu và nghĩa của kí hiệu mà còn phán đoán ra ý muốn biểu đạt của
tác giả, tức là đồng cảm và nắm được những thông điệp nghệ thuật mà nhà văn
muốn nói, muốn gửi gắm tới người đọc. Có những lúc nhận ra nghĩa của kí hiệu
và hiểu ý muốn biểu đạt không khó, nhưng trong nhiều trường hợp, để hiểu
đúng văn thật không đơn giản chút nào.

Sáng kiến kinh nghiệm
Phạm Thị Hồng. Trường THPT Lê Quý Đôn 3
CƠ SỞ THỰC TIỄN
Đối với mỗi GV dạy văn, nếu có ý thức nghề nghiệp, sẽ thấy day dứt về tình
trạng dạy văn trong nhiều thập kỷ qua, đặc biệt là những năm gần đây. Thực
trạng HS không học văn, chất lượng môn văn ở trường phổ thông sút kém là bởi
nhiều nguyên nhân, trong đó không thể không nói đến phương pháp dạy học.
Một thực tế là lâu nay chúng ta vẫn quan niệm dạy văn là mô hình “dạy học lấy
thầy giáo làm trung tâm”. Giờ học văn chủ yếu là giờ thầy giảng, trò nghe, trò
ghi chép, học thuộc một cách thụ động. Theo đó, dạy văn là truyền đạt những
điều thầy hiểu về văn cho học trò, ít quan tâm hình thành kỹ năng đọc cho HS,
phát huy suy nghĩ của HS. Đã đến lúc ta phải đổi thay quan niệm dạy học văn,
đổi thay mô hình và phương pháp dạy học văn. Dạy văn hôm nay là dạy HS
Đọc - hiểu văn bản. HS là người chủ động kiến tạo kiến thức văn học trong giờ
học dưới sự tác động của thầy. GS. Trần Đình Sử qua bài viết “Đọc hiểu văn
bản - một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay” đã
nhấn mạnh: “…môn văn trong nhà trường là môn đọc văn. Dạy văn là dạy cho
HS năng lực đọc, kỹ năng đọc để HS có thể đọc - hiểu bất cứ văn bản nào cùng
loại”. Dạy đọc văn theo tác giả, “tức là dạy cho học sinh một hoạt động phải
làm việc với từng con chữ, với câu văn, với dấu phẩy, dấu chấm của văn bản để
hiểu đúng, hiểu sâu văn bản đó”. Đọc - hiểu văn bản là quá trình đối thoại giữa
học sinh, thầy giáo với văn bản. Đó là cuộc đối thoại vượt thời gian, vượt không
gian, vượt chênh lệch lứa tuổi để đến với cái thật, cái đẹp, cái thiện. Muốn dạy
học văn theo phương pháp mới cần phải xây dựng hệ thống kỹ năng đọc - hiểu
văn bản một cách khoa học. Công việc đó đòi hỏi vừa tìm tòi cái mới , vừa kế
thừa mọi yếu tố tích cực trong quá trình dạy học văn truyền thống. Đó là công
việc lâu dài và của đông đảo các nhà giáo dục, chứ không một cá nhân nào có
thể đảm đương được. Tuy vậy, sau hai năm thực hiện hướng dẫn của Chương
trình ngữ văn trung học phổ thông về việc đổi mới phương pháp dạy học văn,
tôi xin mạnh dạn đề xuất các thao tác cơ bản trong hoạt động Đọc - hiểu văn
bản của tiết học Đọc văn (một hoạt động trọng tâm của giờ học) để góp phần
nâng cao hiệu quả của việc dạy và học môn văn.

Sáng kiến kinh nghiệm
Phạm Thị Hồng. Trường THPT Lê Quý Đôn 4
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1/ Tổ chức học sinh tự đọc - hiểu ở nhà
- Tổ chức cho HS tự đọc - hiểu ở nhà là “tạo tiền đề cho việc cảm thụ ở trên lớp”,
góp phần hình thành những cảm xúc, ấn tượng của HS trong bước Đọc - hiểu văn
bản trên lớp ; tự đọc ở nhà là bước “ tập dượt cho sự cảm thụ trên lớp được sâu sắc
hơn”. Trong giờ lên lớp, trên cơ sở những ấn tượng, cảm xúc hình thành được
trong quá trình tự đọc ở nhà của HS, GV “khơi sâu phát triển những ấn tượng đúng
đắn và loại trừ đi những cảm xúc và suy nghĩ ban đầu còn chủ quan lệch lạc về TP,
về tác giả hay về một nhân vật, một chi tiết trong TP”.
- Hoạt động tự đọc ở nhà của HS bao gồm nhiều nội dung hết sức phong phú, đa
dạng đòi hỏi phải có sự định hướng của GV. Ngoài hệ thống câu hỏi đọc hiểu trong
SGK, GV cần phải xây dựng một hệ thống câu hỏi hướng dẫn việc tự đọc hiểu ở
nhà cho HS. Hệ thống câu hỏi này vừa khêu gợi hứng thú, say mê, thích thú, hấp
dẫn HS vừa phải hướng dẫn HS đi vào những vấn đề trung tâm, then chốt của TP,
vừa có tác dụng chuẩn bị cho hoạt động phân tích, khám phá TP của GV và HS
trên lớp.
Ví dụ (giáo án trích ngang): Ở bài học Tam đại con gà, ngoài những câu hỏi đọc
hiểu trong sách giáo khoa, GV hướng dẫn HS về nhà tìm hiểu bài học qua các câu
hỏi sau:
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung
Thầy giáo đặt các câu
hỏi:
- Khái niệm truyện cười.
- Những điều kiện tạo ra
tiếng cười trong truyện
cười là gì?
HS đào sâu suy nghĩ để
trả lời các câu hỏi trong
quá trình đọc hiểu ở
nhà, nhằm:
- Hiểu được đặc điểm
của văn bản Tam đại
con gà, hiểu được ý
nghĩa sâu xa của vấn
đề qua văn bản…
- Chuẩn bị tâm thế để
tiếp nhận bài ở lớp tốt
hơn.
- Truyện cười là những tác
phẩm tự sự dân gian ngắn, có
kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất
ngờ, kể về những sự việc xấu,
trái tự nhiên trong cuộc sống,
có tác dụng gây cười, nhằm
mục đích giải trí, phê phán.
- Cái đáng cười có thể là một
thói xấu (thói keo kiệt, thói
khoe của, dốt nát…), nhưng
chưa đủ, cần phải tạo ra hoàn
cảnh thích hợp để hiện tượng
mang sẵn cái đáng cười có
điều kiện tự bộc lộ và bị phát
hiện. Trong Tam đại con gà
đặt thầy đồ dốt vào hoàn cảnh:
chữ kê trong sách Tam thiên tự
(là sách dạy cho trẻ vỡ lòng)
mà cũng không biết, để đến

Sáng kiến kinh nghiệm
Phạm Thị Hồng. Trường THPT Lê Quý Đôn 5
- Phân loại truyện cười?
nỗi phải bịa đặt linh tinh.
- Dựa vào mục đích gây cười,
ý nghĩa giáo dục của truyện
cười, ta có thể chia truyện cười
dân gian Việt Nam ra làm hai
loại:
+ Truyện khôi hài: kể về
những cái đáng cười do những
sai lầm, hớ hênh, đãng trí hoặc
khuyết tật nào đó của con
người, chủ yếu nhằm mua vui,
giải trí.
+ Truyện trào phúng: kể về
thói hư tật xấu của con người,
ngược lại điểm đạo đức truyền
thống của nhân dân.
2/ Tổ chức HS đọc - hiểu trên lớp
Tổ chức Đọc - hiểu tác phẩm văn chương trên lớp nhằm giúp HS có thể cắt
nghĩa, lí giải ý nghĩa khách quan của tác phẩm, thâm nhập vào thế giới nghệ thuật,
nắm bắt được thông điệp thẩm mĩ trong tác phẩm. Đồng thời khơi gợi bộc lộ
những tiếp nhận chủ quan của cá nhân HS đối với vấn đề tác giả đặt ra trong tác
phẩm.
a) Đọc diễn cảm
Khi hướng dẫn HS nắm bắt giọng điệu và đọc diễn cảm, GV cần chú ý một số
yêu cầu sau:
- Đảm bảo độ chính xác trong việc nắm bắt giọng điệu và thể hiện bằng giọng đọc
tương ứng. Tránh tình trạng nắm không đúng giọng điệu của bài văn dẫn đến hiểu
không đúng thái độ, tình cảm, tư tưởng của nhà văn.
- Chú ý điều chỉnh, uốn nắn kịp thời những lỗi về ngữ âm, chính tả cho HS trong
quá trình HS đọc diễn cảm.
- Có thể sử dụng những phương tiện kĩ thuật cần thiết để hướng dẫn HS đọc diễn
cảm như: nghe nghệ sĩ ngâm thơ, đọc văn qua máy ghi âm…
b) Đọc - hiểu ngôn từ văn bản
So với việc đọc và tìm hiểu chú thích văn bản, việc đọc - hiểu ngôn từ văn bản có
yêu cầu cao hơn. Ở đây chúng ta không chỉ tìm hiểu nghĩa của từng từ riêng lẻ mà
phải hiểu được cách diễn đạt, nắm bắt mạch văn xuyên suốt văn bản, đặc biệt phải
phát hiện ra mạch ngầm văn bản để hiểu được những nét đặc sắc, khác thường, thú
vị trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ của tác giả.
Ví dụ (giáo án trích ngang): Bài học Chiến thắng Mtao-Mxây
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung

