
TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 14505:2025
ĐÔ THỊ VÀ CỘNG ĐỒNG BỀN VỮNG - CÁC CHỈ SỐ VỀ MÔI TRƯỜNG, XÃ HỘI VÀ QUẢN TRỊ
(ESG) CHO CÁC ĐÔ THỊ
Sustainable cities and communities - Environmental, social and governance (ESG) indicator
for cities
Lời nói đầu
TCVN 14505:2025 được xây dựng dựa trên cơ sở tham khảo ISO 37125:2024
TCVN 14505:2025 do Tiểu Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 268/SC 1 Cơ sở hạ tầng cộng
đồng thông minh biên soạn, Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo
lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ và công bố.
Lời giới thiệu
Trên quy mô toàn cầu, các nguyên tắc môi trường, xã hội và quản trị (ESG) là trọng tâm của các cuộc
thảo luận về lãnh đạo có trách nhiệm trong cả chính phủ và khu vực tư nhân. Các đô thị có thể tận
dụng những nguyên tắc này để thúc đẩy sự thịnh vượng bền vững và toàn diện hơn cho công dân
của mình, được định hướng bởi quản lý dựa trên dữ liệu nhằm đảm bảo quản trị hiệu quả trong tương
lai. Tuy nhiên, một điểm yếu nghiêm trọng đã được xác định trong lĩnh vực này: thiếu các tiêu chuẩn
và quy chuẩn về cách đo lường ESG bằng dữ liệu có thể so sánh, được điều hành bởi các tiêu chí
chuẩn hóa và một nền tảng đo lường đáng tin cậy. Việc thiếu tiêu chuẩn hóa này đã tạo ra sự hoài
nghi đối với các đánh giá ESG và các tổ chức đang tìm kiếm hướng dẫn mới về cách tốt nhất để đo
lường hiệu quả ESG.
Chính trong bối cảnh toàn cầu của một hệ sinh thái ESG đang phát triển mà các đô thị đang bắt đầu
hành động - hiểu được sự cần thiết phải tiêu chuẩn hóa các nguyên tắc ESG nhằm đảm bảo thành
công thiết yếu trong các chương trình, kế hoạch và dịch vụ đô thị. Để thành công trong việc áp dụng
các chương trình và chiến lược ESG, các nhà lãnh đạo đô thị cần được trang bị các tiêu chí chuẩn
hóa để xây dựng các nền tảng đo lường đáng tin cậy. Với dữ liệu chuẩn hóa ở cấp đô thị, các nhà
quản lý đô thị, quy hoạch viên, thị trưởng và các nhà lãnh đạo ngành sẽ có thể đánh giá và theo dõi
tiến trình trong hồ sơ ESG của đô thị. Một tập hợp con của các chỉ số hiệu suất chính (KPI) này cũng
có thể được áp dụng để đo lường kết quả ở cấp khu vực, quận, tỉnh, bang, quốc gia và các cấp địa lý
khác.
Trên toàn thế giới, các đô thị đã và đang sử dụng ISO 37120, TCVN ISO 37122 (ISO 37122) và TCVN
ISO 37123 (ISO 37123) để xây dựng các bộ dữ liệu chuẩn hóa nhằm hỗ trợ công việc cung cấp dịch
vụ cho cư dân, nâng cao chất lượng cuộc sống và xây dựng tương lai thông minh, kiên cường hơn
cho đô thị của họ. Những nhà lãnh đạo đô thị này nhận ra tầm quan trọng của dữ liệu chuẩn hóa để
hỗ trợ và xác nhận cam kết của họ đối với ESG. Hình 1 minh họa mối quan hệ giữa các tiêu chuẩn
ISO 37120, TCVN ISO 37122 (ISO 37122) và TCVN ISO 37123 (ISO 37123) dành cho các đô thị.
Hình 1 - Mối quan hệ giữa các tiêu chuẩn ISO 37120, TCVN ISO 37122 (ISO 37122) và TCVN
ISO 37123 (ISO 37123)
Mặc dù có tổng cộng 252 chỉ số hiệu suất chính (KPI) cùng với một tập hợp các chỉ số hồ sơ trong

các tiêu chuẩn ISO 37120, TCVN ISO 37122 (ISO 37122) và TCVN ISO 37123 (ISO 37123) dành cho
các đô thị có thể hỗ trợ việc đo lường ESG tại đô thị, vẫn tồn tại những khoảng trống trong các chỉ số
này. Tiêu chuẩn này được thiết kế nhằm khai thác cả một tập hợp con của các KPI trong ISO 37120,
TCVN ISO 37122 (ISO 37122) và TCVN ISO 37123 (ISO 37123) dành cho đô thị (xem Phụ lục A),
đồng thời bổ sung các KPI mới được xây dựng đầy đủ với định nghĩa và phương pháp đo lường để
lấp đầy những khoảng trống quan trọng, qua đó tạo nên một nền tảng đo lường ESG toàn diện cho
các đô thị.
Tiêu chuẩn này bao gồm một tập hợp cốt lõi các KPI hoàn toàn dạng số, giúp các nhà lãnh đạo đô thị
trên toàn thế giới định hướng các chương trình, kế hoạch và dịch vụ đô thị có thông tin và định hướng
ESG. Kết hợp với các tiêu chuẩn ISO 37120, TCVN ISO 37122 (ISO 37122) và TCVN ISO 37123
(ISO 37123), tiêu chuẩn này nhằm cung cấp một bộ chỉ số đầy đủ hơn để đánh giá và theo dõi tiến
trình hồ sơ ESG của đô thị.
Các đô thị với mọi quy mô, phù hợp với mục tiêu riêng của mình, có thể sử dụng hồ sơ ESG để thiết
lập các mốc chuẩn và cột mốc cho sự tăng trưởng và phát triển. Các đô thị, chính phủ và giới nghiên
cứu cũng có thể sử dụng hồ sơ ESG để so sánh giữa các đô thị. Tiêu chuẩn này là một công cụ linh
hoạt được thiết kế để hỗ trợ các đô thị trong việc đạt được mục tiêu ESG. Hơn nữa, các chỉ số cũng
là công cụ hữu ích cho các cấp chính quyền khác, bao gồm khu vực và chính quyền cấp cao hơn khi
xem xét các mục tiêu ESG.
Tiêu chuẩn này được xây dựng dựa trên nhận thức rằng các đô thị ngày càng đóng vai trò tuyến đầu
trong việc cung cấp các dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, bảo vệ môi
trường, cân nhắc đến công bằng và các nhu cầu xã hội, và ưu tiên trách nhiệm xã hội, dựa trên một
mô hình quản trị vững chắc và hệ thống pháp lý lâu dài. Tiêu chuẩn này sẽ cung cấp cho các nhà lãnh
đạo đô thị dữ liệu cần thiết để xây dựng các đô thị thịnh vượng, toàn diện và đáng sống, với chất
lượng cuộc sống cao cho cư dân hiện tại và trong tương lai.
ĐÔ THỊ VÀ CỘNG ĐỒNG BỀN VỮNG - CÁC CHỈ SỐ VỀ MÔI TRƯỜNG, XÃ HỘI VÀ QUẢN TRỊ
(ESG) CHO CÁC ĐÔ THỊ
Sustainable cities and communities - Environmental, social and governance (ESG) indicator
for cities
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định, thiết lập các định nghĩa và phương pháp luận đối với bộ chỉ số nhằm cung
cấp thông tin về hồ sơ môi trường, xã hội và quản trị (ESG) cho các đô thị.
2 Tài liệu viện dẫn
Tiêu chuẩn này không có tài liệu viện dẫn
3 Thuật ngữ và định nghĩa
Tiêu chuẩn này áp dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau đây.
3.1
Đô thị (city)
Chính quyền địa phương
Cộng đồng thành thị và nông thôn nằm trong ranh giới hành chính cụ thể
3.2
Dân số đô thị (city population)
Số lượng cư dân sống trong đô thị thường được xác định bằng điều tra dân số sau 5 hoặc 10 năm
CHÚ THÍCH: Dân số đô thị được xác định bởi điều tra dân số không bao gồm dân tạm cư mà bao
gồm cư dân vắng mặt tạm thời.
3.3
Cộng đồng (community)
Nhóm người có sự bố trí về trách nhiệm, hoạt động và mối quan hệ
CHÚ THÍCH 1 Trong nhiều ngữ cảnh, cộng đồng đều có một ranh giới địa lý xác định.
CHÚ THÍCH 2 Đô thị là một kiểu cộng đồng.
3.4
Thảm họa (disaster)
Sự gián đoạn nghiêm trọng đối với một đô thị hoặc cộng đồng do các sự kiện nguy hiểm tương tác

với các điều kiện phơi nhiễm, tính dễ bị tổn thương và khả năng ứng phó, dẫn đến thiệt hại và tác
động về con người, vật chất, kinh tế và/hoặc môi trường
CHÚ THÍCH 1 Các thảm họa có thể xảy ra thường xuyên hoặc không thường xuyên, tùy thuộc vào
xác suất xuất hiện và chu kỳ lặp lại của mối nguy có liên quan.
3.5
Nước uống (drinking water)
Nước dùng để tiêu thụ cho con người
CHÚ THÍCH 1 Thuật ngữ "nước uống được" được sử dụng thay cho "nước uống" trong ISO 37120 vì
tiêu chuẩn này được công bố trước ISO 24513. Cả hai thuật ngữ có thể được sử dụng thay thế cho
nhau, nhưng "nước uống được" bị coi là không còn được khuyến khích sử dụng theo ISO 24513.
[NGUỒN: ISO 24513:2019, 3.2.2.1, chỉnh sửa - Chú thích 1 trong điều đã được thay thế.]
3.6
Ghi danh toàn thời gian (full-time enrolment)
Ghi danh vào một chương trình giáo dục có khối lượng học tập dự kiến chiếm ít nhất 75% khối lượng
học tập toàn thời gian hằng năm thông thường
3.7
Giga Jun (gigajoule)
Thước đo năng lượng tương đương 1 tỉ Jun (J) trong đó 1J là lượng năng lượng cần thiết để truyền
dòng điện một Ampe qua điện trở một ôm trong một giây
CHÚ THÍCH 1 Một giga jun (GJ) tương đương với 277,8 ki-lô-oat/ giờ (kWh).
3.8
Mối nguy (hazard)
Hiện tượng, hoạt động của con người hoặc quá trình mà có thể gây thiệt hại về người, bị thương
hoặc các tác động về y tế khác, hư hại tài sản, ngừng trệ trong xã hội và kinh tế hoặc xuống cấp về
môi trường.
CHÚ THÍCH 1 Các mối nguy bao gồm các quá trình và hiện tượng sinh học, môi trường, địa chất,
thủy văn-khí tượng và công nghệ. Mối nguy sinh học bao gồm các vi sinh vật gây bệnh, độc tố và các
chất có hoạt tính sinh học (ví dụ: vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, động vật hoang dã và côn trùng có
độc, thực vật có độc, muỗi mang mầm bệnh). Mối nguy môi trường có thể là hóa học, tự nhiên, phóng
xạ hoặc sinh học, và được tạo ra do suy thoái môi trường, ô nhiễm vật lý hoặc hóa học trong không
khí, nước và đất. Tuy nhiên, nhiều quá trình và hiện tượng thuộc nhóm này có thể là “tác nhân thúc
đẩy” mối nguy và rủi ro chứ không phải mối nguy trực tiếp (ví dụ: suy thoái đất, phá rừng, mất đa dạng
sinh học, mực nước biển dâng). Liên quan đến nước uống, “mối nguy” có thể được hiểu là tác nhân vi
sinh, hóa học, vật lý hoặc phóng xạ gây hại cho sức khỏe con người. Mối nguy địa chất hoặc địa vật lý
bắt nguồn từ các quá trình nội sinh của Trái Đất (ví dụ: động đất, núi lửa phun trào, sạt lở đất, trượt
đá, lũ bùn). Mối nguy thủy văn-khí tượng có nguồn gốc từ khí quyển, thủy văn hoặc hải dương học (ví
dụ: lốc xoáy, bão, cuồng phong, lũ lụt, hạn hán, sóng nhiệt, đợt rét, triều cường ven biển). Điều kiện
thủy văn-khí tượng cũng có thể là yếu tố góp phần gây ra các mối nguy khác như sạt lở, cháy rừng và
dịch bệnh. Mối nguy công nghệ bắt nguồn từ điều kiện công nghiệp hoặc công nghệ, các quy trình
nguy hiểm, sự cố cơ sở hạ tầng hoặc các hoạt động cụ thể của con người (ví dụ: ô nhiễm công
nghiệp, phóng xạ hạt nhân, chất thải độc hại, vỡ đập, tai nạn giao thông, nổ nhà máy, hỏa hoạn, tràn
hóa chất).
3.9
Bản đồ mối nguy (hazard map)
Bản đồ được xây dựng để làm rõ các khu vực bị ảnh hưởng hoặc dễ bị tổn thương bởi một mối nguy
cụ thể (ví dụ: động đất, sạt lở đất, đá)
3.10
Chất thải nguy hại (hazardous waste)
Chất thải có khả năng gây hại tới con người, tài sản hoặc môi trường.
[Nguồn: ISO 18113-1:2022, 3.1.27, đã sửa đổi - Các ví dụ và chú thích bị xóa]
3.11
Mối nguy rủi ro cao (high-risk hazard)
Mối nguy có khả năng xảy ra sự kiện cực đoan dựa trên các bản đồ mối nguy do đô thị tạo ra, có thể
ảnh hưởng đáng kể đến nhiều tài sản trong đô thị hoặc gây tác động lớn đến đô thị, hoặc cả hai

3.12
Chỉ số (indicator)
Đo lường định lượng, định tính hoặc mô tả.
[Nguồn: ISO 15392:2019, 3.18]
3.13
Lực lượng lao động (labour force)
Tất cả những người có khả năng làm việc trong một khu vực địa lý cụ thể.
CHÚ THÍCH 1 Thông thường, đối tượng này bao gồm tất cả người lớn trong độ tuổi lao động từ 15
đến 61 tuổi 3 tháng ở nam và từ 15 đến đủ 56 tuổi 8 tháng ở nữ, nhưng độ tuổi cụ thể sẽ khác nhau
tùy theo quốc gia.
3.14
Thiên tai (natural hazard)
Hiện tượng địa chất hoặc khí tượng có thể gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng vật chất hoặc thiệt hại về
người tại các đô thị
3.15
Giáo dục tiểu học (primary education)
Giai đoạn giáo dục này được coi là giai đoạn đầu tiên của giáo dục cơ bản.
CHÚ THÍCH Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp 1 đến lớp 5. Tuổi của học
sinh vào học lớp 1 là sáu tuổi. Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để
học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.
3.16
Tòa nhà công cộng (public building)
Tòa nhà thuộc sở hữu của chính phủ hoặc do chính phủ thuê có chức năng như một văn phòng đô thị
và hành chính, thư viện, trung tâm sinh hoạt cộng đồng, bệnh viện, trường học, trạm cứu hỏa hoặc
đồn cảnh sát.
CHÚ THÍCH Quyền sở hữu các tòa nhà (công cộng hoặc tư nhân) được xác định khác nhau theo khu
vực và thể chế chính trị. Hạn chế của định nghĩa này được sử dụng ở đây cho phép so sánh toàn cầu
giữa các đô thị.
3.17
Khả năng phục hồi (resilience)
Khả năng thích ứng của một tổ chức trong môi trường phức tạp và thay đổi
CHÚ THÍCH 1 Ủy Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) định nghĩa khả năng chống chịu là
“khả năng của một hệ thống và các bộ phận cấu thành của nó trong việc dự đoán, hấp thụ, thích nghi
hoặc phục hồi sau tác động của một sự kiện nguy hiểm một cách kịp thời và hiệu quả, bao gồm cả
việc đảm bảo duy trì, khôi phục hoặc cải thiện các cấu trúc và chức năng cơ bản.”
CHÚ THÍCH 2 Khả năng phục hồi là khả năng của một tổ chức trong việc chống chịu trước tác động
của một sự kiện hoặc khả năng quay trở lại mức hiệu suất chấp nhận được trong một khoảng thời
gian chấp nhận được sau khi bị ảnh hưởng bởi sự kiện đó.
[NGUỒN: TCVN 9788:2013 (ISO Guide 73:2009), điều 3.8.1.7, đã sửa đổi - các chú thích 1 và 2 được
bổ sung]
3.18
Đô thị có khả năng phục hồi (resilient city)
Đô thị có khả năng chuẩn bị, khôi phục và thích ứng với các chấn động và áp lực.
CHÚ THÍCH 1 Một đô thị có khả năng phục hồi có thể chống đỡ, hấp thụ, thích nghi, chuyển đổi và
phục hồi sau tác động của thiên tai và cú sốc một cách kịp thời và hiệu quả, bao gồm cả việc bảo tồn
và khôi phục các cấu trúc và dịch vụ cơ bản thiết yếu một cách bền vững, cũng như thông qua các
thực hành quản lý rủi ro. Đô thị đó huy động các bên liên quan, đặc biệt là người dân, tham gia vào
công tác giảm thiểu rủi ro thiên tai thông qua các quá trình đồng sáng tạo; giảm mức độ dễ bị tổn
thương và phơi nhiễm trước thiên tai và thảm họa do con người gây ra; đồng thời tăng cường năng
lực ứng phó với thiên tai, chấn động và các căng thẳng kéo dài không lường trước được thông qua
việc nâng cao khả năng sẵn sàng ứng phó.
CHÚ THÍCH 2 Một đô thị có khả năng phục hồi vẫn có thể phát triển bất chấp các mối nguy, chấn

động và áp lực mà nó phải đối mặt. Đô thị này tập trung vào việc rút ra bài học, cải tiến liên tục và xây
dựng tốt hơn sau thảm họa.
3.19
Rủi ro (risk)
Sự tác động của tình trạng bất định lên các mục tiêu
CHÚ THÍCH 1 Sự tác động là một sự sai lệch với mong đợi - tiêu cực hoặc tích cực
CHÚ THÍCH 2 Tình trạng không rõ ràng là trạng thái thiếu hụt thông tin liên quan đến việc am hiểu
hoặc kiến thức về một sự việc, kết quả hoặc khả năng xảy ra
CHÚ THÍCH 3 Rủi ro thường được miêu tả bằng cách tham chiếu tới “các sự việc” tiềm năng (như đã
nêu trong TCVN 9788:2013 (ISO Guide 73:2009), điều 3.5.1.3) và “các kết quả" (như đã nêu trong
TCVN 9788:2013 (ISO Guide 73:2009), điều 3.6.1.3)
CHÚ THÍCH 4 Rủi ro thường được thể hiện dưới dạng kết hợp các kết quả của sự việc (bao gồm các
thay đổi theo hoàn cảnh) và “khả năng xảy ra” (như đã nêu trong TCVN 9788:2013 (ISO Guide
73:2009), điều 3.6.1.1) của sự kiện.
[NGUỒN: TCVN ISO 37100:2020 (ISO 37100:2016), điều 3.4.12]
3.20
Giáo dục trung học (secondary education)
Giai đoạn giáo dục này được coi là giai đoạn thứ hai của giáo dục cơ bản và đánh dấu sự chấm dứt
của giáo dục bắt buộc tại địa điểm áp dụng. Giáo dục trung học gồm 2 giai đoạn:
- Giáo dục trung học cơ sở: từ lớp 6 đến lớp 9;
- Giáo dục trung học phổ thông: từ lớp 10 đến lớp 12.
3.21
Chấn động (Shock)
Các sự kiện tự nhiên hoặc do con người gây ra dẫn đến các thảm họa.
VÍ DỤ lũ lụt, động đất, núi lửa phun, bão lũ, cháy rừng, bệnh dịch, rò rỉ hoặc nổ hóa chất, khủng bố,
mất điện, khủng hoảng tài chính, tấn công mạng và xung đột.
3.22
Áp lực (Stresse)
Áp lực hoặc căng thẳng tiềm ẩn từ con người và thiên nhiên gây ra những tác động tiêu cực kéo dài
trong đô thị liên quan đến suy thoái môi trường (ví dụ: chất lượng không khí và nước không phù hợp
theo QCVN), bất bình đẳng xã hội (ví dụ: nghèo đói kéo dài và thiếu hụt nhà ở) và bất ổn kinh tế (ví
dụ: lạm phát nhanh và thất nghiệp kéo dài).
3.23
Chất thải rắn (solid waste)
Vật liệu rắn không tan, bị loại bỏ, bao gồm: bùn thải, rác thải đô thị, chất thải công nghiệp, phế thải
nông nghiệp, chất thải từ xây dựng và tồn dư từ khai thác mỏ.
3.24
Giáo dục sau phổ thông (tertiary education)
Giáo dục sau phổ thông đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.
3.25
Tính dễ bị tổn thương (vulnerability)
Khả năng dễ bị ảnh hưởng của các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, tài sản hoặc hệ thống trong
đô thị đối với các tác động của các mối nguy, được xác định bởi các yếu tố, quá trình và điều kiện vật
chất, xã hội, kinh tế và môi trường.
4 Báo cáo ESG cho các đô thị - Yêu cầu chung
Các đô thị trên khắp thế giới đang dần trở thành trung tâm của tăng trưởng kinh tế và đổi mới, đóng
vai trò then chốt đối với nền kinh tế toàn cầu, là nơi có dân cư đa dạng và là nền tảng quan trọng để
thúc đẩy quỹ đạo phát triển bền vững hơn, tất cả đều đòi hỏi các khung quản trị vững mạnh.
Các yếu tố ESG đang trở nên quan trọng trên toàn thế giới. Các tập đoàn ờ mọi quy mô đang dần
được đánh giá cao về tác động và hiệu suất đối với các yếu tố ESG. Tuy nhiên, các khuôn khổ hiện
có để đo lường hiệu suất ESG rất đa dạng nên chưa được được chuẩn hóa trên toàn cầu. Trong

