TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN ISO 56001:2025
ISO 56001:2024
HỆ THỐNG QUẢN LÝ ĐỔI MỚI — CÁC YÊU CẦU
Innovation management system - Requirements
Lời nói đầu
TCVN ISO 56001:2025 hoàn toàn tương đương với ISO 56001:2024;
TCVN ISO 56001:2025 do Ban kỹ thuật Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN/TC 279 Quản lý đổi mới biên soạn,
Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm
định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Lời giới thiệu
0.1 Khái quát
Năng lực đổi mới của tổ chức được thừa nhận là yếu tố quan trọng cho sự tồn tại, khả năng cạnh tranh,
khả năng thích ứng và đổi mới của tổ chức, cũng như đối với sự phát triển bền vững của xã hội.
Việc áp dụng hệ thống quản lý đổi mới của một tổ chức nhằm mục đích cải tiến kết quả thực hiện đổi mới
và khả năng thích ứng với những thay đổi. Một cách tiếp cận hệ thống có thể làm giảm mức độ không
chắc chắn và tăng tính khả thi để đạt được kết quả mong muốn của các sáng kiến đổi mới. Lợi ích của
việc triển khai hệ thống quản lý đổi mới có thể là:
- tăng cường hiện thực hóa giá trị từ các sản phẩm, dịch vụ, quá trình, mô hình, phương pháp mới, v.v.
cho tổ chức và các bên quan tâm;
- nâng cao kết quả thực hiện đổi mới thông qua việc quản lý có hệ thống các hoạt động đổi mới trong điều
kiện không chắc chắn;
- xây dựng bền vững năng lực đổi mới;
- nâng cao danh tiếng để thu hút người dùng, khách hàng, nhân viên và đối tác;
- nâng cao khả năng cộng tác (ví dụ: trong chuỗi giá trị hoặc hệ sinh thái đổi mới);
- cải thiện khả năng thu hút tài trợ;
- tăng cường khả năng thích ứng và khả năng phát triển trong môi trường năng động và không chắc
chắn.
Tiêu chuẩn này đưa ra ngôn ngữ và khuôn khổ chung cho các tổ chức để thiết lập và triển khai hệ thống
quản lý đổi mới. Tiêu chuẩn này cũng có thể được sử dụng bởi:
a) các tổ chức hợp tác tìm kiếm khuôn khổ chung để cùng nhau đổi mới;
b) các tổ chức tìm kiếm sự tin tưởng vào khả năng đổi mới của các đối tác, nhà cung cấp hoặc các bên
quan tâm hiện tại và tiềm năng khác;
c) các nhà tài trợ và nhà đầu tư tìm kiếm sự tin tưởng vào khả năng đổi mới của đơn vị xin tài trợ hoặc tổ
chức đối tác;
d) các nhà hoạch định chính sách và cơ quan chính phủ nhằm mục đích thúc đẩy các hoạt động đổi mới
ở cấp địa phương, khu vực và quốc gia. Các yêu cầu trong tiêu chuẩn này không phải lúc nào cũng là cơ
sở hiệu quả để đánh giá các tổ chức mới thành lập.
0.2 Nguyên tắc quản lý đổi mới
Tiêu chuẩn này đề cập đến tám nguyên tắc quản lý đổi mới được mô tả trong TCVN ISO 56000, là nền
tảng của hệ thống quản lý đổi mới. Các nguyên tắc như sau:
- Hiện thực hóa giá trị: Giá trị, tài chính hoặc phi tài chính, được hiện thực hóa từ việc triển khai, áp dụng
và tác động của các giải pháp mới hoặc đã thay đổi đối với các bên quan tâm;
- Lãnh đạo hướng tới tương lai: Các nhà lãnh đạo ở mọi cấp độ, được thúc đẩy bởi sự tò mò và lòng
dũng cảm, thách thức hiện trạng bằng cách xây dựng tầm nhìn và mục đích truyền cảm hứng, và liên tục
thu hút mọi người để đạt được các mục tiêu đó;
- Định hướng chiến lược: Định hướng cho các hoạt động đổi mới dựa trên các mục tiêu được thống nhất
và chia sẻ và mức độ tham vọng có liên quan, được hỗ trợ bởi những người cần thiết và các nguồn lực
khác;
- Văn hóa: Các giá trị, niềm tin và hành vi được chia sẻ, hỗ trợ cởi mở với sự thay đổi, chấp nhận rủi ro và
hợp tác, cho phép sự sáng tạo và thực hiện hiệu quả cùng tồn tại;
Khai thác hiểu biết sâu sắc: Một loạt các nguồn nội bộ và bên ngoài đa dạng được sử dụng để xây dựng
hiểu biết sâu sắc một cách có hệ thống và khai thác các nhu cầu đã tuyên bố và chưa tuyên bố.
- Quản lý sự không chắc chắn: Sự không chắc chắn và rủi ro được đánh giá, tận dụng và sau đó được
quản lý, bằng cách học hỏi từ quá trình thử nghiệm có hệ thống và các quá trình lặp đi lặp lại, trong danh
mục các cơ hội.
- Khả năng thích ứng: Những thay đổi trong bối cảnh của tổ chức được giải quyết bằng cách điều chỉnh
kịp thời các cấu trúc, quá trình, năng lực và mô hình hiện thực hóa giá trị để tối đa hóa khả năng đổi mới.
- Cách tiếp cận hệ thống: Quản lý đổi mới dựa trên cách tiếp cận hệ thống với các yếu tố có liên quan và
tương tác với nhau cũng như đánh giá kết quả hoạt động và cải tiến thường xuyên của hệ thống.
0.3 Hệ thống quản lý đổi mới
0.3.1 Khái quát
Hệ thống quản lý đổi mới là một tập hợp các yếu tố có mối quan hệ và tương tác với mục đích hiện thực
hóa giá trị, cả về mặt tài chính và phi tài chính.
Giá trị được hiện thực hóa thông qua các quá trình đổi mới có hệ thống và lặp đi lặp lại để xác định các
cơ hội, tạo ra và xác thực các khái niệm, đồng thời phát triển và triển khai các giải pháp cho người dùng,
khách hàng và các bên quan tâm khác. Ví dụ, các cơ hội có thể dựa trên các nhu cầu hiện tại hoặc tương
lai, đã tuyên bố hoặc chưa tuyên bố. Hệ thống có thể được áp dụng để khám phá và khai thác cả các cơ
hội mới và hiện có.
Các yếu tố của hệ thống quản lý được mô tả theo các điều chính của tiêu chuẩn này: bối cảnh của tổ
chức (xem Điều 4), sự lãnh đạo (xem Điều 5), hoạch định (xem Điều 6), hỗ trợ (xem Điều 7), thực hiện
(xem Điều 3), đánh giá kết quả thực hiện (xem Điều 9) và cải tiến (xem Điều 10), xem Hình 1.
Các yếu tố của hệ thống quản lý có thể được áp dụng dần dần để triển khai hệ thống theo bối cảnh và
mức độ trưởng thành của tổ chức.
Cuối cùng, việc triển khai hiệu quả hệ thống quản lý đổi mới phụ thuộc vào sự lãnh đạo và cam kết của
lãnh đạo cao nhất và các lãnh đạo các cấp trong tổ chức.
Hệ thống quản lý đổi mới được dựa trên khái niệm Hoạch định-Thực hiện-Kiểm tra-Hành động (PDCA).
Mô hình PDCA cung cấp một quá trình lặp đi lặp lại để tổ chức đạt được sự cải tiến liên tục của hệ thống.
Các điều của tiêu chuẩn này được nhóm lại theo chu trình PDCA như sau: Hoạch định (xem Điều 6),
Thực hiện (xem Điều 7 và 8), Kiểm tra (xem Điều 9) và Hành động (xem Điều 10).
Hình 1 - Hệ thống quản lý đổi mới với các điều được tham chiếu trong tiêu chuẩn này
0.3.2 Quản lý sự không chắc chắn và rủi ro
Các sáng kiến đổi mới bao gồm nhiều mức độ biến động và không chắc chắn khác nhau. Sự không chắc
chắn có thể liên quan đến, ví dụ, sự chấp nhận của người dùng, tính khả thi về kỹ thuật, hạn chế trong
sản xuất, các điều kiện pháp lý, tiềm năng thị trường và hạn chế của tổ chức.
Các quá trình đổi mới được đặc trưng bởi thực nghiệm và học hỏi. Theo sự tiến triển của quá trình này,
kiến thức mới và hiểu biết sâu sắc sẽ được thu nhận và giảm sự không chắc chắn. Các quá trình đổi mới
là linh hoạt và có thể thích ứng với loại hình đổi mới mà tổ chức mong muốn đạt được.
Các sáng kiến đổi mới đòi hỏi chấp nhận rủi ro và không phải tất cả đều mang lại sự đổi mới. Tuy nhiên,
các sáng kiến không được thực hiện tiếp là một phần gắn liền với quá trình đổi mới và là nguồn học hỏi
làm thông tin đầu vào cho các hoạt động đổi mới trong tương lai.
Mức rủi ro có thể chấp nhận phụ thuộc vào tham vọng đổi mới, năng lực của tổ chức và loại hình đổi mới
được tổ chức hướng đến. Việc quản lý sự không chắc chắn và rủi ro có thể được giải quyết theo các
cách tiếp cận khác nhau (ví dụ các quá trình lặp lại, thực nghiệm một cách hệ thống, hợp tác, đa dạng
hóa danh mục đổi mới). Bằng cách áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, sự phụ thuộc lẫn nhau và sự
không chắc chắn có thể được hiểu rõ hơn, đo lường và quản lý tốt hơn. Các tổ chức cũng có thể giải
quyết sự cân bằng giữa việc theo đuổi các cơ hội và những rủi ro liên quan, bao gồm rủi ro khi đổi mới so
với rủi ro khi không đổi mới.
0.3.3 Cấp quản lý
Hệ thống quản lý đổi mới vận hành ở các cấp chiến lược, chiến thuật và tác nghiệp. Mối quan hệ giữa
các cấp độ khác nhau (xem Hình 2) có thể được mô tả như sau:
- Ý đồ đổi mới (xem Điều 4) ở cấp độ chiến lược giúp xác định phạm vi của hệ thống quản lý đổi mới và
tạo cơ sở cho việc thiết lập chiến lược đổi mới.
- Phạm vi (xem Điều 4) xác định ranh giới và khả năng áp dụng của hệ thống quản lý đổi mới.
- Chính sách đổi mới (xem Điều 5) cung cấp khuôn khổ để thiết lập chiến lược và mục tiêu đổi mới. Chính
sách đổi mới có thể bổ sung cho các chính sách hệ thống quản lý khác trong tổ chức.
- Chiến lược đổi mới (xem Điều 5), bao gồm các mục tiêu đổi mới chiến lược, dựa trên mục đích đổi mới,
phù hợp với chính sách đổi mới và cung cấp khuôn khổ để thiết lập các mục tiêu đổi mới mang tính chiến
thuật và thiết lập danh mục đổi mới.
- Các mục tiêu đổi mới (xem Điều 6) ở cấp độ chiến thuật phải nhất quán với chính sách và chiến lược đổi
mới.
- Danh mục đổi mới (xem Điều 6) phù hợp với chiến lược và mục tiêu đổi mới và bao gồm một tập hợp
các sáng kiến đổi mới.
- Các sáng kiến đổi mới (xem Điều 8) được thiết lập ở cấp độ hoạt động.
- Các quá trình đổi mới (xem Điều 8) cũng được thiết lập ở cấp độ hoạt động để theo đuổi các sáng kiến
đổi mới. Chúng linh hoạt và có thể thích ứng với từng sáng kiến riêng lẻ.
0.4 Mối quan hệ với các tiêu chuẩn hệ thống quản lý khác
Các tiêu chuẩn về hệ thống quản lý (MSS) có thể bổ sung cho nhau nhưng cũng có thể được sử dụng
độc lập. Tiêu chuẩn này có thể được áp dụng cùng với tiêu chuẩn về hệ thống quản lý khác, giúp tổ chức
cân bằng giữa việc khai thác các dịch vụ và hoạt động hiện có với việc khám phá và giới thiệu các dịch v
và cách thức làm việc mới.
Tiêu chuẩn này áp dụng Chỉ thị ISO/IEC, Phần 1, Phụ lục SL, Phụ lục 2, cấu trúc hài hòa đối với tiêu
chuẩn về hệ thống quản lý. cấu trúc hài hòa cung cấp số điều, tiêu đề điều, nội dung, các thuật ngữ chung
và định nghĩa cốt lõi đồng nhất để sử dụng trong tất cả MSS trong danh mục ISO. Cấu trúc này cho phép
một tổ chức liên kết hoặc tích hợp hệ thống quản lý đổi mới của mình với các yêu cầu của MSS khác.
Các tiêu chuẩn khác về quản lý đổi mới do ISO/TC 279 xây dựng cung cấp hỗ trợ và hướng dẫn bổ sung
cho các tổ chức. Tóm tắt các tiêu chuẩn này được mô tả trong Phụ lục A.
0.5 Nội dung của tiêu chuẩn này
Tiêu chuẩn này bao gồm các yêu cầu được sử dụng để đánh giá sự phù hợp. Sự phù hợp với tiêu chuẩn
này chỉ có thể được tuyên bố khi tất cả các yêu cầu của tiêu chuẩn được tổ chức thực hiện và hoàn
thành.
Tổ chức không cần phải cấu trúc hệ thống quản lý đổi mới hoặc thông tin dạng văn bản của mình phù
hợp với cấu trúc điều của tiêu chuẩn này.
Trong tiêu chuẩn này từ:
- “phải” chỉ một yêu cầu;
- “xem xét” thể hiện sự cân nhắc hành động có thể thực hiện trước khi đưa ra quyết định;
- “có thể” chỉ khả năng.
“CHÚ THÍCH" cung cấp thông tin để hiểu hoặc làm rõ yêu cầu liên quan.
Hình 2 - Thể hiện các cấp quản lý và mối quan hệ với các tham chiếu đến các điều trong tiêu
chuẩn này
HỆ THỐNG QUẢN LÝ ĐỔI MỚI — CÁC YÊU CẦU
Innovation management system - Requirements
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu đối với hệ thống quản lý đổi mới mà tổ chức có thể sử dụng để phát
triển và chứng tỏ năng lực đổi mới, nâng cao hiệu quả đổi mới và hiện thực hóa giá trị cho người dùng,
khách hàng và các bên quan tâm khác. Các yêu cầu trong tiêu chuẩn này mang tính khái quát.
Tiêu chuẩn này áp dụng cho mọi tổ chức, không phân biệt loại hình hay quy mô, sản phẩm và dịch vụ
cung cấp, hoặc các loại đổi mới và cách tiếp cận đổi mới được áp dụng.
2 Tài liệu viện dẫn
Các tài liệu viện dẫn dưới đây rất cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu ghi năm
công bố thì áp dụng bản được nêu. Đối với các tài liệu không ghi năm công bố thì áp dụng bản mới nhất
(bao gồm cả các sửa đổi).
TCVN ISO 56000, Quản lý đổi mới - Cơ sở và từ vựng
3 Thuật ngữ và định nghĩa
Tiêu chuẩn này sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa trong TCVN ISO 56000 và các thuật ngữ, định nghĩa
sau đây.
3.1
Đổi mới
Thực thể mới hoặc được thay đổi tạo ra hoặc phân phối lại giá trị.
Chú thích 1: Tính mới và giá trị liên quan tới và được xác định bởi cảm nhận của tổ chức (3.2) hoặc của
các bên quan tâm (3.3) có liên quan.
Chú thích 2: Sự đổi mới có thể là sản phẩm, dịch vụ, quá trình (3.9), mô hình, hay phương pháp, v.v.
Chú thích 3: Đổi mới là một kết quả. Thuật ngữ “đổi mới” đôi khi dùng để chỉ các hoạt động hoặc quá trình
dẫn đến hoặc hướng tới việc đổi mới. Khi từ “đổi mới” được sử dụng với ý nghĩa này, nó thường được sử
dụng dưới dạng từ chỉ tính chất nhất định, ví dụ “các hoạt động đổi mới”.
[NGUỒN: TCVN ISO 56000:2023, 3.1.1, được sửa đổi - bỏ Chú thích 4.]
3.2
Tổ chức
Người hoặc nhóm người với chức năng riêng của mình có trách nhiệm, quyền hạn và mối quan hệ để đạt
được các mục tiêu (3.7) của mình.
Chú thích 1: Khái niệm tổ chức bao gồm nhưng không giới hạn ở thương nhân độc quyền, công ty, tập
đoàn, doanh nghiệp, cơ quan quản lý, câu lạc bộ, hội từ thiện hay viện, hay một phần hoặc sự kết hợp
của những loại hình trên dù có được hợp nhất hay không và là tổ chức công hay tư.
Chú thích 2: Nếu tổ chức là một phần của thực thể lớn hơn thì thuật ngữ “tổ chức” chỉ đề cập đến phần
của thực thể lớn hơn nằm trong phạm vi của hệ thống quản lý (3.5) đổi mới (3.1).
Chú thích 3: Chức năng của tổ chức có thể bao gồm, ví dụ, nghiên cứu và phát triển, nguồn nhân lực, tài
chính, bán hàng, marketing và vận hành.
3.3
Bên quan tâm (thuật ngữ ưu tiên)
Bên liên quan (thuật ngữ được chấp nhận)
Cá nhân hoặc tổ chức (3.2) có thể ảnh hưởng, chịu ảnh hưởng, hoặc tự nhận thấy bị ảnh hưởng bởi một
quyết định hoặc hoạt động.
Chú thích 1: Bên quan tâm có thể bao gồm, ví dụ, người sử dụng, khách hàng, nhà cung cấp, đối tác, hệ
sinh thái đổi mới, tổ chức tài trợ, nhà đầu tư, trường đại học và tổ chức công.
3.4
Lãnh đạo cao nhất
Người hoặc nhóm người định hướng và kiểm soát tổ chức (3.2) ở cấp cao nhất.
Chú thích 1: Lãnh đạo cao nhất có quyền ủy quyền và cung cấp nguồn lực trong phạm vi tổ chức.