
Chủ đề 3:
Advisory Opinions on Reservations
Ý kiến tư vấn về bảo lưu

I. Nội dung Công ước và hoàn cảnh đưa ra ý kiến tư vấn.
1. Nội dung Công ước diệt chủng.
Công ước về ngăn chặn và trừng trị tội diệt chủng được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc
thông qua 9/12/1948, gồm 19 điều khoản. Công ước đưa ra những khái niệm về tội diệt chủng,
những điều khoản về việc ngăn ngừa và trừng phạt tội diệt chủng, và những quy định của Công
ước đối với các bên tham gia Công ước. Cụ thể:
Diệt chủng dù diễn ra trong thời bình hay thời chiến cũng là một tội ác trong luật pháp
quốc tế, nhất định phải được ngăn cản và trừng phạt. Các hành vi đe dọa nghiêm trọng đến tinh
thần và thể xác con người đều bị coi là tội diệt chủng.
Điều 2, 3: Tội diệt chủng bao gồm những hành vi sau: tiêu diệt, toàn bộ hoặc một phần,
một nhóm quốc gia, dân tộc, chủng tộc hay tôn giáo, bao gồm: a) Giết hại thành viên của nhóm
người trên; b) Gây tổn hại nghiêm trọng đến thể xác hoặc tinh thần cho các thành viên của nhóm;
c) Cố ý đặt nhóm người vào điều kiện sống nhằm dẫn đến sự tổn hại về thể xác một cách hoàn
toàn hoặc một phần; d) thực hiện các biện pháp nhằm ngăn sự sinh sôi trong nhóm; e) dùng vũ
lực để chuyển giao trẻ em nhóm cho nhóm khác. Các hành vi sau đây thì bị trừng phạt: a) diệt
chủng; b) Âm mưu phạm tội diệt chủng; c) Chỉ đạo, kích động công chúng để phạm tội diệt
chủng; d) Cố ý phạm tội diệt chủng; e) Đồng lõa trong vụ diệt chủng.
Điều 6: Người bị buộc tội diệt chủng sẽ do tòa án có thẩm quyền của Nhà nước trong vùng
lãnh thổ mà tội ác đó được thực hiện xét xử, hoặc do tòa án hình sự quốc tế có thẩm quyền đối
với các bên tham gia Công ước chấp nhận quyền hạn xét xử của tòa án.
Các bên tham gia tùy theo Hiến pháp của mình, cam kết thông qua điều luật cần thiết để
đưa ra điều khoản dự phòng đối với Công ước, đặc biệt là đưa ra những hình phạt hiệu quả cho
người phạm tội diệt chủng hay thực hiện những hành vi được nói tới trong điều III. Các bên ký
kết có thể kêu gọi các cơ quan có thẩm quyền của Liên Hợp Quốc phải có hành động theo Hiến
chương của LHQ để phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi diệt chủng.
Tranh chấp giữa các bên ký kết liên quan đến các áp dụng, giải thích hoặc thực hiện Công
ước sẽ được đệ trình lên Tòa án công lý Quốc tế theo yêu cầu của bất kỳ bên tranh chấp nào.

Công ước này có thể được tham gia đại diện cho bất kỳ thành viên của Liên Hiệp Quốc và
của bất kỳ nhà nước nào không phải là thành viên Liên Hợp Quốc nhưng đã tham gia ký kết
công ước.
2. Hoàn cảnh đưa ra ý kiến tư vấn.
Vào ngày 16 tháng 11 năm 1951, Đại hội đồng của LHQ sau khi đã xem xét báo cáo của
Tổng thư ký về các bảo lưu đối với Công ước đa phương, xem xét về việc một số quốc gia phản
đối những bảo lưu nhất định của mỗi quốc gia tham gia đối với Công ước về ngăn ngừa và trừng
phạt tội ác diệt chủng, xem thấy việc Ủy ban luật pháp quốc tế đang nghiên cứu nội dung tổng
thể về điều lệ của các hiệp ước.mà bao gồm cả những câu hỏi lien quan đến bảo lưu, xét thấy
việc đưa ra các ý kiến kiến khác nhau về bảo lưu giữa các bên trong suốt kỳ họp thứ 5 của Đại
hội đồng, đậc biệt là ở Ủy ban thứ 6 của Đại hội đồng - Ủy ban pháp luật, đã yêu cầu Tòa án
quốc tế đưa ra ý kiến tư vấn.
Căn cứ vào những điều khoản được quy định trong Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội
diệt chủng, trong đó có điều IX, Tòa án quốc tế vì công lý có thẩm quyền đưa ra ý kiến tư vấn
trong trường hợp này.
II. Câu hỏi xin ý kiến tư vấn.
1. Câu hỏi 1:
“ Liệu việc 1 QG đang bảo lưu có thể được xem như là một bên tham gia kí kết công ước, trong
khi QG đó vẫn giữ sự bảo lưu cho dù việc bảo lưu bị phản đối bởi 1 hoăc nhiều bên tham gia hơn
trong công ước mà không phải là toàn bộ?
* Ý kiến của tòa án
Một quốc gia đưa ra và duy trì 1 bảo lưu bị phản đối bởi 1 hoặc nhiều bên của Công ước nhưng
không phải hầu hết, thì có thể được xem là 1 bên của Công ước nếu bảo lưu đó phù hợp với đối
tượng và mục đích của Công ước. Ngược lại, QG đó không được coi là một bên của Công ước
* Cơ sở lập luận
- Nguồn gốc và đặc điểm của Công ước này xuất phát từ chính mục đích của ĐHĐ và các nước.
Và chính mối liên hệ tồn tại các điều khoản của Công ước lại cung cấp những yếu tố làm sáng tỏ
nguyện vọng của ĐHĐ và các bên liên quan.

- Công ước là tập hợp nguyện vọng chung của tất cả các bên tham gia ( Trong Công ước như thế
các bên tham gia không có bất cứ quyền lợi của riêng họ, Họ thống nhất về một quyền lợi chung,
cụ thể là việc thực hiện những mục đích cao cả mà nhũng mục đích đó là lý do tồn tại của Công
ước Những nguyện vọng chung của các bên được ghi nhận vào các điều khoản sẽ cung cấp
hiệu quả nền tảng và biện pháp cho Công ước này.
Tóm lại, mục đích của Công ước diệt chủng ngụ ý rằng đó là ý định của ĐHĐ và các quốc gia
mà các Quốc gia đó áp dụng Công ước đó càng nhiều càng tốt. Việc loại trừ hoàn toàn 1 hay
nhiều Quốc gia ra khỏi Công ước sẽ không chỉ hạn chế phạm vi áp dụng Công ước mà còn làm
giảm quyền thế của các quy tắc về đạo đức mà những nguyên tắc đó lại là nền tảng của Công
ước ( Thực chất nội dung của Công ước này liên quan đến vấn đề nhân đạo và đạo đức bởi vậy
lôi kéo được càng nhiều Quốc gia tham gia vào Công ước này là việc cần thiết). Vì vậy, đối
tượng và mục đích Công ước giới hạn cả quyền tự do đưa ra bảo lưu và phản đối bảo lưu.
- QG có quyền đưa ra bảo lưu hoặc phản đối bảo lưu nhưng không được áp dụng các quan điểm
về chủ quyền Nhà nước một cách quá cực đoan bởi nó có thể dẫn tới sự coi thường hoàn toàn các
đối tượng và mục đích của Công ước nếu bảo lưu hoặc phản đối bảo lưu đó vẫn phù hợp với
Công ước thì bên đưa ra vẫn có thể trở thành bên tham gia vào Công ước
- Một lập luận nữa đó là việc có thể xuất hiện thỏa thuận ngầm hay rõ ràng của các bên liên quan
về vấn đề bảo lưu hay phản đối bảo lưu của Công ước Cả hai điều này đều có thể làm yếu đi
tính khách quan của mục đích và đối tượng của Công ước ( Theo quan điểm riêng của Ngài Tổng
thư ký LHQ trong báo cáo ngày 21/9/1950: “ Trong khi hầu hết đều công nhận rằng sự nhất trí
của những chính phủ liên quan khác phải được bày tỏ trước khi họ bị ràng buộc bởi những điều
kiện của bảo lưu, thì lại không có sự thống nhất hoàn toàn về kế hoạch mà người tiếp nhận đưa
ra để thu được sự nhất trí cần thiết hay liên quan đến hiệu lực của việc một Quốc gia phản đối
bảo lưu”.
2. Câu hỏi 2:
“Nếu có câu trả lời quả quyết cho câu hỏi 1, thì đâu là hiệu lực của bảo lưu giữa quốc
gia bảo lưu với:
a. Các bên phản đối bảo lưu?

b. Những bên chấp nhận bảo lưu?
* Ý kiến tư vấn của tòa án:
a. Nếu một bên của Công ước phản đối một bảo lưu được xem xét là có phù hợp với đối
tượng và mục tiêu của Công ước, thì nước này có thể coi nước bảo lưu không phải là một
bên của Công ước.
b. Mặt khác, nếu một bên chấp thuận bảo lưu là phù hợp với đối tượng và mục đích của
Công ước, thì sẽ coi quốc gia bảo lưu là một bên của Công ước.
* Lập luận của tòa:
- Mỗi quốc gia là một bên trong Công ước được quyền đánh giá tính hợp lệ của bảo lưu, và được
thực hiện quyền này một cách độc lập và theo quan điểm riêng của mình. Vì không có quốc gia
nào bị ràng buộc bởi Công ước ở những điều khoản mà quốc gia đó không nhất trí, nên sự cần
thiết cho mỗi quốc gia phản đối điều khoản đó hay không, sẽ dựa trên sự đánh giá độc lập trong
giới hạn về tiêu chuẩn của đối tượng và mục tiêu, xem một quốc gia là một bên tham gia Công
ước. Thông thường, một quyết định sẽ chỉ tác động tới quan hệ giữa các quốc gia thực hiện bảo
lưu va phản đối bảo lưu. Mặt khác, một quyết định có thể nhằm loại trừ hoàn toàn khỏi Công ước
đối với trường hợp mà nó thể hiện quan điểm chấp nhận về mức độ thực thi pháp lí.
- Thông thường, việc chấp thuận bảo lưu sẽ chỉ tác động tới quan hệ giữa hai quốc gia. Tuy
nhiên, cũng có thể việc chấp thuận đó nhằm loại bỏ hoàn toàn khỏi Công ước trường hợp mà nó
thể hiển lập trường về mức độ thực thi pháp lý: một số quốc gia xem việc chấp thuận bảo lưu
không phù hợp với mục đích của Công ước, hoặc có mong muốn giải quyết bất đồng bằng một
thỏa thuận riêng hay một kế hoạch được ghi trong Công ước,
Những mặt trái này là kết quả của sự bất đồng quan điểm- mà một điều khoản liên quan
đến việc thực hiện bảo lưu có thể xoá bỏ - là có thật. Chúng được giảm bớt do nghĩa vụ chung
của các bên thoả thuận đã được ghi trong phán quyết của toà án nước đó bởi tính tương đồng hay
không tương đồng của bảo lưu đối với đối tượng và mục đích của Công ước. Phải thừa nhận rằng
những quốc gia thoả thuận luôn khao khát tính nguyên vẹn của bảo lưu, ít nhất là với đối tượng
của thoả thuận. Nếu mong muốn này không tồn tại, thì rõ ràng là chính thoả thuận đã bị làm yếu
đi cả về nguyên tắc và tính ứng dụng.

