
TIỂU LUẬN:
Báo cáo tổng hợp tại nhà
máy xi măng Bỉm Sơn

I Sự hình thành và phát triển của công ty:
Ngay từ những năm cuối thập kỉ 60, khi mà cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước
của chúng ta đang đi vào giai đoạn ác liệt nhất, Đảng và nhà nước đã đề cập tới
những chiến lược xây dựng đất nước ngay sau khi đất nước thống nhất. Cũng
trong thời gian này, với sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên Xô, Đảng và nhà
nước ta đã quyết định xây dựng một nhà máy sản xuất xi măng hiện đại, có công
suất lớn nhất nước ta tại khu vực Bỉm Sơn, nhằm đáp ứng một phần nhu cầu xi
măng cho công cuộc xây dựng đất nước ngay sau khi kết thúc chiến tranh.
Từ đó công cuộc khảo sát, thăm dò địa chất, xác định nguồn nguyên liệu và tiến
hành công tác xây dựng nhà máy với sự giúp đỡ to lớn về vật chất kỹ thuật của
nước bạn Liên Xô.
Ngày 4 tháng 3 năm 1980, Bộ xây dựng đã ra quyết định thành lập nhà máy xi
măng Bỉm Sơn.
Khi mới ra đời, hoạt động của nhà máy gặp nhiều khó khăn, nhất là khó khăn về
trình độ của lực lượng lao động như bình quân tay nghề bậc thợ của công nhân
trong toàn nhà máy năm 1982 là 2,2/7; năm 1983 được nâng lên là 2,9/7. Trong
khi đó yêu cầu tay nghề bậc thợ của công nhân nhà máy phải đạt là 4/7. Tháng 2
năm 1982, nhà máy chính thức đi vào hoạt động sản xuất, thực hiện chỉ tiêu pháp
lệnh của Nhà nước. Trong thời gian này, hoạt động của nhà máy nằm trong cơ chế
chung của cả nước đó là cơ chế hành chính quan liêu bao cấp, do đó gặp không ít
khó khăn. ở nhà máy từ khâu nhận sản xuất đến khâu tiêu thụ được thực hiện dưới
chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước quy định. Vì vậy việc hạch toán tài chính trong sản
xuất kinh doanh như lỗ, lãi chưa được xem xét trên cơ sở khoa học kinh tế và chưa
được coi trọng. Trong điều kiện vừa sản xuất, vừa có các đơn vị thi công xây dựng
lắp đặt để hoàn chỉnh các thiết bị cho dây chuyền sản xuất, thì việc cung ứng năng
lượng điện, nguyên vật liệu trong thời kỳ này cũng chưa ổn định và đảm bảo theo
kế hoạch .
Bên cạnh những khó khăn trên, Nhà máy cũng có những thuận lợi cơ bản như: Xi
măng Bỉm Sơn là một trong những công trình trọng điểm của Nhà nước nên luôn
được sự quan tâm rất lớn của Đảng và chính phủ;phần đông cán bộ, công nhân là

lực lượng trẻ, có trách nhiệm, đầy nhiệt huyết, được trang bị những kiến thức cơ
bản về khoa học kỹ thuật, biết vận dụng tốt vào quá trình sản xuất; đồng thời, nhà
máy có được tập thể đoàn kết thống nhất cao và sự điều hành sát, đúng của ban
lãnh đạo nhà máy. Ngoài ra nhà máy còn có sự hợp tác, giúp đỡ của các chuyên
gia Liên Xô.
Do vậy, trong giai đoạn đầu, Nhà máy đã vượt qua được những thử thách, khó
khăn để hoàn thành kế hoạch sản xuất được nhà nước giao.
Năm 1982 nhà máy đã sản xuất và tiêu thụ được 1 51438 tấn xi măng rời và bao.
Năm 1983 đạt 292 485 tấn , tăng 93% so với năm 1982
Năm 1984 nhà máy đã hoàn thành vượt mức kế hoạch, kết quả sản xuất và tiêu
thụ 459 022 tấn xi măng đảm bảo chất lượng và trọng lượng, đạt
101,1 % kế hoạch, tăng 55 % kế hoạch so với năm 1983
Năm 1985 nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch sản xuất và tiêu thụ 400 000 tấn xi
măng, kết quả năm 1985 nhà máy đã sản xuất và tiêu thụ được 426 828 tấn, đạt
103,7 % kế hoạch. Đặc biệt nhà máy đã khánh thành toàn bộ dây chuyền và sản
xuất được tấn xi măng thứ một triệu.
Từ năm 1986 đến năm 1990, đây là giai đoạn Nhà máy chuyển dần từ cơ chế quản
lý cũ sang cơ chế quản lý hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, dưới ánh sáng
của Nghị quyết đại hội Đảng lầnthứ 6 mà tinh thần cơ bản là đổi mới tư duy, nhất
là tư duy kinh tế.
Đối với nhà máy xi măng Bỉm Sơn thì đây cũng là thời kỳ phải vượt qua những
thử thách khó khăn mới như: Các dây chuyền sản xuất thiếu nguyên liệu, thiếu phụ
tùng thay thế, điện năng cung cấp chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất, ý thức tổ
chức kỷ luật lao động của công nhân còn lỏng lẻo, tư tưỏng bảo thủ trì trệ, tâm lý
bao cấp còn nặng trong một số cán bộ công nhân viên. Công tác tổ chức vộ máy
cán bộ còn chưa phù hợp với cơ chế mới.
Đầu năm 1987 xảy ra vụ " chất lượng xi măng tại phòng thí nghiệm KCS " gây tư
tưởng hoang mang lo lắng đối với một số cán với chủ chốt của nhà máy. Việc tiêu
thụ sản phẩm xi măng luôn bị ách tắc, bị động. Những khó khăn trên càn trực tiếp
ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, có lúc tưởng như không trụ nổi.

Vào cuối năm 1989, đầu năm 1990, do biến động chính trị ở Liên Xô, các chuyên
gia Liên Xô rút hết về nước. Đời sống của công nhân hết sức khó khăn. Tình hình
tiêu cức trong và ngoài tường rào vành đai của nhà máy không giảm mà còn có
chiều hướng gia tăng. Việc bảo vệ vật tư, sản phẩm xi măng gặp rất nhiều khó
khăn phức tạp.
Bước đầu đổi mới cơ chế quản lý và công tác tổ chức đã có những tác động nhất
định đến tình hình sản xuất kinh doanh. Về sản lượng sản phẩm, bán thành phẩm
và chỉ tiêu giá thành cũng như tài chính của nhà máy đã tăng tiến rõ rệt. Sản xuất
quý 1 năm 1986 thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước, nhưng sang quý 2 sản
lượng đã đạt 135 % so với quý 1. Đồng thời quý 3 đạt 103,7 % so với quý 2 và
quý 4 đạt 152 % so với quý 3. Kết quả sản xuất và tiêu thụ trong năm 1986 là 489
122 tấn, đạt 101,6 % kế hoạch nhà nước giao, bằng 113,63 % so với năm 1985.
Tuy nhiên sản lượng này chỉ mới đạt 40 % công suất thiết kế và 81 % năng lực của
dây chuyền. Nếu so với năng suất kế hoạch thì các thiết bị sản xuất như đập sét
mới đạt 64,4 % , lò nung đạt 98,5 % , nhưng so với năng suất thiết kế thì còn quá
thấp. Hoặc như máy đóng bao chưa đạt đước 50 % công suất thiết kế; các thiết bị
khác cũng chỉ đạt được 70 % công suất thiết kế.
Nguyên nhân dẫn đến các mặt tồn đọng là do công tác tổ chức thực hiện kế hoạch
làm chưa tốt. Phần đông cán bộ, công nhân chưa thấy hết trách nhiệm của mình
trong sản xuất cũng như trong tiết kiệm, quản lý vật tư. Chất lượng sửa chữa máy
móc thiết bị còn có những hạn chế, thiếu đồng bộ... Đã tác động trực tiếp đến tiến
độ sản xuấ của nhà máy. Kỷ luật vận hành của công nhân chưa cao, công tác kiểm
tra, chuẩn bị thiếu chu đáo, dẫn đến chất lượng sản phẩm cuối kỳ chưa ổn định và
thiếu trọng lượng. Ngoài các vấn đề trên, vấn đế cốt lõi cơ bản dẫn đến tình trạng
sản xuất chậm phát triển, đôi khi trì trệ, nảy sinh tiêu cực....là do cơ chế quản lý
hành chính quan liêu bao cấp còn ngự trị ở nhà máy, đồng thời năm 1986 là năm
vật giá leo thang, cơ chế giá, lương, tiền không ổn định
Năm 1987 là năm đầu tiên nhà máy chính thức đi vào hoạt động thử nghiệm cơ
chế mới về quản lý kinh tế theo " Cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch
toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ" năng
suất lao động của công nhân năm 1987 là 289 tấn/ người/ năm đã tăng so với

246,79 tấn của năm 1986 và năm 1987 nhà máy đã sản xuất và tiêu thụ được
651.279 tấn xi măng, tăng 14,4 % so với 1986.
Kết quả của nhà máy năm 1987 bước đầu đã khẳng định, chứng minh cho sự đúng
đắn của việc hạch toán theo cơ chế quản lý mới.
Tình hình quản lý, sản xuất xi măng của nhà máy bước sang năm 1988 có những
thuận lợi mới hết sức căn bản, đó là lần đầu tiên Nhà máy chính thức thực hiện
quyết định 217/HĐBT . Quyết định này đã cho phép lãnh đạo , công nhân chủ
động quyết định toàn bộ hoạt động của nhà máy. Giám đốc thực hiện quyền điều
hành nhà máy theo chế độ thủ trưởng trong việc quản lý, thực hiện kế hoạch sản
xuất và chăm lo đời sống cho công nhân viên chức trong toàn bộ nhà máy.
Bình quân nộp ngân sách là 6,17 triệu đồng 1 người/ năm.
Bước sang năm 1989, kế hoạch chỉ tiêu pháp lệnh được Bộ xây dựng và liên hiệp
các xí nghiệp xi măng Việt nam giao cho nhà máy sản xuất và tiêu thụ 75 vạn tấn
xi măng và clinker thương phẩm. Nhà máy đã thực hiện được 820684 tấn , vượt
chỉ tiêu kế hoạch hơn một trăm ngàn tấn.
Phát huy truyền thống thi đua lao động sản xuất, vượt lên những khó khăn, năm
1990 nhà máy tiếp tục hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra: sản lượng Clinker đạt
998 134 tấn; sản lượng nghiền xi măng 857 699 tấn, đã tiêu thụ được 1 042 774
tấn, doanh thu 213 178 triệu đồng, nộp ngân sách nhà nước 62 951 triệu đồng,
Trong thời kỳ 1991- 1992 ban giám đốc đã xác định và nhận thức đúng đắn sự tác
động của các chính sách, cơ chế quản lý mới, kết hợp với việc nghiên cứu, quán
triệt chủ trương đổi mới quản lý của Đảng và nhà nước được tổ chức thực hiện ở
doanh nghiệp nhà nước; đặc biệt là các Nghị quyết trung ương 6, 7...Đây là thời kỳ
chịu tác động khủng hoảng chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông âu và
Liên Xô vào nước ta nói chung, trực tiếp tác động vào nhà máy xi măng Bỉm Sơn
nói riêng; chuyên gia Liên Xô rút hết về nước, toàn bộ vật tư kỹ thuật cho Nhà
máy không được bạn cung ứng.
Tuy nhiên lãnh đạo nhà máy đã xác định đúng mục tiêu, với giải pháp tích cực,
với ý chí tự lực tự cường, đã tìm ra bước đi phù hợp với lực lượng sản xuất của
nhà máy. Đồng thời khơi dậy trí tuệ của người lao động , do đó lực lượng sản xuất
đã dần được nâng cao về trình độ và kết quả năm 1991, nhà máy đã sản xuất và

