TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA QUỐC TẾ HỌC
TÌM HIỂU VỀ VÙNG
VĂN HOÁ TÂY BẮC
BÀI TIỂU LUẬN MÔN: CƠ SỞ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Học kỳ I năm học 2021-2022
Người thực hiện:
Nhóm 1 - Lớp: DPK45NB
1
Mục lục
TÌM HIỂU VỀ VÙNG VĂN HOÁ TÂY BẮC
A. Lời mở đầu
Vùng văn hóa Tây Bắckhu vực bao gồm hệ thống núi non trùng điệp bên
hữu ngạn song Hồng (lưu vực sông Đà. Ở đây có trên 20 tộc ngườitrú, văn hóa
Tây Bắc đa dạng độc đáo chính sản phẩm của sự kết hợp đan xen các bản
sắc riêng của hơn hai mươi dân tộc ấy, trong đó các dân tộc Thái, H’mông, Dao
thể xem những đại diện tiêu biểu, góp phần quan trọng hơn cả trong việc hình
thành văn hóa của khu vực. Nội dung dưới đây sẽ cho ta biết sâu hơn về vùng Tây
Bắc thông qua đặc điểm tự nhiên và các dân tộc tiêu biểu.
B. Nội dung
I. Tổng quan về Tây Bắc:
1. Vị trí địa lí – Điều kiện tự nhiên:
Vùng Tây Bắc vùng miền núi phía tây của miền bắc Việt Nam, chung
đường biên giới với hai nước Lào và Trung Quốc. Đây là một trong 3 tiểu vùng của
Bắc Bộ Việt Nam, bao gồm các tnh: Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên, Yên Bái, Sơn
La và Hoà Bình.
Địa hình Tây Bắc hiểm trở, nhiều khối núi dãy núi cao chạy theo
hướng Tây Bắc-Đông Nam, trong đó dãy Hoàng Liên Sơn dài đến 180 km,
các đỉnh núi cao như Phanxipăng 3142m.
Vùng Tây Bắc hai con sông lớn, đó sông Đà sông Thao (tức sông
Hồng), thượng nguồn của sông Mã cũng nằm trên vùng đất Tây Bắc, phía Tây tỉnh
2
Sơn La. Các con sông này không chỉ sở cho sự định của của các dân tộc
nơi đây cũng như nền nông nghiệp trong vùng còn nguồn cảm hứng cho
những câu hát và truyền thuyết của các tộc người Thái, Mường...
Do ở một độ cao từ 800-3000m nên khí hậu Tây Bắc ngả sang á nhiệt đới và
ôn đới. Mặt khác, do địa hình lại chia cắt bởi các dãy núi, tạo nên những thung
lũng nên Tây Bắc còn là nơi có nhiều tiểu vùng khí hậu.
2. Đặc điểm kinh tế - xã hội và dân cư:
2.1. Hoạt động kinh tế:
Người dân Tây Bắc hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu, nơi đây
không chỉ cung cấp lương thực cho vùng mà còn nhiều khi vực khác trong nước.
Tây Bắc còn nơi sản xuất thuỷ điện cao nhất cả nước, với các nhà máy
thuỷ điện lớn như Hoà Bình, Sơn La… Ngoài ra họ còn khai thác khoáng sản, sản
xuất vật liệu xây dựng, nội thất và may mặc.
Nhờ nhiều địa danh nổi tiếng với cảnh sắc thiên nhiên hùng trong
nhiều năm trở lại đây, du lịch của vùng Tây Bắc phát triển mạnh.
2.2 Lịch sử và dân cư:
Tây Bắc là nơi sinh tụ lâu đời, ngàn năm của cư dân văn minh đồng thau với
hơn 20 tộc người trú xen kẽ, bao gồm c dân tộc: Thái, Dao, H’Mông, Bố Y,
Giáy, Nhì, Kháng, Máng, Khơ-mu, Sila, Tày, Xinh-mun, La-ha… với một lịch
sử phát triển khá lâu đời. Mật độ dân đây khá số thấp, năm 1978 mới 59
người/km2. Với tỉ lệ tăng 3,5%/năm cộng với việc di dân, đến năm 1990 cũng chỉ
có 120 người/km2. Các dân tộc tiêu biểu của vùng là Thái, H’Mông, Dao.
3
II. Các dân tộc tiêu biểu của vùng Tây Bắc:
1. Dân tộc H’mông:
1.1. Văn hoá vật chất:
1.1.1. Hoạt động sản xuất:
các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất
các đồ đựng. Làm giấy bản đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu thị hiếu của
người dân.
1.1.2. Nhà ở:
Đồng bào Mông vùng núi, nhà thường được y dựng i gần nguồn
nước, gần nương, đi lại thuận tiện. những địa thế hiểm trở, khi làm nhà, đồng
bào phải tính đến những thay đổi của thời tiết như mưa to, gió lớn làm sạt lở đất
đai gây hỏng nhà cửa. Nguyên liệu làm nhà chủ yếu gỗ, tre, cỏ tranh đất.
Gỗ dùng đlàm cột, tre làm đòn tay, cỏ tranh để lợp mái, dùng đất để trình tường.
Cũng nhà dùng gỗ cây làm đòn tay, x gỗ lợp mái thưng vách. Đồng bào
thường đun nấu ở trong nhà nên nhà ấm và tăng thêm độ bền.
Quan niệm về ngôi nhà của người Mông là: Nhà làm ba gian gồm gian bếp
gian giữ lửa, một bếp lửa buồng ngủ của chủ nhà. Gian giữa gian to
rộng hơn, có cửa chính nhìn về phía trước nhà. Đây là gian thờ cúng tổ tiên, là gian
chung của cả nhà, chuyên để làm những việc lớn của gia đình như hiếu, hỷ, tiếp
khách. Gian thứ ba gian bên cạnh bếp nấu ăn, buồng ngủ của các con. Gian
này một cửa phụ mở phía đầu đốc của ngôi nhà đngười nhà đi lại. Hàng ngày
đi làm về, người trong gia đình chủ yếu đi lại bằng cửa này. Hầu hết các ngôi nhà
thường có gác nhỏ để chứa lương thực, đồ đạc hoặc thực phẩm khô.
1.1.3. Ẩm thực:
Thắng cố
Thắng cố một món ăn truyền thống của đồng bào dân tộc H’Mông, món
ăn này lịch sử cách đây khoảng 200 năm khi người n tộc H’Mông về cứ trú
4
tại Bắc Lào Cai. Sở món thắng cố của người H’Mông đặc biệt bởi cách
chế biến của nó. Món thắng cố truyền thống của người H’Mông được làm từ thịt
ngựa. Khi nấu thì không bỏ bất cứ phần nào trên thể ngựa, kể cả phần ruột già
rất kén người ăn. Về sau, món thắng cố được các dân tốc khác cải biến thành các
món thịt trâu, bò, lợn bỏ thêm nhiều các loại gia vị khác nhau đ tạo ra nhiều
hương vị khác nhau đặc trưng của mỗi vùng. Tuy nhiên, món thắng cố ngon nhất
vẫn món thắng cố ngựa truyền thống của con dân tộc H’Mông vùng Bắc
Hà, Mường Khương, Sa Pa.
Mèn mén
Một trong số các món ăn truyền thống không chỉ phổ biến còn rất ngon
được đồng bào H’Mông chế biến từ hạt ngô chính món mèn mén. Mèn mén
được chế biến từ các loai ngô được trồng địa phương, hạt to, đều lại rất thơm
dẻo. Thêm một thứ nữa không thể thiếu khi ăn món mèn mén này chính ớt
nướng. Do Sapa vùng khí hậu rất lạnh nền đồng bào H’Mông ăn ớt đchống
lạnh. Bất ngờ hơn mèn mén cùng cùng nướng khi ăn cùng với nhau lại tạo nên
hương vị rất tuyệt vời. Do đây là một món ăn khô, vậy nên người thường thức món
này nên ăn kèm thêm một bát canh nóng để tránh bị nghẹn.
1.1.4. Trang phục:
Trang phục của người H’mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa c nhóm. Quần áo
của người Mông chủ yếu may bằng vải lanh tự dệt, tạo dáng trang trí công phu,
kết hợp kỹ thuật nhuộm, vẽ sáp ong, thêu, ghéo, dệt hoa văn với kiểu váy rộng
đẹp.
Nam thường mặc áo cánh ngắn ngang hoặc dưới thắt lưng, thân hẹp, ống tay
hơi rộng. Áo nam hai loại: m thân bốn thân. Phụ nữ Hmông thường mặc
áo bốn thân, xẻ ngực không cài nút, gấu áo không khâu hoặc cho vào trong váy.
Phụ nữ H’mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo
xẻ ngực. Còn phụ nữ H’mông Xanh mặc váy ống, nếu đã có chồng thì cuốn tóc lên
5