ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

TRƢỜNG CHÍNH TRỊ TÔN ĐỨC THẮNG

TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA

TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

ĐỀ TÀI: QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG TÁC ĐẤU

THẦU MUA THUỐC Ở CÁC CƠ SỞ Y TẾ TRONG TỈNH

AN GIANG – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Học viên: Nguyễn Thị Bê

Lớp: B65, Năm học: 2012-2013

Giảng viên hƣớng dẫn: Phan Thị Tuyết Minh

An Giang, tháng 9 năm 2013

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

TRƢỜNG CHÍNH TRỊ TÔN ĐỨC THẮNG

TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA

TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

ĐỀ TÀI: QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG TÁC ĐẤU

THẦU MUA THUỐC Ở CÁC CƠ SỞ Y TẾ TRONG TỈNH

AN GIANG – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Học viên: Nguyễn Thị Bê

Lớp: B65, Năm học: 2012-2013

Giảng viên hƣớng dẫn: Phan Thị Tuyết Minh

An Giang, tháng 9 năm 2013

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

Giáo viên hƣớng dẫn

Ths. Phan Thị Tuyết Minh

ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM TIỂU LUẬN

I. Nhận xét:

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

………………………………………………………………………………….

.............................................................................................................................

II. Kết quả: - Bằng số:…………………………………………..............

- Bằng chữ:………………………………………………...

Giáo viên 1 Giáo viên 2

……………………………… ………………………………

MỤC LỤC

NỘI DUNG Trang

1 PHẦN MỞ ĐẦU

4 PHẦN NỘI DUNG

Chƣơng 1

4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU MUA THUỐC

1.1. Những vấn đề chung về công tác đấu thầu mua thuốc 4

1.1.1. Khái niệm 4

1.1.2. Vai trò của công tác đấu thầu 4

1.1.3. Các hình thức lựa chọn nhà thầu 5

1.1.4. Trình tự thực hiện đấu thầu 5

1.1.5. Quyền và nghĩa vụ các bên trong đấu thầu 5

1.2. Quan điểm của Đảng về công tác y tế 6

1.3. Những quy định của nhà nước về công tác đấu thầu mua 7 thuốc

Chƣơng 2

12 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU MUA THUỐC Ở

CÁC CƠ SỞ Y TẾ TRONG TỈNH AN GIANG

2.1. Đặc điểm tình hình 12

2.2. Thực trạng về công tác đấu thầu mua thuốc trong tỉnh 12

2.2.1. Tình hình thực hiện đấu thầu 12

2.2.2. Đánh giá kết quả về tình hình đấu thầu mua thuốc trong thời 22 gian qua

2.3. Một số vấn đề đặt ra 25

Chƣơng 3

26 MỤC TIÊU & GIẢI PHÁP VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU MUA

THUỐC Ở CÁC CƠ SỞ Y TẾ TRONG TỈNH AN GIANG

3.1. Mục tiêu 26

3.1.1. Mục tiêu chung 26

3.1.2. Mục tiêu cụ thể 26

3.2. Giải pháp 27

3.2.1. Tăng cường quản lý nhà nước về công tác đấu thầu mua 27 thuốc

3.2.2. Tăng cường trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị 27

3.2.3. Nâng cao vai trò của Hội đồng thuốc và điều trị 27

3.2.4. Tăng cường công tác truyền thông giáo dục y đức 28

3.2.5. Bồi dưỡng đào tạo nghiệp vụ đấu thầu 28

3.2.6. Thay đổi hình thức đấu thầu 29

3.2.7. Tăng cường tính công khai, minh bạch trong công tác đấu 29 thầu mua thuốc

3.2.8. Ứng dụng công nghệ thông tin trong đấu thầu thuốc 30

3.2.9. Tổ chức tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát 30

31 KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ

33 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN MỞ ĐẦU

Thuốc là một hàng hóa đặc biệt vì có ảnh hưởng đến sức khỏe con

người. Giá thuốc luôn là vấn đề không những ngành y tế mà cả xã hội đặc biệt

quan tâm. Hiện nay, tuy giá viện phí đang có sự bao cấp của nhà nước, chỉ thu

một phần viện phí, thuốc tại bệnh viện phục vụ dưới dạng cung ứng theo giá

hóa đơn mua vào. Mặc dù vậy, số tiền thuốc chiếm gần như 70% số viện phí

mà người bệnh phải trả. Giá thuốc có ảnh hưởng rất lớn đến ngân sách nhà

nước, đến quỹ bảo hiểm y tế, đặc biệt ảnh hưởng đến kinh tế của người dân.

Mặc dù được kiểm soát bởi ngành chức năng, dư luận xã hội, nhưng giá

thuốc vẫn tăng đều đặn và đôi khi gây đột biến. Có nhiều nguyên nhân để

thuốc tăng giá, trong đó có nguyên nhân do cạnh tranh, muốn được tiêu thụ,

các công ty tìm cách đẩy giá thuốc lên cao để có chi phí tiếp thị, hậu mãi bằng

cách xuất hóa đơn lòng vòng, thỏa thuận nâng giá nhập khẩu, nhập ủy thác từ

bên ngoài, đặc biệt đối với những thuốc chưa có thương hiệu, có nguồn gốc từ

các nước Châu Á. Điều này đang đặt ra gánh nặng và mối lo lớn cho những

người dân nghèo ốm đau cần thuốc chữa trị.

Việc thực hiện đấu thầu lúc đầu gặp nhiều khó khăn do chưa am hiểu

luật, thời gian hoàn tất một đợt đấu thầu kéo dài, không theo kịp với tiến độ

trượt giá của thị trường, dẫn đến hậu quả nhiều gói thầu không có nhà thầu

tham gia hoặc vượt giá kế hoạch; danh mục thuốc tuyến tỉnh không phù hợp

khi áp dụng cho các bệnh viện tuyến huyện, do phân tuyến kỹ thuật quy định

cũng như mô hình bệnh tật ở mỗi nơi một khác.

Văn bản hướng dẫn đấu thầu mua thuốc chưa cụ thể, các bệnh viện tự

xoay xở, làm cho điểm xét thầu mang tính chủ quan, không đồng bộ. Hình

thức chia gói thầu, phương thức đấu thầu mỗi nơi một khác, dẫn đến cùng một

1

mặt hàng, nhưng giá thuốc khác nhau giữa các bệnh viện trong cùng một thời

điểm, công tác đấu thầu nhiều nơi nhiều lúc chưa đảm bảo tính công khai,

minh bạch.

Đấu thầu thuốc hiện áp dụng theo luật xây dựng, thuốc có nhiều đặc

điểm khác biệt với hàng hóa xây dựng, thuốc bao gồm nhiều yếu tố kỹ thuật,

đa dạng, nhiều nguồn cung cấp. Ngoài ra, Bệnh viện còn phải thực hiện nhiều

đợt đấu thầu trong năm để mua sắm hàng hóa sử dụng thường xuyên như hóa

chất, vật tư y tế, trang thiết bị, văn phòng phẩm, xây dựng, sửa chữa..., mỗi

đợt đấu thầu kéo dài từ 4 đến 6 tháng, dẫn đến hậu quả trong một số trường

hợp là thiếu thuốc phục vụ cho nhu cầu điều trị; tốn kém chi phí hành chính,

lưu trữ hồ sơ, nhất là khi các bệnh viện đấu thầu riêng lẻ; mất quá nhiều thời

gian và công sức, ảnh hưởng đến công tác chuyên môn; dễ phát sinh sai sót và

tiêu cực...

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc quản lý và bình ổn giá

thuốc tại Việt Nam là một bài toán khó giải. Đấu thầu thuốc là một giải pháp.

Quản lý công tác đấu thầu mua thuốc chính là quản lý tốt kinh tế y tế, tiết

kiệm chi ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm y tế, giảm gánh nặng cho bệnh

nhân, góp phần nâng cao uy tín của người thầy thuốc trong các cơ sở y tế. Vì

vậy, việc tổ chức đấu thầu thuốc cần được quan tâm nghiên cứu để thực hiện

một cách chuyên nghiệp và đạt hiệu quả cao hơn. Do đó, tôi chọn đề tài

“Quản lý nhà nƣớc về công tác đấu thầu mua thuốc ở các cơ sở y tế trong

tỉnh An Giang – thực trạng và giải pháp” làm tiểu luận tốt nghiệp của mình

nhằm khảo sát thực trạng công tác đấu thầu mua thuốc, xem xét những vấn đề

chưa phù hợp, đề ra những giải pháp tháo gỡ, góp phần cùng Sở Y tế chấn

chỉnh công tác đấu thầu mua thuốc tại các cơ sở y tế trong tỉnh là yêu cầu cấp

thiết được đặt ra.

Đề tài được nghiên cứu từ năm 2010- 2013 và đã sử dụng các phương

2

pháp như: tổng hợp, phân tích … làm cơ sở để viết.

Bố cục đề tài bao gồm 3 chương:

Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác đấu thầu mua thuốc.

Chương 2. Thực trạng về công tác đấu thầu mua thuốc ở các cơ sở y tế

trong tỉnh An Giang.

Chương 3. Mục tiêu & giải pháp về công tác đấu thầu mua thuốc ở các

3

cơ sở y tế trong tỉnh An Giang

PHẦN NỘI DUNG

Chƣơng 1.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU MUA THUỐC

1.1. Những vấn đề chung về công tác đấu thầu mua thuốc

1.1.1. Khái niệm

Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên

mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án có sử dụng vốn nhà nước bao

gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín

dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp

nhà nước và các vốn khác do nhà nước quản lý trên cơ sở đảm bảo tính cạnh

tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.

Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích

phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ

thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin, sinh phẩm y

tế, trừ thực phẩm chức năng.

1.1.2. Vai trò của việc đấu thầu mua thuốc đối với công tác chăm sóc và

bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Đấu thầu thuốc có vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ

sức khỏe nhân dân, vì thuốc có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính

mạng của con người, người bệnh có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không

đủ tiền mua thuốc, đặc biệt là những người chưa có thẻ bảo hiểm y tế. Đấu

thầu mua thuốc chính là phương thức để chọn được mặt hàng thuốc có giá cả

hợp lý giúp tiết kiệm chi ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm y tế, giảm gánh

nặng cho người bệnh nghèo, góp phần quản lý nhà nước về giá thuốc, chất

lượng thuốc, nâng cao hiệu quả trong việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân

4

dân.

Với những quy định đấu thầu thuốc hiện hành, các doanh nghiệp sản

xuất trong nước đã bắt đầu chuyển dịch cơ cấu đầu tư vào nghiên cứu phát

triển sản xuất các thuốc chuyên khoa đặc trị, thuốc chứa hoạt chất mà trong

nước chưa sản xuất được và tập trung đầu tư công nghệ để sản xuất các sản

phẩm dạng bào chế hiện đại, nghiên cứu tương đương sinh học thay thế thuốc

biệt dược đắt tiền, nhằm giảm giá thành, tạo điều kiện cho nhiều bệnh nhân có

cơ hội được điều trị.

1.1.3. Các hình thức lựa chọn nhà thầu

- Đấu thầu rộng rãi

- Đấu thầu hạn chế

- Chỉ định thầu

- Mua sắm trực tiếp

- Chào hàng cạnh tranh

- Tự thực hiện

Đấu thầu rộng rãi là hình thức ưu tiên áp dụng trừ một số trường hợp

đặc biệt.

1.1.4. Trình tự thực hiện đấu thầu

Trình tự thực hiện đấu thầu gồm các bước: chuẩn bị đấu thầu, tổ chức

đấu thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu,

thông báo kết quả đấu thầu, thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp

đồng.

1.1.5. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong đấu thầu

Luật đấu thầu quy định cụ thể trách nhiệm và quyền hạn của các cá

nhân và tổ chức có liên quan sau đây:

- Trách nhiệm của người có thẩm quyền;

- Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư;

5

- Quyền và nghĩa vụ của bên mời thầu;

- Quyền và nghĩa vụ của tổ chuyên gia đấu thầu;

- Quyền và nghĩa vụ của nhà thầu;

- Quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức thẩm định;

1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về công tác y tế

Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và toàn xã hội. Bảo vệ

chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là hoạt động nhân đạo trực tiếp bảo

đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều cơ

bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong

việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.

Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X

tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đề ra nhiệm vụ nâng cao

chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nêu: “Nâng cao y đức, đấu tranh

đẩy lùi tiêu cực trong hoạt động khám, chữa bệnh. Phát triển mạnh công

nghiệp dược; quản lý chặt chẽ thị trường thuốc chữa bệnh. Bảo đảm cho

người có bảo hiểm y tế được khám, chữa bệnh thuận lợi; mọi công dân khi có

nhu cầu và khả năng đều được đáp ứng dịch vụ y tế chất lượng cao.”

Thông báo số 208/TB-VPCP ngày 22 tháng 7 năm 2009 của Văn phòng

Chính phủ truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân

tại hội nghị trực tuyến ngành dược toàn quốc năm 2009 có nội dung: “Khẩn

trương xây dựng và triển khai kế hoạch tổng thể nhằm kiện toàn và phát triển

công tác dược bệnh viện từ tuyến Trung ương đến địa phương. Điều chỉnh,

hoàn thiện cơ chế đấu thầu thuốc cung ứng cho hệ thống y tế công lập. Tổ

chức đánh giá, xây dựng cơ chế các mối quan hệ: bệnh viện - nhà thuốc, bác

sĩ - dược sĩ - người bệnh để có giải pháp bảo đảm lợi ích hài hoà của các đối

6

tượng bệnh nhân, bệnh viện và cán bộ y tế, phù hợp với quy định hiện hành.”

Tại buổi làm việc với Bộ Y tế về công tác quản lý nhà nước về dược,

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chỉ đạo: “Để phấn đấu phát huy kết quả

đã đạt được, xây dựng ngành dược tiếp tục phát triển, đóng góp tích cực vào

sự nghiệp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, trong thời gian

tới, Bộ Y tế cần tiếp tục làm tốt các nhiệm vụ trọng tâm trong đó có nhiệm vụ:

phối hợp với các Bộ Tư pháp, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan

liên quan tập trung xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Dược năm

2005 bảo đảm tiến độ và chất lượng. Trong quá trình xây dựng Dự án Luật,

cần nghiên cứu đề xuất các nội dung về đổi mới quản lý giá thuốc và đấu thầu

thuốc đáp ứng yêu cầu công tác quản lý trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với

hệ thống pháp luật hiện hành và cam kết quốc tế.” (Thông báo Số 154/TB-

VPCP ngày 04/4/2013)

Trong Chương trình công tác năm 2013 của UBND tỉnh An Giang đề

ra nhiệm vụ của ngành Y tế: “Tăng cường thanh tra, kiểm tra, quản lý chặt

chẽ chất lượng hoạt động khám chữa bệnh, việc kê đơn, sử dụng thuốc, chống

lạm dụng thuốc, lạm dụng xét nghiệm, lạm dụng dịch vụ kỹ thuật cao; đấu

thầu giá thuốc tại các bệnh viện công.”

1.3. Những quy định của nhà nƣớc về công tác đấu thầu mua thuốc

Nghị định 120/2004/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2004 quy định:

Chính phủ quản lý giá đối với nhóm thuốc do cơ sở y tế mua để cung cấp cho

các đối tượng miễn phí, chính sách xã hội, thu một phần viện phí, BHYT.

Thuốc do cơ sở y tế mua để cung cấp cho các đối tượng này phải thực hiện

đấu thầu theo quy định của pháp luật. Giá thuốc trúng thầu phải thấp hơn giá

bán lẻ phổ biến của thuốc đó trên thị trường cùng thời điểm và được áp dụng

thống nhất trong tất cả các cơ sở y tế công lập trên địa bàn tỉnh

Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ra đời điều chỉnh các hoạt động đấu

thầu để lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây

7

lắp đối với các gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên cho

mục tiêu đầu tư phát triển, sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm

duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước.

Luật Đấu thầu quy định cụ thể trình tự thực hiện các bước đấu thầu,

hình thức lựa chọn nhà thầu, phương thức đấu thầu, thời gian trong đấu thầu,

hình thức hợp đồng, nghĩa vụ của các bên trong đấu thầu, quản lý hoạt động

đấu thầu.

Quốc Hội khóa 12 ban hành Luật số 38/2009/QH12 ngày 19 tháng 6

năm 2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây

dựng cơ bản trong đó có Luật Đấu thầu để điều chỉnh một số Điều Luật nhằm

quy định cụ thể hơn các nội dung về xác định giá đánh giá, thẩm định đấu

thầu (kế hoạch đấu thầu (KHĐT), hồ sơ mời thầu (HSMT) và kết quả lựa

chọn nhà thầu) làm cơ sở cho người có thẩm quyền hoặc chủ đầu tư xem xét,

quyết định theo quy định của Luật.

Luật Dược số 34/2005/QH11 được Quốc hội khóa 11 thông qua ngày

14 tháng 6 năm 2005 quy định rõ: Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách

nhiệm bảo đảm cung ứng đủ thuốc có chất lượng trong danh mục thuốc chủ

yếu sử dụng trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phục vụ cho nhu cầu cấp

cứu, khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở. Việc mua thuốc thuộc danh mục thuốc

chủ yếu của các cơ sở y tế nhà nước và thuốc do ngân sách nhà nước chi trả

thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu, bảo đảm các nguyên tắc ưu

tiên mua thuốc sản xuất trong nước có cùng chủng loại, chất lượng tương

đương và giá không cao hơn thuốc nhập khẩu, giá thuốc trúng thầu không

được cao hơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền định kỳ công bố, thông

báo công khai giá thuốc và giá tối đa đối với các loại thuốc do ngân sách nhà

nước và bảo hiểm y tế chi trả.

Nghị định 79/2006/NĐ-CP ban hành ngày 09 tháng 08 năm 2006 của

Chính phủ cụ thể hoá một số Điều của Luật Dược. Tại Chương VII, Điều 40

8

quy định: Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện nhiệm vụ quản

lý nhà nước về dược trên phạm vi cả nước, chủ trì, phối hợp với Bộ, Ngành

liên quan ban hành theo thẩm quyền và tổ chức triển khai thực hiện các văn

bản quy phạm pháp luật về dược; quản lý giá thuốc, lộ trình áp dụng các tiêu

chuẩn thực hành tốt; chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch - Đầu tư (KH&ĐT) và

Bộ Tài chính (BTC) hướng dẫn cụ thể việc đấu thầu các loại thuốc quy định

tại Điều 49 của Luật Dược. Tại Chương III, Điều 12, Khoản 2 quy định việc

mua thuốc thuộc danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh,

chữa bệnh công lập và thuốc do ngân sách nhà nước chi trả phải thực hiện

thông qua đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu và đảm bảo các

nguyên tắc: ưu tiên mua thuốc sản xuất trong nuớc có cùng chủng loại, chất

lượng tương đương và giá không cao hơn thuốc nhập khẩu tại thời điểm đấu

thầu và giá thuốc trúng thầu không được cao hơn giá tối đa hiện hành công bố

tại thời điểm gần nhất của Bộ Y tế.

Chính phủ ban hành Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 10

năm 2009 hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng

theo Luật Xây dựng. Nghị định 85/2009/NĐ-CP cụ thể hóa Luật Đấu thầu,

quy định rõ thời gian trong đấu thầu, nội dung của từng gói thầu trong KHĐT,

trình duyệt KHĐT cũng như thẩm định và phê duyệt KHĐT.

Thông tư 31/2011/TT-BYT ngày 11 tháng 7 năm 2011 là văn bản chỉ

đạo mới nhất về Danh mục thuốc chủ yếu, Danh mục thuốc phóng xạ và hợp

chất đánh dấu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ BHYT

thanh toán. Thông tư này quy định về việc xây dựng Danh mục thuốc trong cơ

sở khám bệnh, chữa bệnh căn cứ phân tuyến kỹ thuật, mô hình bệnh tật và

kinh phí của bệnh viện, Giám đốc bệnh viện chỉ đạo Hội đồng thuốc và điều

trị xây dựng Danh mục thuốc sử dụng tại đơn vị và có kế hoạch tổ chức cung

ứng thuốc, đáp ứng nhu cầu điều trị theo các quy định của pháp luật về đấu

9

thầu cung ứng thuốc

Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT -BYT-BTC: Thông tư này

được ban hành ngày 19 tháng 01 năm 2012 có hiệu lực từ ngày 01/6/2012,

hướng dẫn đấu thầu mua thuốc (ĐTMT) trong các cơ sở y tế, thay thế TTLT

số 10/2007. Thông tư này quy định cụ thể hơn việc phân chia gói thầu và hình

thức lựa chọn nhà thầu, nội dung gói thầu biệt dược, rút ngắn thời gian thẩm

định, phê duyệt kế hoạch và kết quả đấu thầu. Thông tư cũng quy định số

lượng và hạn mức được mua thuốc vượt ngoài KHĐT. Cơ quan BHXH tham

gia vào các Hội đồng thẩm định KHĐT, tham gia tổ xét thầu và thẩm định kết

quả lựa chọn nhà thầu của các đơn vị ĐTMT từ nguồn quỹ BHYT theo phân

cấp của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Ngoài ra còn có các văn bản khác làm cơ sở pháp lý trong công tác đấu

thầu như:

 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân số 21-LCT/HĐNN8 ngày 30/06/1989.

 Luật Sửa đổi số 38/2009/QH12 ngày 19/06/2009.

 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ, Hướng

dẫn thi hành Luật Đấu Thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây

dựng.

 Nghị định số 68/2012/NĐ-CP ngày 12/09/2012 của Chính phủ, Sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm

2009 của Chính phủ Hướng dẫn thi hành Luật Đấu Thầu và lựa chọn nhà

thầu xây dựng theo Luật Xây dựng.

 Thông tư số 05/2010/TT-BKH ngày 10/02/2010 của Bộ Kế Hoạch &

Đầu Tư, ban hành Mẫu hồ sơ mời thầu Mua sắm hàng hoá.

 Thông tư số 10/2010/TT-BKH ngày 13/5/2010 của Bộ Kế Hoạch và Đầu

Tư, Quy định về đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu.

 Thông tư số 11/2010/TT-BKH ngày 27/5/2010 của Bộ Kế Hoạch & Đầu

10

Tư, Quy định chi tiết về chào hàng cạnh tranh.

 Thông tư số 21/2010/TT-BKH ngày 28/10/2010 của Bộ Kế Hoạch & Đầu

Tư, Quy định chi tiết về thẩm định hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu.

 Thông tư 01/2011/TT-BKHĐT ngày 04/01/2011 của Bộ Kế Hoạch &Đầu

Tư, Quy định chi tiết kiểm tra về công tác đấu thầu theo qui định của Luật Đấu

thầu.

 Thông tư số 68/2012/TT-BTC ngày 26/4/2012 của Bộ Tài Chính, quy

định việc đấu thầu để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên

của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức

chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, đơn

vị vũ trang nhân dân.

 Thông tư số 20/2010/TTLT-BKH-BTC ngày 21/9/2010 của liên Bộ Tài

chính, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Quy định chi tiết việc cung cấp thông tin về đấu

thầu để đăng tải trên báo đấu thầu.

 Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 19/01/2012 của Bộ Y

tế, Bộ Tài chính, Hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế.

 Thông tư số 11/2012/TT-BYT ngày 28/6/2012 của Bộ Y tế Hướng dẫn

lập Hồ sơ mời thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế.

Tiểu kết, đấu thầu mua thuốc là một hoạt động được quy định bắt buộc

trong các cơ sở y tế công lập và tư nhân có hợp đồng khám chữa bệnh bảo

hiểm y tế, công tác này đóng góp một phần quan trọng trong công tác chăm

11

sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Chƣơng 2

THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU MUA THUỐC Ở CÁC CƠ

SỞ Y TẾ TRONG TỈNH AN GIANG

2.1. Đặc điểm tình hình

An Giang là một tỉnh đông dân, thuộc đồng bằng sông Cửu Long, với

đường biên giới dài trên 100 km, giáp với nước bạn Campuchia, có nhiều dân

tộc sinh sống. Mạng lưới khám, chữa bệnh, cung ứng thuốc phủ khắp từ thành

thị đến nông thôn. Để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho hơn hai triệu

dân sinh sống tại tỉnh nhà và dân vùng lân cận của tỉnh bạn, nước bạn, thì cần

có một lượng thuốc rất lớn.

Cả tỉnh có tổng cộng 19 bệnh viện, trong đó 4 bệnh viện tuyến tỉnh, 11

bệnh viện tuyến huyện, 4 bệnh viện tư nhân, 11 phòng khám khu vực, 156

trạm y tế xã, phường, thị trấn. Các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến

tỉnh là bệnh viện tuyến 2, có mô hình bệnh tật phức tạp, sử dụng thuốc cũng

khác hơn (thuốc ngoại nhập chiếm > 75%), so với bệnh viện huyện (thuốc

ngoại chỉ chiếm khoảng 20%).

Khi xây dựng kế hoạch đấu thầu, phải tổng hợp số lượng của nhiều

bệnh viện, mỗi bệnh viện sử dụng danh mục thuốc khác nhau, có rất nhiều

thuốc trong một danh mục, từ vài trăm cho đến vài ngàn mặt hàng.

Năm 2010-2012: thực hiện đấu thầu theo Thông tư liên tịch số

10/2007/TTLT-BYT-BTC

Năm 2013: năm đầu tiên thực hiện Thông tư liên tịch 01/2012/TTLT-

BYT-BTC và Thông tư hướng dẫn hồ sơ mời thầu mua thuốc số 11/2012/TT-

BYT.

2.2. Thực trạng về công tác đấu thầu mua thuốc trong tỉnh An giang

12

2.2.1. Tình hình thực hiện đấu thầu

Thời gian qua, công tác đấu thầu mua thuốc trong tỉnh chủ yếu giao cho

2 đơn vị thực hiện, kết quả đấu thầu mua thuốc của bệnh viện đa khoa Trung

tâm áp dụng cho các bệnh viện tuyến tỉnh và Ban Bảo vệ sức khỏe cán bộ,

một bệnh viện đa khoa tuyến huyện làm đầu mối tổ chức đấu thầu, kết quả áp

dụng cho các bệnh viện tuyến huyện, các năm trước tổ chức tại bệnh viện Thị

xã Tân Châu, năm 2012 tổ chức tại bệnh viện huyện Phú Tân.

2.2.1.1. Quá trình thực hiện từ năm 2010-2013

a) Tuyến tỉnh:

+ Năm 2009-2010: Kế hoạch đấu thầu mua thuốc năm 2009-2010 của

Bệnh viện đa khoa Trung tâm An Giang được phê duyệt theo Quyết định số

2312/QĐ-UBND ngày 12/10/2009 của UBND tỉnh An Giang,

Kết quả đấu thầu được phê duyệt theo Quyết định số 199/QĐ-BVAG

ngày 28/12/2009 của Giám đốc bệnh viện ĐKTTAG.

+ Năm 2011-2012: Kế hoạch đấu thầu được phê duyệt theo Quyết định

số 1269/QĐ-UBND ngày 29/7/2011

Kết quả đấu thầu được phê duyệt theo Quyết định số 190/QĐ-BVAG

ngày 29/09/2011 của Giám đốc bệnh viện ĐKTTAG;

+ Năm 2012: Đấu thầu bổ sung đợt 1 năm 2012

Kế hoạch đấu thầu được phê duyệt theo Quyết định số 580/QĐ-UBND

ngày 13/4/2012 của UBND tỉnh An Giang.

Kết quả đấu thầu được phê duyệt theo Quyết định số 584/QĐ-BVAG

ngày 08/06/2012 của Giám đốc bệnh viện ĐKTTAG;

+ Năm 2013: Kế hoạch đấu thầu được phê duyệt theo Quyết định số

2062/QĐ-UBND ngày 20/11/2012 của UBND tỉnh An Giang.

Kết quả đấu thầu được phê duyệt theo Quyết định số 64/QĐ-BVAG

13

ngày 18/04/2013 của Giám đốc bệnh viện ĐKTTAG;

b) Tuyến huyện:

+ Năm 2010: Kế hoạch đấu thầu mua thuốc năm 2009 của các Bệnh

viện tuyến huyện được phê duyệt theo Quyết định số 1939/QĐ-UBND ngày

28/8/2009 của UBND tỉnh An Giang.

Kết quả đấu thầu được phê duyệt theo Quyết định số 01/QĐ-BVTC-ĐT

ngày 30/10/2009 của Giám đốc bệnh viện ĐK huyện Tân Châu;

+ Năm 2011: Kế hoạch đấu thầu mua thuốc năm 2010 -2011 của các

Bệnh viện tuyến huyện được phê duyệt theo Quyết định số 1999/QĐ-UBND

ngày 25/10/2010 của UBND tỉnh An Giang. Tại thời điểm mở thầu, có 2 gói

thầu không đủ số nhà thầu tham gia, phải trình UBND tỉnh cho phép mời thầu

lần 2, mở thầu vào ngày 17/01/2011.

Kết quả đấu thầu được phê duyệt theo Quyết định số 28/QĐKQ-BVTC

ngày 05/03/2011 của Giám đốc bệnh viện ĐK huyện Tân Châu.

+ Năm 2012: Kế hoạch đấu thầu mua thuốc năm 2012 của các Bệnh

viện tuyến huyện được phê duyệt theo Quyết định số 927/QĐ-UBND ngày

15/6/2012 của UBND tỉnh An Giang. Tại thời điểm mở thầu, có 2 gói thầu

không đủ số nhà thầu tham gia, phải trình UBND tỉnh cho phép mời thầu lần

2, mở thầu vào ngày 06/08/2012.

Kết quả đấu thầu được phê duyệt theo Quyết định số 04/QĐ-BVPT

ngày 17/10/2012 của Giám đốc bệnh viện ĐK huyện Phú Tân.

Trễ so với kế hoạch từ 3 – 9 tháng.

2.2.1.2. Tiến trình đấu thầu mua thuốc:

a) Việc tổ chức đấu thầu cung ứng thuốc tại các bệnh viện được khảo

sát, đều tuân thủ các bước quy trình cơ bản theo Luật Đấu thầu:

Lập kế hoạch đấu thầu (chủ yếu xây dựng danh mục thuốc) Lập

14

HSMT Thông báo mời thầu Phát hành HSMT Tiếp nhận HSDT,

Đóng thầu Mở thầu Đánh giá HSDT (về pháp lý và kỹ thuật) Xác

định giá đánh giá Xét duyệt trúng thầu Thương thảo, hoàn thiện ký kết

hợp đồng Thực hiện hợp đồng.

b) Danh mục thuốc và đặc điểm hồ sơ mời thầu

 Danh mục thuốc đấu thầu

Bệnh viện tỉnh có Danh mục biệt dược và generic đối với từng nhóm

dược lý trong Danh mục thuốc chủ yếu của Bộ Y tế, bệnh viện huyện sắp xếp

danh mục theo thứ tự chữ cái ABC của từng gói.

Bệnh viện huyện chỉ đấu thầu theo tên generic, không đấu thầu theo

biệt dược, chủng loại cũng đơn giản hơn do phân tuyến điều trị, thuốc sản

xuất trong nước chiếm tỷ trọng cao.

Tỉnh

Huyện

Quy mô đấu thầu

2010 2011 2013 2010 2011 2012

Số biệt dược sử dụng

1819 2913 1442 1160 1162

852

Trị giá tiền thuốc đấu thầu (tỉ đồng)

35,5

125

578,8 114

117 128,7

Nhân lực của Hội đồng thầu

25

31

32

18

20

20

Tổ chuyên gia

16

24

25

10

10

10

Tổ thẩm định

9

7

7

8

10

10

Tổng số bác sĩ

3

3

2

0

0

0

Số cán bộ dược

14

18

20

11

10

10

Kế toán

8

10

10

7

10

10

Thời gian lập danh mục khá dài. Mặc dù số lượng nhân sự tham gia đấu

thầu hơn 30 người, nhưng khâu tổng hợp danh mục của bệnh viện tỉnh mất

15

trong khoảng từ 3-7 tháng, bệnh viện huyện mất trung bình khoảng 3-4 tháng.

Tình hình giá cả luôn có chiều hướng tăng, nếu chậm trễ triển khai thực hiện

đấu thầu, sẽ dẫn đến việc rớt thầu do vượt giá trần, đồng thời phải gia hạn

hoặc mua thuốc ngoài thầu.

Số lượng thuốc đưa vào danh mục quá nhiều, nhiều loại thuốc không

thiết yếu, hàm lượng lạ, ít sử dụng, điều này dẫn đến việc mất thời gian xây

dựng danh mục, mất thời gian đánh giá HSDT. So sánh với những bệnh viện

có số giường thực kê và số khoa lâm sàng tương đương như: bệnh viện đa

khoa Bình Dương, bệnh viện Nguyễn Tri Phương Thành phố Hồ Chí Minh,

thì năm 2011 bệnh viện đa khoa An Giang có số mặt hàng đưa vào đấu thầu

nhiều gấp 4,3 lần so với bệnh viện đa khoa Bình Dương và gấp 3,2 lần so với

bệnh viện đa khoa Nguyễn Tri Phương Thành phố Hồ Chí Minh. Sự chênh

So sánh với các bệnh viện ở tỉnh khác về quy mô đấu thầu

lệch này được thể hiện qua hình sau:

Dân số An Giang đông, kết quả đấu thầu áp dụng cho các bệnh viện

tuyến tỉnh, số tiền thuốc sử dụng thực tế tại bệnh viện tỉnh mỗi năm đã trên

160 tỷ đồng. Nhưng qua khảo sát, giá trị tiền thuốc đưa vào đấu thầu không

phản ánh được thực tế sử dụng thuốc tại bệnh viện, đặc biệt là gói thầu mua

16

thuốc năm 2010 (31,3 tỷ đồng). Chứng tỏ rằng bệnh viện tỉnh xây dựng kế

hoạch thiếu căn cứ. Một đợt đấu thầu mất nhiều thời gian và công sức, nếu

đưa kế hoạch thực hiện không có căn cứ, khi thị trường có biến động giá sẽ

làm ảnh hưởng đến việc cung ứng thuốc không những chính bệnh viện mà

còn các bệnh viện tuyến tỉnh áp giá thầu, người dân phải chi trả tiền thuốc giá

cao.

 Tình hình phân chia gói thầu qua các năm

Thông tư liên tịch số 10 trước đây không hướng dẫn phân chia danh

mục gói thầu, nên mỗi bệnh viện chủ động xây dựng theo cách riêng. Danh

mục thầu được chia làm nhiều gói (từ 8-11 gói thầu), trong đó một số gói

được chia làm nhiều nhóm, có số lượng và giá trị tiền thuốc khác nhau. Cách

chia gói thầu chưa đảm bảo tính đồng bộ

Tham khảo các bệnh viện ở Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh khác: tối đa

chỉ chia làm 4 gói, đấu thầu từng mặt hàng.

Thông tư liên tịch 01/2012/TTLT-BYT-BTC đã khắc phục được điểm

này Theo hướng dẫn của Thông tư 01 thì danh mục thầu được chia thành 3

gói:

Gói thầu thuốc theo tên generic: gồm có 4 nhóm:

+ Nhóm thuốc sản xuất tại các nước tham gia EMA, hoặc ICH, hoặc

PIC/S.

+ Nhóm thuốc sản xuất tại các cơ sở sản xuất thuốc đạt nguyên tắc,

tiêu chuẩn GMP-WHO theo khuyến cáo của WHO được Bộ Y tế Việt Nam

(Cục Quản lý dược) kiểm tra và cấp giấy chứng nhận.

+ Nhóm thuốc không thuộc các nhóm nêu tại điểm a và b khoản này.

+ Nhóm thuốc có chứng minh tương đương sinh học do Bộ Y tế công

17

bố.

Trường hợp thuốc sản xuất nhượng quyền sản xuất tại Việt Nam theo

quy định của pháp luật thì căn cứ vào cơ sở chuyển giao quyền sản xuất thuốc

để phân chia mặt hàng thuốc này vào một trong các nhóm thuốc cho phù hợp.

Gói thầu thuốc theo tên biệt dược

+ Thuốc biệt dược gốc hoặc thuốc có tương đương điều trị với thuốc

biệt dược gốc do Bộ Y tế công bố.

+ Thuốc thuộc danh mục thuốc hiếm do Bộ Y tế ban hành.

Gói thầu thuốc đông y, thuốc từ dược liệu.

Năm 2013: bệnh viện tỉnh chia 5 gói thầu (bao gồm 3 nhóm trong gói generic,

gói thuốc biệt dược và gói thuốc đông y thuốc sản xuất từ dược liệu)

Việc chia nhiều gói thầu sẽ thu được nhiều tiền bán hồ sơ mời thầu,

nhưng mất nhiều thời gian cho việc lập danh mục, xây dựng HSMT, quản lý

HSDT và xét thầu, ngoài ra còn vi phạm quy định về chia nhỏ gói thầu.

 Phương thức đấu thầu mua thuốc

Những năm trước đây: tùy theo từng gói thầu, có thể đấu từng mặt hàng

hoặc đấu trọn gói. Thực tế cho thấy, các gói thầu xét thầu trọn gói hoặc trọn

nhóm, với số lượng lớn (từ 164 - 431 mã hàng) sẽ hạn chế số nhà thầu tham

gia, ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu, vấn đề này đã được khắc phục dần ở

năm 2011.

Năm 2013: xét thầu từng mặt hàng ở tất cả các gói thầu theo hướng dẫn

Thông tư liên tịch 01

 Tiêu chí đánh giá hồ sơ dự thầu

Các bệnh viện đánh giá nhà thầu trên 03 phương diện chính: kinh

nghiệm, năng lực sản xuất và kinh doanh, năng lực tài chính. Thang đánh giá

được sử dụng là “đạt” hay “không đạt”. Với mỗi phương diện, mức độ yêu

18

cầu tối thiểu được đánh giá “đạt” sẽ phụ thuộc vào từng bệnh viện. Mức đánh

giá ở 2 bệnh viện không giống nhau là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhà

thầu có thể trúng thầu ở bệnh viện này mà không trúng thầu ở bệnh viện khác.

Thông tư 10 không hướng dẫn bảng điểm kỹ thuật, do đó mỗi bệnh

viện tự xây dựng các tiêu chí đánh giá riêng, mỗi năm một khác. Mức độ yêu

cầu của các bệnh viện không thống nhất và phụ thuộc vào tính chủ quan của

từng bệnh viện. Do đó, kết quả trúng thầu của nhà thầu tại các bệnh viện

không giống nhau, cũng là nguyên nhân khiến giá thuốc đấu thầu mỗi nơi mỗi

khác.

Năm 2013: điểm kỹ thuật đã được quy định tại Thông tư 11/2012/TT-

BYT, tuy nhiên với bảng điểm này, không có tiêu chí để phân biệt các sản

phẩm có nguồn gốc nguyên liệu hay đầu tư công nghệ khác nhau mà chủ yếu

cạnh tranh về giá. Điều này không đánh giá được chất lượng sản phẩm trúng

thầu. Đây là nỗi băn khoăn của các cán bộ y tế.

 Kết quả đấu thầu thuốc

Tỉnh

Huyện

Tình hình kết quả đấu thầu thuốc

2010 2011 2013 2010 2011 2012

Số lượng mặt hàng mời thầu

1819 2913 1442 1329 1160 852

Số lượng mặt hàng trúng thầu

1633 2351

762

1939

648

511

Tỷ lệ mặt hàng trúng thầu (%)

90

81

52.8

146

56,9

60

Năm 2010 tuyến huyện có số trúng thầu cao hơn số mời thầu là do mỗi

mã hàng hóa chọn 2 sản phẩm trúng thầu. Năm 2011 do bảng điểm kỹ thuật

có sự thay đổi không phù hợp, dẫn đến tỷ lệ trúng thầu năm này rất thấp

(56,9%).

Bệnh viện tỉnh có số nhà thầu tham gia ngày càng tăng, Số nhà thầu dự

thầu tại bệnh viện tỉnh năm 2011 là 143, tăng 166% so với năm 2009 (66),

19

góp phần làm tăng chất lượng đấu thầu cũng như tăng tỷ lệ trúng thầu các mặt

hàng vào bệnh viện. Do đây là bệnh viện trung tâm của tỉnh, có lưu lượng

bệnh nhân đông, kết quả đấu thầu áp dụng cho nhiều bệnh viện, vòng quay

thuốc nhanh, chính vì vậy các nhà thầu thường xem đây là mục tiêu chính

trong các đợt đấu thầu.

Năm 2013: tỷ lệ trúng thầu thấp vì Bộ Y tế chưa ban hành kịp thời các

danh mục thuốc biệt dược, thuốc generic nhóm 1, thuốc tương đương sinh

học, bệnh viện không cơ sở để xét thầu. Nhóm thuốc gây nghiện, hướng tâm

thần, thuốc hiếm, thuốc ít sử dụng, nhóm thuốc này chỉ mang tính phục vụ,

không mang lại lợi ích kinh tế nên ít nhà thầu quan tâm, nên thường rớt thầu.

Thông tư 01 khắc phục được tình trạng đưa nhiều mã hàng hóa vào đấu

thầu hay chọn nhiều nhà thầu trúng thầu đều đưa đến kết quả trúng thầu nhiều

biệt dược cho một hoạt chất, năm 2011 thuốc Amlodipine 5mg có 18 sản

phẩm trúng thầu, trong đó có 6 sản phẩm do các doanh nghiệp trong nước sản

xuất, giá chênh lệch từ 420 - 1050 đồng, thậm chí một biệt dược nhưng có 2

giá khác nhau.

 Giá thuốc trúng thầu

Theo cách đấu thầu trước đây, chọn nhiều nhà thầu trúng thầu cho một

mã hàng hóa, không cạnh tranh, giá trúng thầu nhiều loại thuốc chưa hợp lý,

khi ký kết hợp đồng, mỗi bệnh viện chọn cho mình một giá, kết quả là cùng

một hoạt chất nhưng giá thuốc các bệnh viện trong tỉnh mỗi nơi mỗi khác.

Năm 2012-2013, theo hướng dẫn mới, mỗi nhóm thuốc chỉ chọn một sản

phẩm trúng thầu, tính cạnh tranh thể hiện rõ, hàng hóa gói thầu này giảm giá

đáng kể, đưa các mặt hàng thuốc trở về giá trị thực. Giá thuốc giảm từ 10-

40% so với giá kế hoạch. Như vậy, phương thức đấu thầu ảnh hưởng rất nhiều

đến kết quả.

20

 So sánh giá thuốc đấu thầu và không đấu thầu

Nhìn chung thuốc đấu thầu có giá trị trung bình thấp hơn thuốc không

đấu thầu. Như vậy, tổ chức đấu thầu là việc làm có ý nghĩa mang lại lợi ích

kinh tế, góp phần giảm gánh nặng cho người bệnh, thân nhân người bệnh, quỹ

BHYT.

ST

Giá không

Tên thuốc

Nơi SX

Dạng dùng

Giá thầu

T

thầu

1 Adalat LA Tab 30mg Bayer - Đức

Uống, viên

9454

12033

2 Aprovel 150

Sanofi-Aventis

Uống, V/150 mg

8100

9625

3 Aprovel 300

Sanofi-Aventis

Uống, V/300 mg

12150

14435

4

Betaloc ZOK Tab

AstraZeneca AB

Uống, V/50mg

5779

5779

5

Betaserc Tab

Sweden Solvay

Uống,V/16mg,

2970

3178

6

Calcium Sandoz Tab Famar France -

Uống, viên

3420

3755

7

Cordarone Tab.

France Sanofi - Pháp

500 mg Viên nén bẻ

6371

6753

8

được, 200mg Viên nén bao

Crestor Tab 10mg

Packed by

16170

16170

phim, uống

9 Debridat Tab

AstraZeneca UK Farmea - France Viên nén,

2690

2690

10 Depakine chrono

Sanofi-aventis

uống,100mg Uống,V/ 500mg

5829

7340

So sánh giá thuốc đấu thầu và không đấu thầu năm 2011

 Hợp đồng và bảo lãnh hợp đồng

Hợp đồng theo đơn giá là hình thức bệnh viện chọn ở các lần đấu thầu

trước đây. Thực tế cho thấy, hình thức hợp đồng này thể hiện nhiều bất cập:

không chặt chẽ khi xây dựng KHĐT, nhà thầu không đảm bảo số lượng khi

thị trường có biến động giá, bệnh viện sẽ dễ dàng vi phạm hợp đồng do không

quan tâm theo dõi số lượng, mặt hàng có số lượng trúng thầu ít thì sử dụng

nhiều và ngược lại.

Ngoại trừ bệnh viện tỉnh, các bệnh viện áp dụng kết quả đấu thầu của

21

tỉnh và hội đồng đấu thầu tuyến huyện không yêu cầu các nhà thầu phải bảo

lãnh hợp đồng. Vì vậy, có những nhà thầu trúng thầu ít mặt hàng và với số

lượng nhỏ, không thực hiện đầy đủ những gì đã cam kết.

2.2.2. Đánh giá kết quả về tình hình đấu thầu mua thuốc ở các cơ sở y tế

trong thời gian qua

2.2.2.1. Những mặt đạt đƣợc

Nhìn chung công tác đấu thầu đã làm cho giá thuốc thấp và ổn định hơn

so với giá thị trường, góp phần bình ổn giá, tiết kiệm chi ngân sách nhà nước,

quỹ bảo hiểm y tế và túi tiền của người bệnh.

Thực hiện Thông tư 01/2012 của liên Bộ Y tế và Tài chính về đấu thầu

mua thuốc trong các cơ sở y tế, đợt đấu thầu năm 2012-2013 giá thuốc tại 2

bệnh viện đã giảm từ 10% đến 40%, tiết kiệm gần 48 tỷ đồng so với những

lấn đấu thầu trước.

Danh mục thuốc sử dụng phù hợp với từng tuyến chuyên môn kỹ thuật.

Đáp ứng nhu cầu cơ bản về thuốc phòng, chữa bệnh cho nhân dân.

Giữa 2 thời điểm đấu thầu thuốc hoặc khi chưa tổ chức đấu thầu kịp

thời, các bệnh viện tuyến tỉnh có thể áp dụng theo kết quả đấu thầu của huyện

và ngược lại

2.2.2.2. Nguyên nhân đạt đƣợc

Được sự quan tâm của các cấp Đảng, chính quyền, đoàn thể, sự kiểm

tra, giám sát của Sở Y tế, sự lãnh đạo của ban Giám đốc bệnh viện, sự nỗ lực

của cán bộ của khoa Dược bệnh viện và phòng Tài chính kế toán.

Văn bản hướng dẫn đấu thầu mua thuốc ngày càng chi tiết hơn: các

Thông tư mới ban hành năm 2012 đã hướng dẫn phân chia gói thầu, phương

thức đấu thầu, hướng dẫn lập HSMT mua thuốc cụ thể hơn.

Ngày càng có nhiều văn bản quy định về kiểm tra giá thuốc, kê đơn sử

22

dụng thuốc được ban hành, giúp công tác đấu thầu đi vào nề nếp.

Vai trò của Hội đồng thuốc và điều trị ngày càng được khẳng định

trong việc tham mưu cho Giám đốc những vấn đề liên quan đến thuốc sử

dụng tại bệnh viện.

Việc thẩm định, thanh quyết toán BHYT, việc kiểm toán hàng năm

cũng góp phần làm cho công tác đấu thầu ngày càng tốt hơn.

Các phương tiện truyền thông cũng đóng góp một phần không nhỏ

trong việc nêu những ý kiến của những nhà chuyên môn cũng như phản ánh

của người dân đối với vấn đề giá thuốc tại bệnh viện.

2.2.2.3. Những mặt hạn chế

Các bệnh viện chịu trách nhiệm đấu thầu thường xuyên tổ chức chậm

trễ, dẫn đến tình trạng thiếu thuốc, không đáp ứng kịp thời cho công tác điều

trị, phải thay thế hoặc mua thuốc ngoài thầu. Việc đấu thầu mua thuốc hàng

năm thường xảy ra chậm hơn so với kế hoạch từ 3 – 9 tháng.

Tỷ lệ trúng thầu thấp, do giá trị gói thầu không lớn hoặc chưa đủ cơ sở

để đánh giá HSDT khi Bộ Y tế chưa ban hành đầy đủ các danh mục kèm theo.

Thông thường hàng năm, bệnh viện phải tổ chức đấu thầu bổ sung, vì

một số sản phẩm có ít nhà thầu tham gia, phải xử lý tình huống hoặc không

trúng thầu.

Giá thuốc trong tỉnh ở mỗi nơi mỗi khác. Ngoài ra, không đủ thuốc, vật

tư để có thể áp dụng cho các chương trình y tế mục tiêu quốc gia.

Ngoài công việc chuyên môn, đấu thầu thuốc là gánh nặng và chiếm

một phần không nhỏ trong quỹ thời gian của cán bộ y tế.

Theo hướng dẫn của Cục Quản lý dược về thực hiện thông tư liên tịch

01/2012/TTLT-BYT-BTC thì các địa phương không xây dựng giá đánh giá

trong HSMT vì cho rằng đây chính là giá dự thầu sau khi đã đánh giá về mặt

kỹ thuật. Song, bảng tiêu chuẩn đánh giá kỹ thuật kèm theo thông tư của Bộ Y

23

tế về lập HSMT mua thuốc tại các cơ sở y tế có 100 điểm, thì có đến 41 điểm

nói về năng lực nhà thầu, chỉ có 59 điểm về chất lượng thuốc mà trong số này

lại không có điểm nào về nguồn gốc nguyên liệu, công nghệ bào chế - yếu tố

chính đánh giá chất lượng thuốc. Vì vậy, bảng tiêu chuẩn đánh giá kỹ thuật

chưa bảo đảm cơ sở để xem xét chất lượng thuốc và giá thuốc. Vì thế, đấu

thầu thuốc có thể là giá thấp nhưng chất lượng thuốc có thể không đạt như

mong muốn. Thông tư này tạo điều kiện cho nhiều loại thuốc giá thấp trúng

thầu nên tổng số tiền mua thuốc của các cơ sở y tế trong tỉnh giảm nhiều so

với năm trước. Tuy nhiên, sau khi có kết quả đấu thầu, các bác sĩ lại lo ngại

về chất lượng những loại thuốc giá rẻ.

2.2.2.4. Nguyên nhân hạn chế

Giám đốc các bệnh viện chưa chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát tốt

công tác đấu thầu mua thuốc, để tình trạng chậm trễ, mua thuốc ngoài thầu

kéo dài nhiều năm.

Một số sản phẩm mang tính độc quyền, thuốc hiếm, thuốc gây nghiện,

hướng tâm thần, ít sử dụng, không đủ nhà thầu tham gia, thường phải xử lý

tình huống hoặc đấu thầu lần 2.

Các bệnh viện tổ chức đấu thầu khác nhau về thời điểm, khác nhau về

bảng điểm kỹ thuật, tiêu chí đánh giá, dẫn đến tình trạng giá thuốc trong tỉnh

mỗi nơi một khác.

Thị trường thuốc ảnh hưởng bởi tỷ giá ngoại tệ, thỉnh thoảng có biến

động, vì hơn 90% nguyên liệu làm thuốc và phần lớn thành phẩm thuốc nhập

khẩu, nếu rơi vào thời điểm xây dựng kế hoạch đấu thầu, bệnh viện phải cập

nhật giá gần như toàn bộ danh mục đấu thầu để tránh vượt giá trần, công việc

này mất rất nhiều thời gian.

Quy trình đấu thầu gồm nhiều giai đoạn, một đợt đấu thầu kéo dài từ 4-

6 tháng. Các bệnh viện vừa phải đảm bảo công tác chuyên môn, vừa phải tổ

24

chức nhiều gói thầu trong năm như: thuốc, vật tư y tế, hóa chất, y dụng cụ…

Chưa có Luật đấu thầu dành riêng cho thuốc, các bệnh viện áp dụng

theo Luật đấu thầu (xây dựng) đã bộc lộ nhiều bất cập, không phù hợp vì

thuốc có nhiều đặc điểm khác biệt với hàng hóa xây dựng. Các văn bản hướng

dẫn ban hành theo Thông tư 01 chưa kịp thời, còn biểu hiện nhiều điểm chưa

phù hợp.

2.3. Một số vấn đề đặt ra

 Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về công tác đấu thầu thuốc.

 Ổn định giá thuốc là vấn đế thách thức đối với ngành y tế.

 Trách nhiệm của Bộ Y tế, cơ quan quản lý nhà nước, lãnh đạo, cán

bộ y tế đối với việc đấu thầu mua thuốc.

 Hiện tượng chạy thầu, thông thầu xảy ra khá phổ biến làm sai lệch

kết quả.

 Chấm dứt tình trạng chậm trễ kéo dài gây thiếu thuốc hoặc mua

ngoài thầu giá cao; sự chênh lệch giá thuốc giữa các bệnh viện trong tỉnh.

 Tăng cường năng lực và tính khách quan của cán bộ y tế khi thẩm

định chất lượng thuốc.

 Vai trò của ngành dược Việt Nam trong việc thử tương đương sinh

học và kiểm định chất lượng thuốc nhập khẩu.

 Làm thế nào để sản phẩm trúng thầu vừa có giá hợp lý, vừa đảm bảo

chất lượng.

Tiểu kết, công tác đấu thầu mua thuốc trong tỉnh đã mang lại những kết

quả nhất định, bên cạnh đó cũng còn nhiều vấn đề gây tranh cãi, xác định

25

đúng những nguyên nhân tồn tại là nhiệm vụ được đặt ra cho ngành y tế.

Chƣơng 3

MỤC TIÊU & GIẢI PHÁP VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU MUA THUỐC

Ở CÁC CƠ SỞ Y TẾ TRONG TỈNH AN GIANG

3.1. Mục tiêu

3.1.1. Mục tiêu chung

Khảo sát thực trạng công tác đấu thầu mua thuốc, xem xét những vấn

đề chưa phù hợp, đề ra những giải pháp tháo gỡ, nhằm góp phần cùng Sở Y tế

chấn chỉnh công tác đấu thầu mua thuốc tại các cơ sở y tế trong tỉnh An

Giang.

3.1.2. Mục tiêu cụ thể

Nắm rõ thực trạng về công tác đấu thầu mua thuốc tại hai bệnh viện trong

tỉnh An Giang.

Chấn chỉnh công tác đấu thầu mua thuốc tại các cơ sở y tế trong tỉnh,

đảm bảo thực hiện nghiêm túc, khách quan, công khai, minh bạch, đúng quy

định của pháp luật.

Tổ chức đấu thầu kịp thời, đảm bảo hoàn thành công tác đấu thầu hàng

năm đúng thời gian quy định.

Cung cấp đủ thuốc cho công tác điều trị với giá thống nhất trong toàn

tỉnh.

Chọn được sản phẩm thuốc có chất lượng với giá hợp lý, tiết kiệm chi

ngân sách nhà nước, quỹ BHYT, giảm gánh nặng kinh tế cho người dân, đáp

ứng hai mục tiêu cơ bản trong chính sách quốc gia về thuốc.

Xây dựng kế hoạch đấu thầu sát thực tế, Danh mục thuốc phù hợp, sử

dụng thống nhất trong toàn tỉnh, thuận tiện cho việc thẩm định, thanh quyết

toán BHYT.

26

Thực hiện đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt”.

Xây dựng ngành Công nghiệp dược Việt Nam trở thành ngành kinh tế

kỹ thuật mũi nhọn, đáp ứng yêu cầu về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước.

Dành thời gian cho cán bộ y tế bệnh viện làm công việc chuyên môn.

3.2. Giải pháp

3.2.1. Tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về công tác đấu thầu mua thuốc

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật hướng dẫn đấu thầu mua

thuốc. Cần có một luật đấu thầu riêng đối với thuốc để dễ thực hiện, không

nên áp dụng một bộ luật Đấu thầu chung như hiện nay. Bảng điểm kỹ thuật

trong Thông tư 11 cần được nghiên cứu chỉnh sửa sao cho lựa chọn được

thuốc có chất lượng với giá cả hợp lý.

Kiểm toán nhà nước, thanh tra nhà nước và thanh tra Sở Y tế cần tăng

cường giám sát hoạt động đấu thầu thuốc tại bệnh viện.

3.2.2. Tăng cƣờng trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị

Giám đốc bệnh viện là người có quyền điều hành mọi hoạt động trong

bệnh viện và chịu trách nhiệm trước Sở Y tế, Ủy ban nhân dân tỉnh, Tỉnh ủy

về các hoạt động xảy ra tại bệnh viện.

Nghị quyết trung ương 4 đã đề cao vai trò của người đứng đầu, kiểm

điểm trách nhiệm của người đứng đầu khi tập thể không hoàn thành nhiệm vụ.

Lãnh đạo đơn vị tăng cường kiểm tra, chỉ đạo nghiêm túc, hoạt động

đấu thầu thuốc, giám sát hoạt động của khoa dược bệnh viện trong vai trò đầu

mối tổ chức đấu thầu thuốc, khen thưởng và xử lý kỷ luật kịp thời những tập

thể và cá nhân sai phạm thì sẽ không xảy ra tình trạng chậm trễ, đảm bảo công

tác đấu thầu thuốc diễn ra công khai, minh bạch, đúng quy định của pháp luật.

27

3.2.3. Nâng cao vai trò của Hội đồng thuốc và điều trị

Quy chế bệnh viện đã quy định chức năng nhiệm vụ của Hội đồng

Thuốc và điều trị, tham mưu cho Giám đốc bệnh viện các hoạt động liên quan

đến thuốc sử dụng trong điều trị.

Danh mục thuốc điều trị tại bệnh viện và danh mục thuốc biệt dược đưa

ra đấu thầu phải được Hội đồng thuốc & Điều trị thông qua.

Hội đồng thuốc và điều trị xây dựng phác đồ điều trị dựa theo những

hướng dẫn của Bộ Y tế và tổ chức y tế thế giới. Hội đồng thuốc và điều trị

phân tích, đánh giá, chọn lọc danh mục thuốc sao cho phù hợp với phác đồ

điều trị, tránh đưa vào danh mục đấu thầu quá nhiều thuốc, đặc biệt những

thuốc không cần thiết, hàm lượng lạ để tránh độc quyền, giá cao.

3.2.4. Tăng cƣờng công tác truyền thông giáo dục y đức

Bộ Y tế đã quy định 12 điều y đức.

Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt, để thắng thầu hoặc để đưa thuốc

vào sử dụng tại bệnh viện, các Công ty dược đã dùng lợi ích vật chất mua

chuộc cán bộ y tế, đặc biệt là những người đứng đầu. Do đó cần tăng cường

công tác tuyên tuyền, giáo dục y đức, thường xuyên sinh hoạt các chuyên đề

học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hiện lời dạy của

Bác: lương y phải như từ mẫu. Bên cạnh đó, phải thường xuyên kiểm tra,

giám sát hoạt động kê đơn sử dụng thuốc, tăng cường sử dụng biện pháp:

đường dây nóng, hòm thư góp ý. Khi có sự phản ảnh của quần chúng nhân

dân, người đứng đầu phải có trách nhiệm làm rõ sự việc, có hình thức khen

thưởng hoặc kỷ luật kịp thời.

3.2.5. Bồi dƣỡng đào tạo nghiệp vụ đấu thầu

Theo quy định của Luật Đấu thầu: người tham gia hoạt động đấu thầu

phải có chứng chỉ đấu thầu và 3 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực chuyên môn

28

(cung ứng sử dụng thuốc tại bệnh viện).

Đấu thầu là công việc phức tạp, nhạy cảm, nhiều công đoạn, nếu không

am hiểu luật sẽ khó khăn khi thực hiện và dễ xảy ra sai phạm, dẫn đến kết quả

không đúng.

3.2.6. Thay đổi hình thức đấu thầu

Hai bệnh viện thực hiện đấu thầu riêng lẻ trong thời gian qua gây mất

thời gian và công sức của cán bộ bệnh viện, chênh lệch giá thuốc giữa các đơn

vị, khó khăn cho việc thanh quyết toán BHYT.

Việc tổ chức đấu thầu hiện đang áp dụng không theo quy định tại điều

26, thông tư liên tịch 01/2012/TTLT-BYT-BTC:

Theo đề nghị của UBND tỉnh giao Sở Y tế xây dựng kế hoạch đấu thầu

tập trung cho các đơn vị trực thuộc theo đúng quy định của Thông tư 01.

Sở Y tế là cơ quan chuyên môn quản lý, điều hành mọi hoạt động trong

ngành y tế, có thể điều động nhân sự từ tất cả các bệnh viện trong tỉnh phục

vụ cho công tác đấu thầu, trực tiếp xử lý mọi tình huống xảy ra một cách

nhanh chóng. Sở Y tế có phòng chức năng là Nghiệp vụ dược tham mưu công

tác đấu thầu thuốc và chuyên môn về dược.

Hiện cả nước đã có 48 tỉnh, thành thực hiện đấu thầu tập trung.

Đấu thầu tập trung là giải pháp thích hợp, thu hút nhiều nhà thầu tham

gia, tăng tính cạnh tranh trong đấu thầu; huy động được nguồn lực tham gia

xét thầu của các bệnh viện, nhằm tiết kiệm thời gian, đảm bảo việc mua thuốc

trong các cơ sở y tế công lập theo đúng luật, giá thống nhất trong toàn tỉnh,

đồng thời dành thời gian cho cán bộ y tế làm công việc chuyên môn.

3.2.7. Tăng cƣờng tính công khai hóa, minh bạch trong công tác đấu thầu

thuốc.

Việc tổ chức đấu thầu thuốc cần được công khai, minh bạch bằng cách:

29

- Mời cơ quan Bảo hiểm xã hội tham gia vào công tác đấu thầu;

- Công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng;

- Danh mục đấu thầu phải được nhiều người tham gia xây dựng;

- Giá thuốc phải được công khai để nhân dân kiểm tra, giám sát.

3.2.8. Ứng dụng công nghệ thông tin:

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã mang lại nhiều tiện ích trên tất

cả các lĩnh vực và được ứng dụng rộng rãi trong quản lý.

Danh mục thuốc đấu thầu rất nhiều nồng độ, hàm lượng, chủng loại,

quy cách khác nhau. Các cơ sở y tế trong tỉnh An Giang chấm thầu thủ công

nên đã mất nhiều thời gian và thường chậm hơn so với quy định của luật,

ngoài ra không đảm bảo tính khách quan, gây sai lệch kết quả.

Đã có nhiều địa phương sử dụng phần mềm để chấm thầu mua thuốc.

Trang bị phần mềm chấm thầu thuốc để rút ngắn thời gian, khắc phục

sự chủ quan, tùy tiện, đảm bảo sự công khai, minh bạch.

3.2.9. Tổ chức tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát

Hàng năm, Giám đốc Sở Y tế cần chỉ đạo tăng cường các hoạt động

kiểm tra, giám sát công tác đấu thầu tại bệnh viện. Thanh tra chuyên đề đấu

thầu thuốc, đưa công tác thanh tra đấu thầu thuốc vào trong kế hoạch thanh tra

30

phòng chống tham nhũng.

KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ

Sự ra đời của Luật Đấu thầu năm 2005 đã làm cho công tác đấu thầu trở

thành công việc thường xuyên và bắt buộc trong các cơ sở y tế công lập. Do

sự phức tạp, đa dạng của các mặt hàng thuốc, cùng với việc chấm thầu thủ

công, các bệnh viện đã gặp rất nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian để tổ chức

một đợt đấu thầu và thực hiện một gói thầu hoàn chỉnh. Tình trạng mua ngoài

thầu xảy ra thường xuyên do chưa có kết quả thầu hoặc nhà thầu trúng thầu

nhưng không cung cấp vì trượt giá. Ngoài công việc chuyên môn, công việc

đấu thầu thuốc đã chiếm một phần không nhỏ trong quỹ thời gian của cán bộ

y tế.

Văn bản hướng dẫn đấu thầu thuốc chưa hoàn chỉnh, thời gian một đợt

đấu thầu kéo dài; việc chấp hành luật chưa nghiêm, nhiều yếu tố tác động, dẫn

đến hậu quả trong một số trường hợp là thiếu thuốc phục vụ cho nhu cầu điều

trị; tốn kém chi phí hành chính, lưu trữ hồ sơ, nhất là khi các bệnh viện đấu

thầu riêng lẻ; dễ phát sinh sai sót và tiêu cực.

Kiến nghị

- Đối với Trung ương:

Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn về đấu thầu mua thuốc.

Nhà nước có chính sách ưu tiên trong đấu thầu đối với hàng sản xuất

trong nước để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp dược.

Bộ Y tế tổ chức đấu thầu tập trung cấp quốc gia đối với một số mặt

hàng chủ lực.

Sửa đổi bổ sung các thông tư hướng dẫn đấu thầu thuốc cho phù hợp.

- Đối với địa phương:

UBND tỉnh và Sở Nội vụ giải quyết vấn đề nhân sự giúp kiện toàn tổ

31

chức bộ máy quản lý dược tại địa phương.

Sở Y tế tổ chức đấu thầu tập trung thuốc, hóa chất, vật tư y tế cho cả

tỉnh.

Bệnh viện cần công tâm, khách quan trong lựa chọn nhà thầu, nâng cao

hiệu quả phương pháp xét chọn nhà thầu, chú trọng vào năng lực của nhà thầu

32

và chất lượng sản phẩm. /.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bệnh viện ĐKTTAG (2010-2013), Kế hoạch đấu thầu & HSMT mua

thuốc.

2. Bệnh viện đa khoa thị xã Tân Châu (2008-2010), Kế hoạch đấu thầu &

HSMT mua thuốc.

3. Bệnh viện đa khoa huyện Phú Tân (2012), Kế hoạch đấu thầu & HSMT

mua thuốc.

4. Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (2010), Mẫu hồ sơ mời thầu Mua sắm hàng

hoá, ban hành theo Thông tư số 05/2010/TT-BKH ngày 10 tháng 02 năm

2010.

5. Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (2010), Mẫu báo cáo thẩm định đấu thầu,

Thông tư số 08/2010/TT-BKH ngày 21 tháng 04 năm 2010.

6. Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (2010), Mẫu báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu

đối với gói thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp, Thông tư số 09/2010/TT-

BKH ngày 21 tháng 04 năm 2010.

7. Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (2010), Quy định về đào tạo và bồi dưỡng nghiệp

vụ đấu thầu, Thông tư số 10/2010/TT-BKH ngày 13 tháng 5 năm 2010.

8. Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (2010), Quy định chi tiết về chào hàng cạnh

tranh, Thông tư số 11/2010/TT-BKH ngày 27 tháng 5 năm 2010.

9. Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (2010), Quy định chi tiết về thẩm định hồ sơ

mời thầu, hồ sơ yêu cầu, Thông tư số 21/2010/TT-BKH ngày 28 tháng 10

năm 2010

10. Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (2011), Quy định chi tiết kiểm tra về công tác đấu

thầu theo qui định của Luật Đấu thầu, Thông tư 01/2011/TT-BKHĐT ngày

33

04 tháng 01 năm 2011.

11. Bộ Tài Chính (2012), Hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản

nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nướ, tổ chức

chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp,

đơn vị vũ trang nhân dân, Thông tư số 68/2012/TT-BTC ngày 26 tháng 4

năm 2012.

12. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010), Quy định chi tiết việc cung

cấp thông tin về đấu thầu để đăng tải trên báo đấu thầu, Thông tư số

20/2010/TTLT-BKH-BTC ban hành ngày 21 tháng 9 năm 2010.

13. Bộ Y tế - Bộ Tài chính - Bộ Công thương (2011), Hướng dẫn thực hiện

quản lý nhà nước về giá thuốc dùng cho người, Thông tư liên bộ số

50/2011/TTLT-BYT-BTC-BCT ngày 30/12/2011.

14. Bộ Y Tế - Bộ Tài Chính (2012), Hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong

các cơ sở y tế, Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 19

tháng 01 năm 2012.

15. Bộ Y Tế (2012), Hướng dẫn lập hồ sơ mời thầu mua thuốc, Thông tư số

11/2012/TT-BYT ngày 28 tháng 6 năm 2012.

16. Bộ Y tế (1997), Hướng dẫn việc tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Hội

đồng thuốc và điều trị của Bệnh viện, Thông tư số 08/TT-BYT ngày 04

tháng 7 năm 1997.

17. Bộ Y tế (2009), về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ

thông tin trong ngành Y tế, Chỉ thị số 02/CT-BYT ngày 25 tháng 02 năm

2009.

18. Bộ Y tế (2010), về việc tăng cường công tác quản lý hoạt động cung

ứng, sử dụng thuốc và giá thuốc trong các cơ sở khám, chữa bệnh công

lập, Công văn số 2904/BYT-QLD ngày 07 tháng 5 năm 2010.

19. Bộ Y tế (2011), Quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh

34

viện, Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10 tháng 6 năm 2011.

20. Bộ Y tế (2011), Ban hành và hướng dẫn thực hiện Danh mục thuốc chủ

yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế

thanh toán, Thông tư 31/2011/TT-BYT ngày 11 tháng 7 năm 2011.

21. Chính phủ (2004), Quản lý giá thuốc phòng, chữa bệnh cho người, Nghị

định số 120/2004/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2004.

22. Chính phủ (2006), Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Dược,

Nghị định số 79/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006.

23. Chính phủ (2007), về việc Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan

nhà nước, Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007

24. Chính phủ (2009), Hướng dẫn thi hành Luật Đấu Thầu và lựa chọn nhà

thầu xây dựng theo Luật Xây dựng, Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày

15/10/2009.

25. Quốc Hội (2005), Luật Dược, số 34/2005/QH11 ngày 14/6/2005.

26. Quốc Hội (2005), Luật Đấu thầu, số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005.

28. Thủ tướng Chính phủ (2010), về việc sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất

27. Quốc Hội (2009), Luật Sửa đổi, số 38/2009/QH12 ngày 19/06/2009.

trong nước trong công tác đấu thầu các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà

nước, Chỉ thị số 494/CT-TTg ngày 20/4/2010.

29. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2013), Chương trình công tác năm

35

2013, Chương trình số 01/Ctr-UBND ngày 29/01/2013.