
1
Tiểu luận
NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN BÌNH THƯỜNG
HOÁ QUAN HỆ VIỆT – TRUNG

2
Mục Lục
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………….……………….2
I. Nguyên nhân bình thường hoá quan hệ Việt- Trung……….…...……3
1. Nguyên nhân từ phía Việt Nam……………………………………….3
a, Nguyên nhân khách quan………………………………………….......3
b, Nguyên nhân chủ quan ………………………………………………..5
2. Nguyên nhân từ phía Trung Quốc…………………………………….6
a, Nguyên nhân khách quan……………………………………………..6
b, Nguyên nhân chủ quan…………………………………………...…...7
II. Bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, ta đã được những gì?....8
1.Giai đoạn 1979-1988…………………………………………………...8
2. Giai đoạn 1988- 1990……………………………………………….…9
3. Giai đoạn 1990-1991…………………………………………………..11
LỜI KẾT…………………………………………………………………15
Danh muc tài liệu tham khảo…………………………………………..16

3
LỜI MỞ ĐẦU
Cách đây 30 năm, lúc 5 giờ sáng ngày 17/2/1979, Trung Quốc, dưới sự chỉ đạo
của Đặng Tiểu Bình, đã đưa 80 ngàn quân nổ súng tràn qua biên giới Việt – Trung,
đánh chiếm 6 tỉnh phía bắc thuộc vùng biên giới. Đến ngày 5/3 thì Trung Quốc đơn
phương rút quân về biên giới Trung Quốc. Trong suốt 16 ngày tràn qua biên giới, họ
gọi là “dạy cho Cộng sản Việt Nam một bài học”, bọn chúng không chỉ phá tan 6 tỉnh
biên giới còn dẫn đến thương vong đáng kể. Cuộc chiến này là hậu quả của một chuỗi
những xung đột quan điểm giữa Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc liên quan đến
cuộc chiến Việt Nam từ năm 1969, khi Trung Quốc mở cuộc tiếp xúc với Hoa Kỳ.
Trên bề mặt, Trung Quốc giúp cho Cộng sản Việt Nam tiền hành các cuộc chiến tranh
ở miền Nam Việt Nam, nhưng trong thâm tâm, Trung Quốc không muốn Cộng sản
Việt Nam chiếm miền Nam, thống nhất hai miền để trở thành một lực lượng đối trọng
của Bắc Kinh. Do đó, sau khi Việt Nam thống nhất hai miền, Trung Quốc công khai
ủng họ Pon Pot từ sau năm 1975 và đến năm 1978 thì cắt đứt quan hệ ngoại giao với
Việt Nam. Chúng tạo ra những cuộc xung đột biên giới phía Tây giữa Cộng sản Việt
Nam và Khơ Me Đỏ, hòng ngăn chặn ý đồ xây dựng liên bang Đông Dương của Hà
Nội. Cuộc xung đột bùng nổ lớn khi Cộng Sản Việt Nam chính thức ký hiệp ước hữu
nghị với Liên Xô vào tháng 6/1978 và tiến hành chiến tranh biên giới Tây Nam với
Khơ Me Đỏ vào 1/1979. Đối với Trung Quốc lúc đó hành động thân thiện với Liên
Xô và đưa quân vào Campuchia của Cộng sản Việt Nam là một sự khiêu khích. Tuy
nhiên, Đặng Tiểu Bình không thể đưa quân sang giúp Pon Pot vì sợ Hoa Kỳ và các
quốc gia phương Tây cô lập. Do vậy, Đặng chọn con đường tiến thẳng vào Việt Nam
với danh nghĩa “phản công tự vệ” để cứu người Hoa đang bị Hà Nội đàn áp.
Ngay sau khi chiến tranh biên giới phía Bắc với Trung Quốc kết thúc, Việt
Nam đã ngay lập tức đơn phương đề nghị hai nước bình thường hoá quan hệ. Tuy
nhiên để thực hiện ý đồ của mình, Trung Quốc luôn tìm cớ để từ chối và tiếp tục công
kích Việt Nam về mọi mặt cho đến năm tận cuối những năm 80 đầu năm 90. Vậy, lý
do gì mà tận đến thời điểm cuối những năm 80 và đầu những năm 90 này tiến trình
bình thường hoá Việt- Trung mới tiến triển và có kết quả và trong quá trình bình
thường hoá quan hệ Việt –Trung đó, Việt Nam đã đạt được những gì ? Đó chính là hai
vấn đề chính mà em sẽ trình bày trong bài tiểu luận của mình.

4
I. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN BÌNH THƯỜNG HOÁ QUAN HỆ
VIỆT – TRUNG.
1. Nguyên nhân từ phía Việt Nam
a, Nguyên nhân khách quan:
Năm 1989, chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu như CHDC Đức,
Ba Lan, Hungari, Tiệp Khắc đều đã sụp đổ. Ở Liên Xô, với “tư duy mới” của
Gorbachov, tình hình chính trị càng trở nên lộn xộn và chủ nghĩa xã hội cũng theo
đó mà tan rã.
Theo suy nghĩ thông thường thì sự sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô làm cho Việt
Nam mất đi nguồn viện trợ chính. Nhưng thật ra, các sự kiện Đông Âu 1989-1990
không có mấy ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam, mà chủ yếu ảnh hưởng đến tâm
lý tầng lớp lãnh đạo Việt Nam. . Số liệu thống kê cho thấy năm 1989, Việt Nam đã
bắt đầu xuất khẩu dầu thô và gạo ở mức độ đáng kể. Năm 1989 xuất khẩu 1,4 triệu tấn
gạo, trong khi chỉ 3 năm trước (1986) lượng gạo xuất khẩu là 0,158 triệu tấn. Cũng
ngay trong năm 1989, giá trị xuất khẩu sang khu vực ngoại tệ chuyển đổi (các nước tư
bản) tăng vọt lên 1,139 tỉ đô la từ con số 350 triệu đô la của năm 1988. Trong khi năm
1988, xuất khẩu sang khu vực ngoại tệ không chuyển đổi (các nước xã hội chủ nghĩa)
còn chiếm 55,6 % tổng giá trị xuất khẩu thì năm 1989, xuất khẩu sang các nước tư
bản đã chiếm 58,5% tổng giá trị xuất khẩu. Năm 1991, tuy xuất khẩu sang thị trường
các nước xã hội chủ nghĩa sụt hẳn xuống còn 80 triệu rúp từ con số 1,1 tỉ rúp của năm
trước, nhưng xuất khẩu sang các nước tư bản cũng tăng mạnh lên gần 1,9 tỉ đô la,
khiến tổng giá trị xuất khẩu năm 1991 tuy thấp hơn năm 1990 nhưng vẫn cao hơn
năm 19891. Do sự chuyển hướng chiến lược trong các năm 1987-88 cho nên ngay
trong thời gian xảy ra các sự biến ở Đông Âu và Liên Xô (1989-91), Việt Nam đã tạo
được xu thế hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, tạo được chỗ bám vào thị
trường thế giới. Vốn đầu tư nước ngoài (đăng ký) tăng từ 371 triệu đô la năm 1988 lên
582 triệu năm 1989, 839 triệu năm 1990 và 1,322 tỉ năm 1991. Xuất khẩu sang các
nước tư bản tăng từ 448 triệu đô la năm 1988 lên 1,138 tỉ năm 1989, 1,352 tỉ năm
1990, và 2,010 tỉ năm 1991. Nhập khẩu từ các nước tư bản cũng tăng từ 804 triệu đô
la năm 1988 lên 879 triệu năm 1989, 1,372 tỉ năm 1990, và 2,049 tỉ năm 1991. Như
vậy ngay trong năm 1991, tức là trước khi Liên Xô sụp đổ, Việt Nam đã thu được ở
thị trường các nước tư bản khoảng 2 tỉ đô la tiền xuất khẩu, gấp đôi số tiền thu được
từ bán hàng sang các nước xã hội chủ nghĩa vào thời điểm đỉnh cao trước đây (1,1 tỉ
rúp năm 1990). Mặt khác, nếu viện trợ kinh tế và vay nợ từ các nước xã hội chủ nghĩa
(ước khoảng 1-2 tỉ đô la một năm trong những năm 80) mất đi thì Việt Nam lại được
bù đắp một khoản tương ứng từ đầu tư trực tiếp của nước ngoài cũng như các khoản
viện trợ và cho vay từ các nước tư bản. Năm 1991 Việt Nam nhận được 1,079 tỉ đô la
cho vay và 526 triệu viện trợ từ nước ngoài. Ngoài ra còn có hơn 1,3 tỉ đô la đầu tư
1 (Các số liệu trên theo Tổng cục Thống kê, Số liệu thống kê Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1986-
1991. Hà Nội: Nxb Thống kê, 1992, tr. 93-94).

5
trực tiếp của nước ngoài được cam kết2. Tóm lại, không thể nói sự tan rã của Liên Xô
và khối xã hội chủ nghĩa đã tác hại nặng nề lên nền kinh tế Việt Nam.
Ngược lại sự sụp đổ xã hội chủ nghĩa ở một loạt các nước liên tiếp đã gây
phản ứng mạnh mẽ trong đông đảo các cán bộ lãnh đạo của Việt Nam. Sự sụp đổ
của khối xã hội chủ nghĩa đã gây ra hụt hẫng nghiêm trọng trong hình dung về thế
giới xã hội chủ nghĩa này. Nhìn thế giới qua lăng kính “hai phe, bốn mâu thuẫn”,
nhiều người lo sợ rằng sau Đông Âu sẽ đến Việt Nam, cảm nhận rằng mối đe doạ
nguy hiểm nhất xuất phát từ Mỹ, coi liên minh giữa các chế độ xã hội chủ nghĩa
còn lại là yêu cầu khách quan của tình thế. Yêu cầu chống đế quốc, bảo vệ xã hội
chủ nghĩa đối với họ trở nên cấp bách hơn yêu cầu phát triển hiện đại hoá. Như
vậy trong hoàn cảnh thực tế, muốn phát triển, hiện đại hoá thì phải cộng tác với
các trung tâm kinh tế và khoa học hiện do các nước phương Tây năm giữ, yêu cầu
chống đế quốc bảo vệ chủ nghĩa xã hội trở nên mâu thuẫn với yêu cầu phát triển
hiên đại hoá.
Xuất phát từ yêu cầu chống đế quốc, bảo vệ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam
muốn sớm bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, thành trì còn lại của chủ
nghĩa xã hội , cũng như giải quyết vấn đề Campuchia. Tổng bí thư Nguyễn Văn
Linh nói trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 10/4/1990: “Việt Nam và Trung Quốc
là hai nước xã hội chủ nghĩa cùng chống âm mưu đế quốc xóa bỏ chủ nghĩa xã
hội, phải cùng chống đế quốc. Trước hết phải phát triển quan hệ giữa hai nước,
các vấn đề khác giải quyết sau … Một Campuchia thân thiện với Trung Quốc,
thân thiện với Việt Nam là tốt nhất. Trên cơ sở điểm đồng này mà giải quyết vấn
đề Campuchia có lợi cho Campuchia … Không để Liên Hợp Quốc nhúng tay vào
vì Liên Hợp Quốc là Mỹ, Thái Lan là Mỹ” 3
Tuy nhiên, cùng một chủ trương bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc,
nhưng mỗi đại chiến lược có một động cơ khác nhau. Chiến lược lớn thứ nhất xuất
phát từ động cơ “đoàn kết với Trung Quốc bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chống đế
quốc”. Chiến lược lớn thứ hai xuất phát từ động cơ “đa phương hóa quan hệ, phá
thế bị bao vây”. Quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc trong các năm
1990-91, về lý thì là “thực hiện Nghị quyết 13 Bộ Chính trị” nhưng thực chất
không phải nhằm đa phương hóa, tạo thế cân bằng giữa các nước lớn, như tinh
thần của những người dự thảo Nghị quyết 13, mà động cơ thực sự, như Bộ trưởng
Quốc phòng Lê Đức Anh giải thích cho lãnh đạo Campuchia về cuộc gặp cấp cao
Việt-Trung ở Thành Đô, là: “Mỹ và phương Tây muốn cơ hội này để xóa cộng
sản. Nó đang xóa ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xóa cộng sản trên toàn thế giới. Rõ
ràng nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này
là Trung Quốc”4. Như vậy, đây có phải là nhận thức đúng đắn của lãnh đạo Việt
2 (Các số liệu trên theo Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 1995. Hà Nội: Nxb Thống kê, 1996, tr. 51,
64, 253; các số liệu thống kê chỉ có tính tương đối, lưu ý sự khác nhau giữa TCTK 1992 và TCTK 1996 về
giá trị xuất khẩu sang khu vực ngoại tệ chuyển đổi năm 1991)
3 Trần Quang Cơ- Hồi Ức và Suy Nghĩ .
4 Trần Quang Cơ- Hồi Ức và Suy Nghĩ

