
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BÀI TẬP NHÓM
KINH TẾ PHÁT TRIỂN
So sánh sự khác nhau trong nội dung của các khái niệm lợi thế trong thương mại
quốc tế. Theo các dấu hiệu lợi thế, hãy phân tích nội dung quan hệ thương mại của
các nước đang phát triển với các nước phát triển. Bình luận về hiệu ứng (trước
mắt và lâu dài) của mối quan hệ thương mại này đối với các nước đang phát triển
HÀ NỘI, THÁNG 06- 2013

LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa nền kinh tế là quá trình phổ biến theo hướng nhất thể hóa trên phạm vi
toàn cầu những giá trị, tri thức, những hoạt động những mô hình cấu trúc trong lĩnh vực
kinh tế và khoa học kĩ thuật. Chính vì thế việc phát triển quan hệ thương mại quốc tế là rất
quan trọng đối với bất kì quốc gia nào. Trong đó các nước đang phát triển tham gia với
động lực là mở rộng thị trường xuất khẩu tạo mối liên kết giữa các quốc gia, khu vực với
nhiều hình thức phong phú và hiệu quả. Và cho đến nay một số quốc gia đang phát triển
đã có tiến bộ vượt bậc như: Ở Đông Nam Á có Thái Lan, Malayxia, Singapo đã chuyển
mạnh sang hướng xuất khẩu và có thành quả tốt. Tận dụng những lợi thế của mình về lao
động và nguồn tài nguyên phong phú, việc tham gia thương mại quốc tế giúp cho các nước
đang phát triển có nhiều cơ hội việc làm, nâng cao mức sống dân cư và còn có cơ hội hội
nhập vào thị trường tài chính toàn cầu. Để phân tích những lợi thế này nhóm em xin đưa ra
đề tài nguyên cứu: ‘‘So sánh sự khác nhau trong nội dung của các khái niệm lợi thế
trong thương mại quốc tế. Theo các dấu hiệu lợi thế, hãy phân tích nội dung quan hệ
thương mại của các nước đang phát triển với các nước phát triển. Bình luận về hiệu
ứng (trước mắt và lâu dài) của mối quan hệ thương mại này đối với các nước đang phát
triển’’ nhằm có cái nhìn đúng đắn về mối quan hệ này từ đó có thể đưa ra các giải pháp
phù hợp để phát triển thương mại quốc tế tại các nước đang phát triển.

1. So sánh sự khác nhau trong nội dung của các khái niệm lợi thế trong thương mại
quốc tế
1.1 Các khái niệm lợi thế
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế khi mỗi quốc
gia tập trung chuyên môn hoá vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm có mức chi phí sản
xuất thấp hơn hẳn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chi phí trung bình của quốc tế
thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi. Nếu một quốc gia không thu được gì, hoặc bị lỗ, họ
sẽ từ chối thương mại.
Thương mại giữa hai quốc gia được dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối. Khi một quốc gia
sản xuất một hàng hóa có hiệu quả hơn so với quốc gia khác nhưng kém hiệu quả hơn
trong sản xuất hàng hóa thứ hai, haiquốc gia có thể thu được lợi ích bằng cách mỗi quốc
gia chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu hàng hóa có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩu hàng
hóa không có lợi thế. Thông qua quá trình này, các nguồn lực được sử dụng một cách hiệu
quả nhất và sản lượng của cả hai hàng hóa đều tăng. Sự tăng lên về sản lượng của haihàng
hóa này do lượng thặng dư từ chuyên môn hóa trong sản xuất được phân bố lại giữa hai
quốc gia thông qua thương mại.
Theo khía cạnh này, một quốc gia cũng tương tự như một cá nhân, không nên cố gắng
sản xuất tất cả hànghóa cho mình, mà nên tập trung sản xuất hàng hóa mình có sở trường
nhất, đem trao đổi một phần sản phẩm đó lấy sản phẩm khác cần dùng, theo cách này tổng
sản lượng của các cá nhân cộng lại sẽ tăng, phúc lợi của mỗi các nhân cũng tăng.
Lý thuyết lợi thế so sánh
Lợi thế so sánh hay Ưu thế so sánh là một nguyên tắc trong kinh tế học phát biểu rằng
mỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa
mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (hay tương đối có hiệu quả hơn các
nước khác); ngược lại, mỗi quốc gia sẽ được lợi nếu nó nhập khẩu những hàng hóa mà
mình có thể sản xuất với chi phí tương đối cao (hay tương đối không hiệu quả bằng các
nước khác). Nguyên tắc lợi thế so sánh cho rằng một nước có thể thu được lợi từ thương
mại bất kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước khác
trong việc sản xuất mọi hàng hóa.
Nguyên tắc lợi thế so sánh là khái niệm trọng yếu trong nghiên cứu thương mại quốc
tế. Nhà kinh tế học được giải thưởng Nobel năm 1970 Paul Samuelson đã viết: "Mặc dù có
những hạn chế, lý thuyết lợi thế so sánh vẫn là một trong những chân lý sâu sắc nhất của
mọi môn kinh tế học. Các quốc gia không quan tâm đến lợi thế so sánh đều phải trả một
cái giá rất đắt bằng mức sống và tăng trưởng kinh tế của chính mình."

Lý thuyết lợi thế nguồn lực
Lý thuyết lợi thế nguồn lực cho rằng các nước có nhiều vốn sẽ có lợi thế về chi phí về
giá cả trong sản xuất hàng hóa công nghiệp những hàng hóa cần nhiều vốn hơn lao động.
Họ có lợi nhuận trong việc chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng nhiều vốn
để đổi lại nhập khẩu những mặt hàng có hàm lượng lao động từ những nước dồi dào về lao
động. Lý thuyết về lợi thế nguồn lực:
- Những sản phẩm khác nhau đòi hỏi các yếu tố sản xuất khác nhau. Ví dụ, sản phẩm
nông nghiệp đòi hỏi nhiều lao động trên một đơn vị tư bản hơn so với sản phẩm công
nghiệp, những sản phẩm đòi hỏi nhiều vốn hơn so với với 1 đơn vị lao động hơn phần lớn
những sản phẩm thô. Tỷ lê các yếu tố sản xuất những hàng hóa khác nhau sẽ phụ thuộc
vào tương quan giá cả của chúng
- Các nước có mức độ sẵn có về các yếu tố nguồn lực khác nhau. Nhìn chung, các
nước phát triển dồi dào về nguồn vốn trong khi phần lớn các nước đang phát triển tương
đối dồi dào nguồn lao động
1.2 So sánh sự khác nhau trong nội dụng của các khái niệm lợi thế trong thương mại
quốc tế
1.2.1. Giống nhau
- Đề cao vai trò của các cá nhân và doanh nghiệp, ủng hộ một nền thương mại tự do,
không có sự can thiệp của chính phủ.
- Các quốc gia đều nhận được lợi ích từ việc tham gia thương mại quốc tế.
- Thấy được tính ưu việt của chuyên môn hóa
- Không có chi phí vận chuyển về hàng hóa
- Những hàng hóa trao đổi giống hệt nhau
- Các nhân tố sản xuất chuyển dịch một cách hoàn hảo.
- Không có thuế quan và rào cản thương mại
- Thông tin hoàn hảo dẫn đến cả người bán và người mua đều biết nơi có hàng hoá rẻ
nhất trên thị trường quốc tế.
1.2.2. Khác nhau
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Sử dụng yếu tố chi phí sản xuất trong quá trình tạo ra một sản phẩm để so sánh lợi thế
giữa các quốc gia trong quá trình tham gia thương mại quốc tế. Mỗi quốc gia tập trung
chuyên môn hoá vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm có mức chi phí sản xuất thấp
hơn hẳn so với các quốc gia khác. Xét theo chi phí sản xuất thì trong ví dụ dưới đây, Việt
Nam sản xuất thép và quần áo đều có chi phí cao hơn Nga. Lợi thế tuyệt đối chỉ ra rằng
Việt Nam không có khả năng xuất khẩu sản phẩm nào sang Nga.

Sản phẩm Chi phí sản xuất (ngày công theo lao động)
Việt Nam Nga
Thép (1 đơn vị) 25 16
Quần áo (1 đơn vị) 5 4
Lý thuyết lợi thế so sánh
Sử dụng yếu tố chi phí cơ hội trong quá trình tạo ra một sản phẩm để so sánh lợi thế
giữa các quốc gia trong quá trình tham gia thương mại quốc tế. Xét ví dụ ở trên ta thấy, để
sản xuất 1 đơn vị thép ở Việt Nam cần 5 đơn vị quần áo trong khi ở Nga chỉ cần 4 đơn vị.
Nhưng ngược lại chi phí sản xuất quần áo ở Việt Nam lại thấp hơn ở Nga, để sản xuất ra 1
đơn vị quần áo ở Việt Nam cần 1/5 đơn vị thép, trong khi ở Nga cần 1/ 4 đơn vị. Điều này
chỉ ra rằng Việt Nam và Nga có thể trao đổi sản phẩm cho nhau. Nga xuất khẩu thép sang
Việt Nam và Việt Nam xuất khẩu quần áo sang Nga.
Lý thuyết lợi thế nguồn lực
Trong các lý thuyết về lợi thế so sánh mới chỉ đề cập đến những nguồn lực cụ thể như:
vốn, hao phí lao động, nguyên vật liệu... tức là những nguồn lực cụ thể có hình hài, cân
đong đo đếm được, tính được hệ số so sánh mà ta gọi đó là nguồn lực hữu hình. Bên cạnh
đó còn có nguồn lực vô hình, khó đo đếm (vị trí địa lý, tiềm năng du lịch, nguồn nhân lực
trí tuệ) cần được đánh giá đúng tầm quan trọng của chúng để có biện pháp khai thác. Lý
thuyết lợi thế nguồn lực phân tích sâu về nguyên nhân vì sao giữa các nước lại có chi phí
so sánh khác nhau. Đó chính là do sự khác nhau về mức độ sử dụng yếu tố để sản xuất sản
phẩm sẽ quyết định sự khác biệt về chi phí so sánh. Trong ví dụ ở trên, Việt Nam là nước
tương đối sẵn về lao động sẽ sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may là mặt hàng cần nhiều
lao động. Còn Nga là nước tương đối sẵn có về vốn sẽ sản xuất và xuất khẩu thép, là mặt
hàng cần nhiều vốn.
2. Phân tích nội dung thương mại quốc tế của các nước đang phát triển đối với các
nước phát triển theo các dấu hiệu lợi thế
Từ việc phân tích mối quan hệ thương mại qua các dấu hiệu lợi thế dẫn đến nội dung
hoạt động xuất nhập khẩu ở dưới
2.1 Hoạt động xuất khẩu
Theo Các lý thuyết lợi thế ở trên thì bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế
thì phải biết được thế mạnh cũng như lợi thế lớn nhất của mình để từ đó tập trung các
nguồn lực vào khai thác, sử dụng và phát huy hơn nữa các lợi thế đó .Có như vậy mới có
thể đem về lợi ích tối đa cho đất nước.Điều này lại càng quan trọng với những nước đang
phát triển. Hầu hết các nước đang phát triển đều là những nước có một khu vực nông
nghiệp rất lớn; nông nghiệp vẫn luôn chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế quốc dân, lực
lượng lao động dồi dào nhưng trình độ dân trí, tay nghề thấp, tiềm lực về vốn lại không có
nên chưa thể đủ khả năng để phát triển sản xuất những ngành công nghiệp nặng, những
ngành có hàm lượng chất xám cao. Từ đặc điểm tự nhiên, kinh tế, lao động,…cho thấy lợi

