TIỂU LUẬN:
Thực trạng của công đoạn gia
công hoàn thiện sách
Lời nói đầu
Ngành in nước ta được sự quan tâm thường xuyên toàn diện của Đảng
Chính phủ, đã gắn với Đảng ta từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến
từ đó đến nay ngành in vươn lên và phát triển không ngừng. một ngành luôn giữ
vững vai trò quan trọng trong hệ thống các công cụ tuyên truyền, giáo dục
tưởng, nâng cao dân trí, khơi dậy ý thức trách nhiệm của mỗi người dân.
Trong công cuộc đổi mới đất ớc ta hiện nay, Đảng Nhà ớc đã đề ra
những mục tiêu nhằm đưa nền công nghiệp của chúng ta tiến tới công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất ớc để theo kịp trình độ khoa học kỹ thuật của các nước trong
khu vực. Trong đó ngành in đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiến lên của đất
ớc, phục vụ kịp thời nhu cầu văn hoá, chính trị, xã hội của nhân dân.
Hoạt động của ngành in đã thích nghi dần đứng vững trước thử thách của
chế thị trường. Hội nghliên ngành in toàn quốc 1992 đã tập trung trí tuệ đánh
giá những ưu điểm, đồng thời phê phán những sai lệch, chra những yếu kém
nêu những biện pháp đồng bộ đưa ngành in phát triển đúngớng. Trong từng đơn
vị, scũng đã ớc đổi mới về công tác tổ chức, quản lý cũng như về trang
thiết bị đ đáp ứng nhu cầu văn hoá, thông tin ngày ng tăng của hội, nhất
đang trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, thị hiếu đòi hỏi ngày càng cao.
Điều đó đã góp phần thúc đẩy cho công cuộc đổi mới đất nước. Nền kinh tế
được chuyển đổi từ chế bao cấp sang cơ chế thị trường tạo nên sự tăng trưởng
về mọi mặt, đời sống của nhân dân đã được cải thiện vì thế văn hoá tinh thần cũng
dần được nâng cao hơn. Do vậy ng tác tuyên truyền văn hoá như: xuất bản, in,
phát hành còn phải những bước phát triển mạnh, các cơ sin đã hoàn thành
nhiệm vụ của Đảng, Nhà ớc góp phần ch cực đưa những tiến bộ của khoa học
thế giới vào nền văn hoá của ớc ta. Thông qua những ấn phẩm như sách, báo,
tạp chí, v.v... nhằm nâng cao dân trí ở mọi miền.
Trong đó nhà máy in Quân Đội đã góp phần quan trọng vào những thành tựu
kể trên. Cơ sin này ra đời từ những năm đầu của cuộc kháng chiến đã mang tiếng
nói của cách mạng, ngôn luận của Đảng đi suốt những chặng đường lịch sử. đã
góp phần đánh dấu những mốc son huy hoàng của quândân ta. Ngày nay nhiệm
vụ ch yếu của cơ sin này là in biểu mẫu, tạp chí, sách phục vụ chính trị, kinh tế,
hội, đưa đường li chủ trương của Đảng đến khắp mi miền đất ớc, cũng
như đến với các nước trong khối ASEAN.
Để đáp ứng tốt nhiệm vụ trên, các ấn phẩm in cần phải nhanh, chất lượng cao
thì song song với việc đầu trang thiết bmới, việc thiết lập một hình tổ chức
điều hành sản xuất hợp cũng được các cấp lãnh đạo công ty quan tâm để đưa
công ty lên một tầm cao như ở các nước đang phát triển.
Đồ án của tôi được bố cục như sau:
Phần thứ nhất: Tổng quan đề tài.
Phần thứ hai : sở lý thuyết chung.
Phần thứ ba : Thực trạng của công đoạn gia công hoàn thiện sách.
Phần thứ tư : Một số giải pháp đầu tư.
Phần thứ năm : Kết luận chung.
Phần thứ nhất
Tổng quan
I. Sự phát triển của ngành in trong sự phát triển chung của toàn xã hội.
I.1.1. Ngành in Việt Nam trước công cuộc đổi mới.
Hơn nửa thế kỷ qua, trong từng giai đoạn lịch sử của dân tộc, đội ncông
nhân ngành in Việt Nam đã những đóng góp quý báu cho snghiệp cách mạng
bằng chính những sản phẩm của mình.
Mỗi chặng đường lịch sử ngành in luôn gắn với Đảng, Nhà ớc, phục vụ
đáp ứng những i liệu v chính trị, văn hoá, kinh tế trong điều kiện trang thiết bị
vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ công nhân còn bị hạn chế cả về trình độ văn
hoá kỹ thuật chuyên môn. Do vậy chưa đáp ứng được đầy đủ với nhu cầu của
hội về tất cả các mặt: Số lượng, chủng loại, chất lượng, kỹ thuật và mỹ thuật, có một
khoảng cách rất xa so với các ớc trong vùng cũng như trên thế giới. Đó mt
thực trạng làm bận tâm các cấp lãnh đạo Đảng Nhà nước, nỗi băn khoăn lớn
nhất của những người trách nhiệm lãnh đạo quản ngành in. Về cơ sở vật
chất kỹ thut, khâu chế tạo khuôn in công đoạn đầu tiên trong quá trình sản xuất
in, ý nghĩa quyết định đến chất lượng sản phẩm, nhưng vào những m đầu
của thập kỷ 90 khâu y lại khâu lạc hậu nhất chậm được cải tiến nhất. Tuyệt
đại bộ phận là sắp chữ thủ công, chiếm 80-90%. một số máy sắp chữ Linôtíp,
Mônôtíp một i nhà máy lớn thì đã bhỏng hoặc hoạt động với công suất
thấp. Đồng (khuôn chữ mẫu) cho các máy sắp chữ, đúc chữ cùng thiếu thốn,
phải s dụng lâu năm nên bị cùn, mòn, chất lượng sắp chrt kém. Các kiểu chữ
nghèo nàn, thiếu đồng bộ và phần lớn vẫn phải sử dụng các bộ chữ đã được sử dụng
cách đây 20-30 năm.ng có những cơ sở sản xuất chữ in nhưng chỉ bảo đm được
50% nhu cầu hàng m do thiếu nguyên vật liệu, chất lượng ch lại m không
đảm bảo hàm lượng thành phần hợp kim.
Công nghệ chế bản lạc hậu, được thực hiện chủ yếu bằng thủ công, các máy
chụp thuộc thế hệ , các khâu mài bản, phơi bản, sửa bản làm bằng tay n năng
suất thấp, do vậy không đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật, đặc biệt các bản in
màu.
Đại đa số các máy in khâu in thuộc thế hệ , đặt tay hoặc nửa tự động,
khuôn khổ nhỏ, công suất thấp, chủng loại máy lại đa dạng do nhiều nước sản xuất
thế hệ máy khác biệt nhau hàng trăm năm. Tình trạng máy cũ, o, thiếu phụ
tùng thay thế, độ chính xác kém, chất lượng in xấu. Hầu hết các máy đều đã sử dụng
lâu năm, những máy quá lâu. Do thiếu phụ tùng thay thế nên hàng năm
khoảng 1/3 số máy in không sử dụng được, tỉ lệ đó mỗi năm một tăng lên. Việc mấy
năm gần đây một số nhà máy lớn đã nhập được một số máy in tương đối hiện đại
nhưng vẫn không làm thay đổi hiện trạng ngành in ngày càng xuống cấp.
Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng công nghệ in Typô được coi lạc hậu thì
nước ta máy in Typô đã hầu như không còn nữa, chcòn xuất hiện những nhà in
nhu cầu sử dụng loại máy này. y in OFFSET chiếm số lượng lớn trong đó
máy cỡ lớn có năng suất cao chiếm khá nhiều
Khâu đóng sách hầu hết m bằng thủ công, nhất là các nin địa phương,
không vật liệu làm bìa sách nên bìa thường xấu, không bảo đảm độ bền và mỹ
thuật, đóng thép sách chống rỉ, hồ dán lại bằng bột gạo, bột sắn do vậy không bảo
đảm độ dính, không chống được ẩm, gián và chuột.
Giấy và mựcvật tư chủ yếu của ngành in. Nhưng lại không đủ giấy để in, số
lượng giấy do Nhà nước cấp không đủ, chtừ 15-17 ngàn tấn hàng năm, bằng 40%
số giấy sử dụng cho sách báo và văn h phẩm, phần còn lại do các địa phương, các
ngành tự cân đối bằng nguồn giy tự sản xuất hoặc nhập khẩu theo đường riêng, tự
kiếm bằng các nguồn khác nhau, kể cả tự sản xuất giấy. Chất lượng giấy nói chung
là xấu, do vậy ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm in.
Đầu những m 90 mực in hàng năm được sử dụng từ 400-500 tấn. Mực chủ
yếu được nhập từ ớc ngoài, nhưng do khó khăn vngoại tệ nên chnhập một s
mực u, còn chủ yếu nhập bột đen về gia công trong ớc, chất lượng mực sản
xuất trong nước thấp, s lượng không đủ cho nhu cầu in. Các loại vật chuyên
dùng khác như phim kthuật, cao su bọc ống, bản in, lưỡi dao xén, in v.v... phải
nhập ngoại hoàn toàn. Tình trạng khan hiếm thiếu thốn vật kỹ thuật chính
nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế năng lực sản xuất và ảnh ởng đến chất lượng
sản phẩm của ngành công nghiệp in nước ta nhiều năm nay.