
1
Tiểu luận triết học - Mối quan hệ giữa
cái riêng và cái chung và vận dụng trong
quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở
nước ta"
MỤC LỤC

2
LỜI NÓI ĐẦU............................................................................................................2
CHƯƠNG 1.................................................................................................................4
1.1. Các khái niệm:.............................................................................................4
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung: ...................................5
CHƯƠNG 2: ..............................................................................................................8
CHƯƠNG 3................................................................................................................9
3.1. Chuyển sang kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan: ........................9
3.1.1. Khái niệm kinh tế thị trường:....................................................................9
3.1.2. Chuyển sang kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan............................9
3.2. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta:.......................................12
3.2.1. Nền kinh tế nước ta mang bản chất của nền kinh tế thị trường thế giới:
...........................................................................................................................12
3.2.2. Những nét đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt
nam: ..................................................................................................................13
3.2.3. Những thắng lợi bước đầu mà kinh tế thị trường mang lại:...................15
3.2.4. Một số giải pháp tiếp tục phát triển kinh tế thị trường Việt Nam những năm
tới từ góc độ những đặc điểm riêng củaViệt Nam...............................................16
KẾT LUẬN..............................................................................................................19
LỜI NÓI ĐẦU
Bước lên từ nền kinh tế phong kiến lạc hậu, trì trệ, lại phải trải qua hai
cuộc chiến tranh giữ nước khốc liệt, nền kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu lại càng
thêm kiệt quệ bởi chiến tranh. Vào thời bình, bắt đầu từ cơ sở kinh tế lạc hậu, trì
trệ đó, nước ta xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp,
khiến cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Trong
khi đó, nhờ sử dụng triệt để kinh tế thị trường mà CNTB đã đạt được những
thành tựu về kinh tế- xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất
lao động. Cũng nhờ kinh tế thị trường, quản lý xã hội đạt được những thành quả
về văn minh hành chính, văn minh công cộng; con người nhạy cảm, tinh tế, với
khả năng sáng tạo, sự thách thức đua tranh phát triển. Trước tình hình đó, trong

3
Đại hội Đảng VI, Đảng ta kịp thời nhận ra sai lầm và tiến hành sửa đổi, chuyển
sang xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, kích thích sản xuất,
phát triển kinh tế nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn
minh.
Mới chập chững bước vào nền kinh tế thị trường đầy gian khó, phức tạp, nền
kinh tế Việt Nam đòi hỏi sự học tập, tiếp thu kinh nghiệm của nhân loại trên cơ
sở cân nhắc, chọn lựa cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam.
Trong quá trình học hỏi đó, triết học Mác- Lênin, đặc biệt là phạm trù triết học
cái chung và cái riêng có vai trò là kim chỉ nam cho mọi hoạt động nhận thức về
kinh tế thị trường.
Để góp thêm một tiếng nói ủng hộ đường lối phát triển kinh tế mà Đảng
và nhà nước ta đang xây dựng, tôi chọn vấn đề "Mối quan hệ giữa cái riêng và
cái chung và vận dụng trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta"
làm công trình nghiên cứu của mình.
Hoàn thành tiểu luận này, tôi hi vọng có thể góp một phần nhỏ của mình
trong việc làm rõ, củng cố lòng tin của mọi người vào công cuộc đổi mới của
nhà nước ta, và giúp mọi người quen thuộc hơn với một nền kinh tế mới được áp
dụng ở Việt Nam- nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện thế
giới hiện nay.

4
CHƯƠNG 1
CÁI RIÊNG VÀ CÁI CHUNG DƯỚI CÁI NHÌN
CỦA TRIẾT HỌC MACXIT
1.1. Các khái niệm:
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường tiếp xúc với một số sự vật
hiện tuợng quá trình khác nhau.Mỗi sự vật hiện tuợng đó được gọi là một cái
riêng ,đồng thời chúng ta cũng thấy giữa chung lại có mặt giống nhau tưc là tồn
tại cái chung giữa chúng .
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một
quá trình riêng lẻ nhất định trong thế giới khách quan.
Ví dụ: Một hành tinh nào đấy hay một thực vật, động vật nào đấy là cái đơn
nhất trong giới tự nhiên. Cái riêng trong lịch sử xã hội là một sự kiện riêng lẻ
nào đó, như là cuộc cách mạng tháng Tám của Việt nam chẳng hạn. Một con
người nào đó: Huệ, Trang,... cũng là cái riêng. Cái riêng còn có thể hiểu là một
nhóm sự vật gia nhập vào một nhóm các sự vật rộng hơn, phổ biến hơn. Sự tồn
tại cá biệt đó của cái riêng cho thấy nó chứa đựng trong bản thân những thuộc
tính không lặp lại ở những cấu trúc sự vật khác. Tính chất này được diễn đạt
bằng khái niệm cái đơn nhất. Cái đơn nhất là một phạm trù triết học dùng để chỉ
những thuộc tính, những mặt chỉ có ở một sự vật nhất định mà không lặp lại ở
những sự vật khác. Ví dụ chiều cao, cân nặng, vóc dáng... của một người là cái
đơn nhất. Nó cho biết những đặc điểm của chỉ riêng người đó, không lặp lại ở
một người nào khác. Cần phân biệt “cái riêng” với cái “đơn nhất”.
Mặt khác, giữa những cái riêng có thể chuyển hóa qua lại với nhau, chứng
tỏ giữa chúng có một số đặc điểm chung nào đó. Những đặc điểm chung đó
được triết học khái quát thành khái niệm cái chung.
Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc
tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định ,mà còn được lặp
lại trong nhiều sự vật hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác, những mối liên hệ
giống nhau, hay lặp lại ở nhiều cái riêng.
Cái chung thường chứa đựng ở trong nó tính qui luật, sự lặp lại. Ví dụ như
qui luật cung- cầu, qui luật giá trị thặng dư là những đặc điểm chung mà mọi
nền kinh tế thị trường bắt buộc phải tuân theo.

5
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung:
Trong lịch sử triết học, mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung được quan niệm
khác nhau. Phái duy thực đồng nhất thượng đế với cái chung và cho rằng chỉ có
cái chung mới tồn tại độc lập khách quan và là nguônhiều sản sinh ra cái riêng.
Đối lập lại chủ nghĩa duy thực, các nhà triết học duy danh như P. Abơla (1079-
1142), Đumxcot (1265- 1308) cho rằng chỉ những sự vật, hiện tượng tồn tại
riêng biệt với những chất lượng riêng của chúng mới là có thực còn khái niệm
cái chung chỉ là sản phẩm của tư duy của con người. Thấy được và khắc phục
hạn chế của hai quan niệm trên, triết học duy vật biện chứng cho rằng cái chung
và cái riêng có mối liên hệ biện chứng mật thiết với nhau, và cả hai đều tồn tại
một cách khách quan.
Cái chung tồn tại bên trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện
sự tồn tại. Không có cái chung tồn tại độc lập bên ngoài cái riêng. Ví dụ qui luật
bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản là một cái chung, không thế thì không
phải là nhà tư bản, nhưng qui luật đó được thể hiện ra ngoài dưới những biểu
hiện của các nhà tư bản (cái riêng).
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Nghĩa là không có
cái Riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập ,Thí dụ:Mỗi con người là một cái riêng
nhưng mỗi con người không thể tồn tại ngoàI mối liên hệ với tự nhiên và xã hội.
Nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi quy luật cung-cầu,quy luật QHSX phù hợp
với tính chất và trình độ của LLSX,dó là cái chung .Như vậy sự vật hiện tượng
nào cũng bao hàm cái chung
Cái chung là bộ phận,nhưng sâu sắc hơn cái riêng, còn cái riêng là toàn
bộ nhưng phong phú hơn cái chung. Cái riêng phong phú hơn cái chung vì
ngoài đặc điểm chung ,cái riêng còn có cái đơn nhất. Cái chung sâu sắc hơn cái
riêng vì cái riêng phản ánh những thuộc tính ,những mối liên hệ ổn định,tất
nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại .Do vậy cái chung là cái gắn liền với
bản chất,quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái chung.
Có thể khái quát một công thức như sau:
Cái riêng = cái chung + cái đơn nhất
Công thức trên có thể là không hoàn toàn đúng một cách tuyệt đối, nhưng
trong một chừng mực nào đó thì nó có thể nói được một cách chính xác quan hệ
bao trùm giữa cái chung và cái riêng. Cái chung chỉ giữ phần bản chất, hình

