
Văn minh Lưỡng Hà cổ đại
Nhóm Kim Tự Tháp Trang 1
Tiểu luận
Văn minh Lưỡng Hà cổ đại

Văn minh Lưỡng Hà cổ đại
Nhóm Kim Tự Tháp Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
Loài người ra đời cách đây hàng triệu năm, và từ đó loài người đã sáng tạo ra những giá trị
văn hóa vật chất và tinh thần. Nhưng mãi đến cuối thiên kỉ IV TCN, xã hội nguyên thủy bắt đầu
tan rã ở Ai Cập, nhà nước bắt đầu ra đời, từ đó loài người mới bắt đầu bước vào thời kì văn minh.
Vùng Tây Á là nơi xuất hiện sớm nhất nhiều quốc gia có nền văn minh nổi tiếng như
Lưỡng Hà, Babilon, Assyria, Phoennicia, Palestine...Văn minh Tây Á cũng là sự tổng hợp, hội tụ
của nhiều nền văn minh. Những nền văn minh ấy vừa có sắc thái riêng, vừa có sự kế thừa và phát
triển đồng thời tác động lẫn nhau. Trong số đó, văn minh Lưỡng Hà có trình độ phát triển về các
mặt kinh tế, chính trị và văn hóa cao hơn cả.
Nằm trên vùng chảy qua của hai con sông lớn là Tigro và Ơphrat, với sự phát triển nông
nghiệp tuy còn trong điều kiện khó khăn đã dẫn đến sự xuất hiện cùa nhà nước Lưỡng Hà. Do đó
cư dân ở đây sớm bước vào xã hội văn minh, và hơn thế nữa đã sáng tạo nên những nền văn minh
vô cùng rực rỡ.
Lịch sử Lưỡng Hà là lịch sử của nhiều quốc gia, dân tộc. Những thành tựu văn minh là sự
tổng hợp những thành tựu văn minh của tất cả các quốc gia, dân tộc đã sinh sống trong vùng
Lưỡng Hà, trong đó người Xume đóng vai trò hết sức to lớn, vì họ đã lập nên những quốc gia đầu
tiên và cũng chính họ là người đặt nền móng cho nền văn minh ở khu vực này. Các nền văn minh
Lưỡng Hà phát triển tương đối toàn diện, phong phú có sự kế thừa và phát triển.
Là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, văn minh Lưỡng Hà cổ đại đã có
nhiều thành tựu đóng góp vô cùng to lớn, có nhiều ảnh hưởng tớn nền văn minh của các quốc gia ở
Tây Á và nền văn minh Hy-La...

Văn minh Lưỡng Hà cổ đại
Nhóm Kim Tự Tháp Trang 3
A. TỔNG QUAN VỀ LƯỠNG HÀ CỔ ĐẠI
I. Cơ sở hình thành
1. Điều kiện tự nhiên
Lưỡng Hà (Mésopotamie) nghĩa là miền giữa hai sông, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp mê đốt
(ở giữa) và pôta mốt (sông). Hai sông đó là sông Tigro ở phía Đông và Ơphrat ở phía Tây. Cả hai
sông này đều bắt nguồn từ miền núi Acmenia chảy qua lãnh thổ nước Irac ngày nay rồi đổ ra vịnh
Ba Tư (Pecxich).
Về địa hình, Lưỡng Hà có địa hình bằng phẳng, ít núi non hiểm trở, không có biên giới tự
nhiên nên giao thông thuận lợi đồng thời chiến tranh cũng xảy ra liên miên dẫn đến sự pha trộn
giữa các nền văn hoá khác nhau .
Khí hậu khắc nghiệt, hè nắng cháy ở phương Nam, mùa đông lạnh đặc biệt ở phương Bắc.
Về tài nguyên, Lưỡng Hà hiếm đá quý và kim loại, nhưng lại có đất sét rất tốt. Đất sét được
dùng làm gạch sống, gạch nung, gạch men và vách trộn rơm trong nhà dân gian, là nguyên liệu
chính cho ngành kiến trúc và là chất liệu để viết. Vật liệu kết dính là hồ vôi và bitum.
2. Dân cư
Cư dân xưa nhất ở Lưỡng Hà là người Xume. Họ từ Trung Á di cư đến miền Nam Lưỡng
Hà vào khoảng thiên niên kỉ IV TCN. Tại đây, họ đã lập nên nhiều thành bang như Ua, Êridu,
Lagat, Uruc...
Thiên niên kỷ III TCN, người Áccat, người Amorit, một nhánh của tộc Xêmit đã lần lượt
lập nên quốc gia Accat, quốc gia cổ Babilon nổi tiếng nhất trong lịch sử Lưỡng Hà cổ đại.
Ngoài ra, nhiều tộc người khác xâm nhập Lưỡng Hà, các tộc người đồng hóa với nhau làm
cho thành phần cư dân ở đây phức tạp.
II. Các thời kỳ lịch sử của Lưỡng Hà cổ đại
Lịch sử Lưỡng Hà trải qua 5 nhà nước:
1. Những nhà nước của người Xume
Khoảng đầu thiên kỉ III TCN, ở miển Nam Lưỡng Hà, nơi cư trú của người Xume đã xảy
ra những cuộc đấu tranh giành đất đai và nguồn nước của các thành bang. Đến giữa thiên kỉ III,
thành bang Umma ở phía Bắc đã đánh bại Lagat, chinh phục nhiều thành bang khác và thống nhất
miền Nam Lưỡng Hà (gọi là vùng Xume)
2. Accat

Văn minh Lưỡng Hà cổ đại
Nhóm Kim Tự Tháp Trang 4
Thành bang Accat do một chi nhánh người Xêmit thành lập ở phía Bắc vùng Xume. Đến
thời vua Xacgon (2369-2314 TCN), Accat trở thành một quốc gia hùng mạnh, thống nhất cả vùng
Lưỡng Hà. Tiếp đó, Accat còn chiếm được các khu vực xung quanh thành lập một quốc gia lớn
mạnh ở Tây Á. Đến cuối thế kỉ XXIII TCN, Accat bị người Guti ở Đông Bắc chinh phục và thống
trị trong một thời gian dài.
3. Vương triều III của Ua (2132-2024 TCN)
Sau khi nguời Guti bị đánh đuổi, quyền thống trị ở Lưỡng Hà chuyển sang tay vương
triều III của Ua, một thành bang cổ xưa của Xume. Phạm vi thống trị của vương triều này cũng rất
rộng. Bộ luật do Ua ban bố được xem là cổ nhất trong lịch sử thế giới. Như vậy, dưới thời vương
triều III, Ua đã trở thành một nước lớn mạnh ở Lưỡng Hà, nhưng đến cuối thế kỉ XXI TCN thì bị
suy yếu và bị liên quân của Elam (một bộ tộc ở phía Đông) và Mari (một thành bang ở phía Bắc)
đánh bại.
4. Cổ Babilon
Vương quốc cổ Babilon được người Amorit thành lập ở trung tâm Lưỡng Hà. Babilon
trở thành quốc gia hùng mạnh, nổi tiếng nhất trong lịch sử Lưỡng Hà cổ đại dưới thời vua
Hammurabi (1792-1750 TCN). Ông đã lần lượt đánh bại các thành bang xung quanh, thống nhất
được hầu hết vùng Lưỡng Hà, xây dựng bộ máy nhà nước chuyên chế tập quyền trung ương. Đặc
biệt, ông đã ban hành bộ luật Hammurabi- một bộ luật cổ được giữ lại tương đối trọn vẹn.
Kinh tế Lưỡng Hà dưới thời Babilon có những tiến bộ rất đáng kể. Công cụ đồng thau
được dùng phổ biến, sắt đã xuất hiện nhưng còn hiếm. Cư dân Lưỡng Hà đã biết sử dụng cày có
lưỡi đồng thau do bò kéo, cày có lắp bộ phận gieo hạt.
Như vậy, dưới thời vua Hammurabi, Babilon không những được ổn định về chính trị
mà kinh tế, văn hóa cũng rất phát triển. Nhưng sau khi vua Hammurabi chết, vương triều bước vào
thời kì khủng hoảng bởi sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái trong cung đình và bởi cuộc
tấn công ồ ạt của các bộ lạc người phương Bắc. Cuối cùng vương quốc cổ Babilon bị tiêu diệt.
5. Tân Babilon và Ba Tư
Sau khi vương quốc cổ Babilon sụp đổ,
Lưỡng Hà liên tục bị ngoại tộc xâm lược và thống
trị. Tình trạng rối loạn đó kéo dài tới hơn 1000
năm. Năm 605 TCN, Babilon mới giành lại được
độc lập, chấm dứt thời kì thống trị của đế quốc
Atxiri trong gần 300 năm.
Năm 626 TCN, người Chaldea (một chi
nhánh của bộ tộc Xêmit) đã xây dựng vương quốc
và lại chọn Babilon làm thủ đô, gọi là Tân
Babilon. Vua nổi tiếng nhất của vương quốc
Chaldea là Nabuchodonosor (605-561 TCN) đã
dùng vũ lực mở rộng lãnh thổ đánh chiếm Syria
và Palestine. Ông đã cho xây dựng lại Babilon
thành một đô thành nguy nga đồ sộ, trung tâm văn
hóa và công thương nghiệp của Tây bộ châu Á
hồi đó. Tại đây có “Vườn treo” được xem là một trong những kì quan của thế giới cổ đại.

Văn minh Lưỡng Hà cổ đại
Nhóm Kim Tự Tháp Trang 5
Mặc dầu chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn (605-539 TCN), vương quốc Tân
Babilon vẫn kịp phát triển hưng thịnh. Năm 539 TCN, nó lại bị người Ba Tư xâm lược, từ đó về
sau không thể phục hồi được nữa. Song những thành tựu văn minh của người Babilon vẫn còn để
lại nhiều dấu ấn trong lịch sử Lưỡng Hà.
B. NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU CỦA VĂN MINH
LƯỠNG HÀ CỔ ĐẠI
I. Chữ viết
Mầm mống của chữ viết ở Lưỡng Hà xuất hiện từ khá sớm.Chữ
viết ở Lưỡng Hà đầu tiên do người Xume sáng tạo vào đầu thiên niên kỉ
thứ III TCN. Kể từ đó, Lưỡng Hà có sự phát triển nhiều loại chữ viết
khác nhau:
Trong thời kì đầu, chữ viết của Lưỡng Hà cũng là chữ
tượng hình. Đầu tiên là những hình vẽ, về sau là những nét hợp lại
thành ý. Ví dụ như muốn viết các chữ chim, cá, lúa, nước thì vẽ
hình con chim, con cá, bông lúa, làn sóng. Dần dần, các hình vẽ được đơn giản hóa, từ vẽ
toàn bộ sự vật chuyển sang chỉ vẽ một bộ phận tiêu biểu mà thôi.
Nhờ có chữ hài thanh, số chữ tượng hình ngày càng ít
đi. Người ta đã dùng hình để mượn âm thanh. Ví dụ, muốn viết
âm xum thì vẽ bó hành vì bó hành có âm là xum. Các hình vẽ
chỉ âm tiết còn kết hợp với một số hình khác để phân biệt với
các khái niệm. Ví dụ, hình bàn chân kết hợp với âm tiết NA là
“đi”, với BA là “đứng”…
Chữ tiết hình (chữ hình nêm) được viết trên các tấm đất
sét còn ướt và bằng những cái que vót nhọn. Những nét trên đất
sét chỉ là nét thẳng và ngắn, nét to ở chỗ mới ấn vào, nét nhỏ ở
chỗ rút bút ra, do đó giống hình cái nêm.
Rất nhiều tộc người ở Tây Á thời cổ đại đã dùng loại chữ viết này để ghi lại tình hình kinh tế,
xã hội, diễn biến chính trị thời đó. Vì vậy, có thể coi chữ viết do người Xume phát minh là thứ chữ
mẹ đẻ của nhiều chữ viết khác của người Áccat, Babilon, Atxiri, Ba Tư.
Các học giả Grotephen người Đức (1802), nhà du lịch người Anh Rolinxon (1835) là những
người đã đặt nền móng cho việc đọc chữ tiết hình. Đến năm 1857, bốn độc giả đã cùng đọc được
một đoạn minh văn chữ viết hình Atxiri. Từ đó cả kho tàng tư liệu của khu vực Lưỡng Hà thuộc
các lĩnh vực văn học, lịch sử, pháp luật, kinh tế, khoa học…được dịch ra ngôn ngữ hiện đại. Năm
1957, khoa Atxiri học ra đời.

