Tính lịch sử riêng của nghệ thuật (*)
Thái Bá Vân
[...]Tôi xin phép góp thêm một ý kiến, về sự khác nhau, mà tôi cho là
quan trọng, giữa lịch sử và lịch sử nghệ thuật...
Để hiểu kỹ lưỡng hơn về văn hóa văn nghệ, ở tầm xa, hội thảo chúng ta
có nói nhiều đến lịch sử.
Tôi xin phép góp thêm một ý kiến, về sự khác nhau, mà tôi cho là quan
trọng, giữa lịch sử và lịch sử nghệ thuật.
1. Đó là: lịch sử nói chung phán xét những gì đã qua, nhưng lịch sử
nghệ thuật thì phán xét những gì còn li. Khi các nhà lịch sử nói về chế
độ nô lệ hay phong kiến, là nói đến một cái gì đã vĩnh viễn qua đời,
không bao giờ quay trở lại. Nó là một xác chết của nhân lọai. Nhưng
khi các nhà lịch sử nghệ thuật nói đến trống đồng Đông Sơn hay tượng
Hy Lạp, nghệ thuật Phật giáo ở nước Đại Việt hay nghệ thuật vương
triều Lu-I XV, là bàn đến một cái gì đang còn, đang sống, đang thở
cùng chúng ta và hy vọng còn lưu truyền tận nhiều đời cho con cháu.
Đối tượng phán xét là mt xác chết hay đối tượng phán xét là mt đời
sống, cần được tiến hành trên những tương quan nhân bản và ngh
nghiệp hòan tòan khác nhau, là bởi nó nhằm những yêu cu và mục
đích người khác nhau: Thái độ của những bác sĩ mổ xác chết để truy
tìm căn bệnh không phải là thái độ của người thầy thuốc mổ một mạng
người để cứu chữa và kéo dài sự sống.
Đời sống tinh thần đẹp đẽ của một nền nghệ thuật, mt tác phẩm nghệ
thuật, nghĩa là một tâm hồn nghệ sĩ, bao giờ cũng là cái bù đắp mà nền
văn minh nào cũng cầu mong được cộng thêm vào, được nhân thêm lên
nhiều lần cho sức khỏe của chính mình.
Trái lại, những vướng mắc và bệnh tật của những quan hệ lịch sử đã
tàn, dù là kinh tế hay chính trị, sản xuất hay đạo dức, là cái bất kỳ
thi đại nào cũng a công xua đuổi.
2. Nếu lịch sử xã hội, ịch sử các nền văn minh và khoa học có sự tiến
hóa tun tự từ thấp lên cao, về hình thức cũng như nội dung, như một
mũi tên bay vphía trước, không trở lại, thì lịch sử nghệ thuật, bằng
những biến đổi của cách biểu đạt và xây dựng hình tượng của mình,
như một ngôn ngữ của cái đẹp, lại không như vậy. Người ta không thể
nói điêu khắc Hy Lạp là kém hay thấp hơn điêu khắc thời cổ 9oiển,
mặc dù nó cách xa nhau trên 20 thế kỷ văn minh. Cũng không thể nói
hội họa nhà Tống là lạc hậu hơn hội họa hiện đại phương Tây bởi nó
thua bao nhiêu tầng lớp khoa học. thơ ông Nguyễn Du là cái không
phải để so sánh với thơ Maiakôpxki. Bảo rằng văn minh càng cao, thì
nghệ thuật càng tài, càng đẹp, là điều nhầm.
Lịch sử nghệ thuật là lịch sử của những cách nhìn thế giới. và ý nghĩa
cũng như giá trị của một tác phẩm nghệ thuật là sự thấu đáo của cái
nhìn đó, linh diệu ngay trên lung cày thẩm mỹ của mình.
Trong khi đi cùng các nền văn minh tiệm tiến, nghệ thuật s vận
động riêng của chính mình, xoay vần bằng chính cái trục bản ngã của
mình, luôn tìm thế đối xứng, soi gương trước hiện tại. Chính ở đó nghệ
thuật giữ kín trong mình cái bí mật thâm sâu của sáng tạo, bảo tn cái
nguyên bn ý nghĩa người, bình đẳng trước mọi hiện thực và thời gian.
Picasso có nói: Tôi không tiến lên đâu cả, tôi là hiện tại.
Nhưng ta cần nhắc lại cái hình ảnh những vòng lò xo nối tiếp lên cao
của Mác. Đúng là tranh trừu tượng Âu Mỹ cái gì tương tự như thư
pháp Á Đông, chủ nghĩa Lập thể có gì tương tự như tượng châu Phi
đen, nhưng không bao giờ trùng lặp ngay chính cái đó cả. Nghệ thuật
như kẻ tu thiền đắc đạo, qua một khỏang cách vô tận của thi gian và
không gian, một vòng chiêm nghiệm khác xa lắc trong tâm linh. Con
mèo vn hao hao như con hổ, nhưng con mèo chưa bao giờ là con hổ.
Chỗ rất gần nhau trong một bút pháp và hình thái nghệ thuật chính là
chổ rất khác, và xa nhau trong ứng xử cuộc đời.
Sự tiến bộ của nghệ thuật cần được tìm trong mục đích người của nó.
3. Buộc phải hiểu là một chuổi liên tục trong thời gian để xã hội cũng
như nghệ thuật có được lịch sử của nó.
Nhưng cái chuỗi liên tục của nghệ thuật Việt Nam lại chỉ có thể nhận
định được qua những đứt đọan và vắng thiếu. Đó là đặc điểm và đó là
khó khăn của riêng ta. Trước hết, là sự đứt đọan tác phẩm. (Có 10 thế
k liền chưa tìm ra một tác phẩm đáng tin cậy). sau đó, là sự vắng thiếu
tên người (từ nghệ thuật Đông Sơn đến nghệ thuật nhà Nguyễn chỉ thấy
có 4 tên người làm gm thời Mạc và một tên người làm tượng thời Lê,
cộng một vài kiến trúc sư)
Tôi có suy tính rằng đặc điểm đó không nhất thiết đẩy các nhà nghiên
cứu nghệ thuật Việt Nam vào cái thế cô lập, phải đi tìm một con đường
độc đạo nào đó, vừa tự mãn vừa bất lưc, mà đúng ra là hút họ vào vòng
lịch sử nghệ thuật đã thuần thục của nhân lọai, học hỏi và tin cậy vào
những đúc kết già dặn kinh nghiệm của nó. Bởi vậy, tôi cho rằng một
nguyên nhân quan trng làm chậm và lng lẻo khoa nghiên cứu là một
thi gian dài đã tự tách mình ra khi cái mạch lạc chung của thế giới,
ảo tưởng về một thắng lợi khoa học ngang tắt và dễ dàng.
Nếu khái niệm dân gian một thời có mở cho chúng ta lối suy nghĩ tích
cực về bản sắc thẩm mỹ Việt Nam, thì cũng một thời đã được lạm dụng
quá đáng mà trở thành tư biện, mất thăng bằng trong tìm tòi và giải
thích lịch sử.
Người ta có nói rằng, nghệ thuật dân gian là cái nằm bên lề lịch sử, là
có nghĩa, về căn bản, nó vẫn vậy qua thời gian của nhiều lớp văn minh.
Nếu tranh làng Hồ có từ thế kỷ XVIII, thì dù có nhng nhúc nhích về
đề tài, vthủ pháp, v.v… nó vẫn đứng yên một đi63m thẩm mỹ,
không phát triển. Trên thế giới chưa có ai viết được lịch sử của nghệ
thuật dân gian là bi vậy. Nó nằm ngang, trong khi lịch sử là trục dọc.
Người nào định lấy nghệ thuật dân gian làm thước đo chiều dọc của
lịch sử nghệ thuật, thì người đó sẽ không bao giờ làm được.
Thay vì, 20 năm qua, chúng ta phải định hướng là xác lp cho bằng
được cái hình chính thống của nghệ thuật Việt Nam qua s biến hóa
của nó, như một hành trình lịch sử của các chính thể Việt Nam và ý
thức hệ của chúng, vì chính đó mới là lch sửnghệ thuật Việt Nam, thì
chúng ta lại mê mãi và mắc vào tính phi thi gian và không tuyến tính
của nghệ thuật dân gian.
Và cách hiểu như thế ảnh hưởng đến nghệ thuật hiện đại Việt Nam nữa.
4. Lịch sử nói chung, lịch sử của một dân tộc nói riêng, còn là lịch sử
của những cuộc tranh chấp, thắng trận và chiến bại. Khái niệm được
thua, còn mất là khái niệm của lịch sử.