Khóa luận tốt nghiệp                                                    Sinh viên: Nông Thị Linh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

KHOA VĂN HOÁ DÂN TỘC THIỂU SỐ

-------------------------

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

TANG MA CỦA NGƯỜI TAY Ở XÃ CHAU SƠN, HUYỆN ĐINH LẬP, TỈNH

LẠNG SƠN

Giảng viên hướng dẫn : TH.S NGUYỄN THANH VÂN

Sinh viờn thực hiện : NÔNG THỊ LINH

Lớp : VHDT

HÀ NỘI - 2015

0

Khóa luận tốt nghiệp                                                    Sinh viên: Nông Thị Linh

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài : “Tang ma của người Tày ở xó

Chõu Sơn, huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn’’, tôi xin tỏ lũng biết ơn: Thạc sỹ Nguyễn

Thanh Vân, người đó trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo, đóng góp ý kiến cho tụi trong

suốt quỏ trỡnh làm khúa luận tốt nghiệp.

Các thầy cô trong khoa Văn Hóa Dân Tộc Thiểu Số trường Đại học Văn hóa Hà

Nội đó nhiệt tỡnh giỳp đỡ tôi trong suốt quá trỡnh học và làm khúa luận tốt nghiệp.

Nhân đây xin bày tỏ lũng cảm ơn sâu sắc tới các Chú, các Bác, cỏc Anh, cỏc

Chị cụng tỏc tại UBND xó, Phũng Văn hóa xó và thụng tin huyện Đỡnh Lập, Trung

tõm Văn hóa và thể thao huyện, Thư viện huyện và toàn thể nhân dân đang sinh sống

và làm việc trên địa bàn xó đó nhiệt tỡnh giỳp đỡ tôi trong suốt quá trỡnh khảo sỏt

và quỏ trỡnh thực địa tại cơ sở.

Do khả năng có hạn nên khóa luận viết không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi

mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp cho khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh viờn thực hiện

Nông Thị Linh

1

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 2 1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 2 2. Lịch sử nghiờn cứu ....................................................................................... 3 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 4 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 5 5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 5 6. Đóng góp của đề tài ....................................................................................... 5 7. Bố cục của khúa luận .................................................................................... 6 Chương 1 .......................................................................................................... 7 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở XÃ CHÂU SƠN .................................... 7 1.2. Khái quát về người Tày ở Châu Sơn..................................................... 10 1.2.1. Lịch sử tộc người ............................................................................ 11 1.2.2. Đặc điểm văn hóa của người Tày ở xó Châu Sơn .......................... 12 Chương 2 ........................................................................................................ 19 TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ CHÂU SƠN .................................. 19 2.1. Quan niệm của người Tày về cái chết ................................................... 19 2.2.Tang ma của người Tày ở xó Chõu Sơn trong truyền thống ................. 19 2.2.1. Công tác chuẩn bị cho một đám tang ............................................. 20 2.2.2. Các nghi thức trong tang ma ........................................................... 21 2.3. Cỏc lễ cỳng sau mai tỏng ...................................................................... 34 2.3.1. Lễ mở cửa mả (khay tu mả) ............................................................ 34 2.3.2. Lễ hũi thang (người chết về thăm lại nhà) ...................................... 35 2.3.3. Lễ cỳng 40 ngày, 100 ngày (lễ tốt khốc là thụi khúc) .................. 35 2.3.4. Lễ Oóc khuốp (Cúng giỗ đầy năm), Lễ Oóc tang (Lễ món tang- ba năm) .......................................................................................................... 36 2.4. Cỏc hỡnh thức tang ma khỏc của người Tày ở xó Chõu Sơn ............... 36 2.5. Sự giống và khác nhau trong tang ma giữa người Tày và người Dao ở xó Chõu Sơn. ................................................................................................ 40 Chương 3 ........................................................................................................ 42 GIÁ TRỊ VĂN HÓA VÀ MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI ĐƯỢC BIỂU HIỆN TRONG TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ CHÂU SƠN ....................... 42 3.1. Những giá trị văn hóa ............................................................................ 42 3.1.1. Gía trị đạo đức nhân văn ................................................................. 42 3.1.2. Gía trị văn hóa tộc người ................................................................ 43 3.1.3. Gía trị xó hội ................................................................................... 45 3.2. Các quan hệ xó hội ................................................................................ 47 3.2.1. Quan hệ, ứng xử giữa người sống và người chết ............................ 47 3.2.2. Quan hệ ứng xử giữa người sống và người sống ............................ 48 3.2.3. Quan hệ giữa con người với thế giới tâm linh (Các thần, các ma…) ................................................................................................................... 50 3.3. Một số biến đổi trong tang ma của người Tày ở Châu Sơn hiện nay ... 51 3.4. Nguyên nhân biến đổi ........................................................................... 54 3.4.1. Tác động từ cỏc chớnh sỏch phỏt triển kinh tế ............................... 54

0

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

3.4.2. Tác động từ nhận thức của người dân ............................................ 56 3.4.3. Tác động từ sự giao thoa văn hóa ................................................... 57 3.5. Giải phỏp bảo tồn các giá trị văn hóa trong tang ma ở xó Châu Sơn ... 58 KẾT LUẬN .................................................................................................... 62

1

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc bao gồm 54 dân tộc cùng cư trú

trên mọi miền đất nước. Mỗi dân tộc có những giá trị văn hóa riêng, phản ánh

truyền thống lịch sử lâu đời. Tất cả các dân tộc anh em trong đại gia đỡnh

Việt Nam đó gỡn giữ, bồi đắp và phát huy sắc thái văn hóa riêng của mỡnh.

Cỏc sắc thỏi đó đó ảnh hưởng lẫn nhau, bổ sung cho nhau tạo nên bức tranh

văn hóa Việt Nam đa dạng và phong phú.

Tang ma là một trong những nghi lễ quan trọng bậc nhất trong chu kỡ

đời người, của người Tày ở xó Chõu Sơn, huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn.

Tang ma phản ánh về nhiều khía cạnh của cuộc sống. Nghiên cứu tang lễ,

giúp chúng ta hiểu biết vũ trụ quan, nhân sinh quan, các quy tắc ứng xử giữa

con người với con người trong gia đỡnh, cũng như trong cộng đồng xó hội,

cộng đồng tộc người,... Ngoài giá trị giáo dục đạo đức, tập quán tang ma cũn

mang trong nú nhiều ý nghĩa và giỏ trị to lớn khỏc. Trong đó có các giá trị về

bảo tồn văn hóa truyền thống; giá trị về văn học, nghệ thuật; tác dụng cố kết

cộng đồng.

Chính v́ thế, nên tập quán tang ma luôn là vấn đề được các nhà nghiên

cứu trú trọng nghiên cứu về các tộc người nói chung và nghiên cứu dân tộc

Tày nói riêng. Mặc dù vậy, cho đến nay tập quán tang ma của cộng đồng

người Tày ở xó Chõu Sơn, huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn vẫn chưa được

quan tâm, nghiên cứu đầy đủ. Đó chính là khoảng trống trong nghiên cứu về

cộng đồng người Tày ở Châu Sơn, cần được khỏa lấp.

Tập quán tang ma của các tộc người nói chung và của người Tày ở xó

Chõu Sơn nói riêng, luôn chứa đựng trong nó các giá trị đích thực, song nó

cũng ẩn chứa cả những yếu tố lỗi thời và các hủ tục. Bởi vậy, không chỉ có tác

động tích cực, mà nó cũng mang đến nhiều tác động tiêu cực, đối với sự phát

triển của địa phương. Để phát huy được các tác động tích cực, hạn chế tối đa

các yếu tố tiêu cực, của tập quán tang ma đối với sự phát triển chung của

2

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

người Tày ở Châu Sơn không thể không nghiên cứu tường tận về tập quán

tang ma của người Tày ở đây.

Trong bối cảnh hôi nhập, giao lưu văn hóa mạnh mẽ như hiện nay, văn

hóa truyền thống của người Tày nói chung và người Tày ở Châu Sơn nói

riêng cũng đang biến đổi theo nhiều xu hướng, trong đó có phong tục tang ma

cũng không ngoại lệ. Phong tục tang ma của người Tày nơi đây vừa hội nhập

thêm những giá trị văn hóa mới, nhưng đồng thời cũng làm mai một không ít

các giá trị văn hóa truyền thống quý bỏu của tộc người.

Với cỏc lý do trờn, tụi chọn “Tang ma của người Tày ở xó Chõu Sơn,

huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân,

ngành Văn hóa dân tộc thiểu số.

2. Lịch sử nghiờn cứu

Về văn hóa Tày – Nùng ở Việt Nam hiện nay đó cú nhiều cụng trỡnh

nghiờn cứu về cỏc lĩnh vực văn hóa vật thể, và văn hóa phi vật thể đó được

công bố, xuất bản, trong đó phải kể đến các công trỡnh sau:

- Ló Văn Lô, Hà Văn Thư: Văn hóa Tày Nùng, Nhà xuất bản văn hóa,

- Hoàng Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Phách, Cung Văn Lược, Hà Nôi, 1984.

Vương Toàn: Văn hóa truyền thống Tày Nùng, Nhà xuất bản Văn hóa dân

tôc, Hà Nội, 1993.

- Hoàng Quyết, Tuấn Dũng: Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt

Bắc, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1994.

- Hoàng Tuấn Nam: Việc tang lễ cổ truyền của người Tày, NXB Văn

hóa dân tộc, Hà Nội, 1999.

Qua tỡm hiểu chỳng tụi nhận thấy trong cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu

xuất bản văn hóa người Tày, trong phần văn hóa phi vật thể, khi tỡm hiểu về

nghi lễ chu kỳ đời người, tang ma chỉ được đề cập khái quát, chẳng hạn: Cuốn

Văn hóa Tày Nùng của tác giả Ló Văn Lô, Hà Văn Thư dành 4 trang viết về

đám tang, trong mục nghi lễ vũng đời người. Trong đó ngoài việc giới thiệu

3

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

trỡnh tự trong một đám tang, phần cũn lại là bài đăng các bài văn than của

con cháu, họ hàng, bè bạn khóc người chết, hương ước của bản đó có những

quy định ứng xử với tang ma.

Viết về tang ma của người Tày ở Lạng Sơn có luận án tiến sỹ của tác

giả Vi Thanh Hoài với đề tài Tang lễ của người Tày ở xó Bỡnh La, huyện

Bỡnh Gia, tỉnh Lạng Sơn. Trong cụng trỡnh này tỏc giả viết về cỏc quan niệm

cỏi chết, cỏc hỡnh thức cỏi chết và quỏ trỡnh tổ chức trỡnh tự của một đám

tang từ khi chết cho đến khi kết thúc của người Tày ở xó Bỡnh La, huyện

Bỡnh Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Như vậy, các nghiên cứu về văn hóa Tày trước đó chưa có công trỡnh

nào viết về tang ma, cỏc giỏ trị và cỏc mối quan hệ trong tang ma của người

Tày ở xó Chõu Sơn, huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn, trong truyền thống

cũng như biến đổi hiện nay. Tuy nhiên, những nguồn tài liệu quý bỏu trờn

cũng là những tư liệu quý báu để chúng tôi tham khảo, so sánh trong quá

trỡnh hoàn thành bài khúa luận này.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiờn cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tỡm hiểu về tập quan tang ma của

người Tày ở xó Chõu Sơn, huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn, truyền thống và

biến đổi, cũng như những giá trị và mối quan hệ xó hội được thể hiện trong

đó. Từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy các

giá trị văn hóa mang bản sắc tộc người trong tang ma của người Tày ở Châu

Sơn.

Để thực hiện mục đích trên, đề tài khóa luận phải thực hiện các nhiệm

vụ nghiên cứu sau:

- Khái quát về người Tày ở xó Chõu Sơn, huyện Đỡnh Lõp, tỉnh Lạng

Sơn.

- Nghiên cứu về tập quán trong tang ma của người Tày ở xó Chõu Sơn,

huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn trong truyền thống cũng như hiện nay.

4

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

- Khái quát những giá trị văn hóa và các quan hệ xó hội được thể hiện

trong tang ma truyền thống của người Tày ở Châu Sơn, đề xuất giải pháp bảo

tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người trong tang ma của người Tày nơi

đây.

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: dân tộc Tày, tang ma và các vấn đề liên quan đến tang ma

của người Tày, từ khi trong gia đỡnh có người già yếu, cho đến khi qua đời,

trỡnh tự nghi lễ trong một đám tang bỡnh thường hay những trường hợp tang

ma đặc biệt ở xó Chõu Sơn.

- Phạm vi nghiờn cứu

+ Phạm vi thời gian: Khóa luận đi tỡm hiểu và nghiờn cứu về cỏc quan

niệm và cỏch ứng xử với người chết do tuổi cao, có đầy đủ con cháu bố mẹ đó

qua đời và tang ma của những trường hợp khác, như chết trẻ, chết do tai nạn,

chết chưa lập gia đỡnh, chết trước bố mẹ...trong truyền thống cũng như hiện

nay.

+ Phạm vi không gian: đia bàn nghiên cứu tại xó Châu Sơn, huyện

Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn.

5. Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành khóa luận này chúng tôi sử dụng 2 phương pháp chủ yếu

sau: sưu tầm tài liệu (điền dó dõn tộc học trong đó việc quan sỏt, ghi chộp, là

quan trọng nhất: sưu tầm tư liệu đó cụng bố, xuất bản...) và phõn tớch tài liệu,

tổng hợp, viết bỏo cỏo.

6. Đóng góp của đề tài

Đề tài bước đầu tập hợp, hệ thống hóa tư liệu về nghi lễ trong một đám

tang truyền thống của người Tày ở xó Chõu Sơn, huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng

Sơn. Đồng thời làm rừ, nổi bật những giỏ trị văn hóa của đám tang trong đời

sống tinh thần của người Tày ở xó Chõu Sơn, huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng

Sơn.

5

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Từ những kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ góp phần định hướng

trong việc bảo tồn phát huy những giá trị văn hóa tiêu biểu của tộc người Tày

ở Châu Sơn được thể hiện trong tang ma, góp phần quan trọng trong công

cuộc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

7. Bố cục của khúa luận

Chương 1: Khái quát về người Tày ở xó Chõu Sơn

Chương 2: Tang ma của người Tày ở xó Chõu Sơn

Chương 3: Gía trị văn hóa và các quan hệ xó hội thể hiện trong tang ma

của người Tày ở xó Chõu Sơn

6

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở XÃ CHÂU SƠN

1.1. Điều kiện tự nhiên - xã hội ở xã Châu Sơn

Châu Sơn là một xó miền nỳi nằm ở phớa Đông Nam của huyện Đỡnh

Lập, tỉnh Lạng Sơn, cỏch trung tõm huyện 15km, chạy dọc theo Quốc lộ số

4B.

Phía Đông giáp xó Hà Lõu, huyện Tiờn Yờn, tỉnh Quảng Ninh

Phớa Tõy giỏp xó Đồng Thắng và xó Cường Lợi, huyện Đỡnh Lập

Phớa Nam giỏp xó Bắc Lóng, huyện Đỡnh Lập

Phớa Bắc giỏp xó Kiờn Mộc, huyện Đỡnh Lập

Tổng diện tớch tự nhiờn của toàn xó là 97,277km2, cú 11 thụn bản, tổng

số 375 hộ dõn với 1.675 nhõn khẩu. Toàn xó cú 163/375 hộ nghốo, chiếm

43,46% hộ cận nghốo 60/375 hộ, chiếm 16%. Xó cú 5 dõn tộc anh em: Tày,

Dao thanh phỏn, Cao Lan, Sỏn Chỉ cùng sinh sống trong đó dân tộc Tày

chiếm 70%, chiếm 1.116 nhõn khẩu, dõn tộc Dao chiếm 28%, cỏc dõn tộc

khỏc chiếm 2%.

Lĩnh vực kinh tế

Xó Chõu Sơn vẫn lấy nông nghiệp làm kinh tế trọng điểm. Đảng ủy đã

tập trung lãnh đạo, chỉ đạo MTTQ và các đoàn thể tuyên truyền vận động

đoàn viên, hội viên, nhân dân đẩy mạnh sản xuất vụ đông xuân và vụ mùa.

Tổng diện tích các loại cây trồng năm 2014 đạt 157,8 ha, trong đó diện tích

trồng lúa là 140 ha, tổng sản lượng cây lúa đạt 555,72 tấn. Cây ngô cú diện

tích đạt 57,1 ha, tổng sản lượng ngô đạt 244,97 tấn.Các loại cây trồng khác

tổng diện tích đạt 58,8 ha, bao gồm: cây có củ, cây hạt chứa dầu, cây hàng

năm khác. Tổng sản lượng cây lương thực có hạt đạt 800,69 tấn đạt 86,2% kế

hoạch, bình quân lương thực có hạt đạt 470kg/người/năm. Công tác cung ứng

giống, phân bón, chuyển giao khoa học kĩ thuật áp dụng vào sản xuất được

7

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

quan tâm; UBND xã căn cứ thông báo của phòng Nông nghiệp huyện, thông

báo cho các hộ dân chủ động đến trạm giống của huyện mua các loại giống

lúa, ngô cho nên đáp ứng đủ giống cho cả 2 vụ sản xuất. Vật tư phân bón,

thuốc bảo vệ thực vật được nhân dân tự chủ động đến đại lý phân bón và trạm

bảo vệ thực vật mua. Triển khai thành công mô hình cánh đồng mẫu lớn vụ

đông xuân tại xứ đồng Nà mù, diện tích 04ha, đạt năng suất 220ha/tạ.

Chăn nuôi : Thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh ; phòng

chống rét cho gia súc, gia cầm nên không có trâu, bò bị bệnh chết ; đàn trâu

theo số liệu thống kê thời điểm 01/4/2014 có 137 con trâu ; đàn bò 82 con ;

đàn lợn 430 con ; đàn gia cầm 5.437 con; tổ chức phun tiêu độc khử trùng

11/11 thôn ; tiêm vắc xin phòng bệnh dại ở chó được 86 con.

Lâm nghiệp: tuyên truyền, chỉ đạo nhân dân trồng rừng mới năm 2014,

trồng rừng được 146ha chủ yếu là cây Keo và cây Thông. Khai thác gỗ rừng

trồng 816 mét vuông (gỗ Keo). Công tác chăm sóc bảo vệ rừng, phũng chỏy

chữa chỏy rừng được tuyên truyền thực hiện tốt, ý thức bảo vệ rừng của các

tầng lớp nhân dân được nâng lên, đến nay trên địa bàn xó khụng cú chỏy rừng

xảy ra.

Kết quả tổ chức ra quân đầu xuân đạt được: Nạo vét mương được

4.007m dài. Đào đắp được: 52 mét vuông đất, đá. Khơi thông rãnh được:

2.205 m dài, san lấp mặt đường được: 6,5 mét vuông, phát quang hai bên

đường 2.900 m dài đảm bảo nước tưới phục vụ cho sản xuất.

Lĩnh vực văn hóa xã hội

Công tác giáo dục: Thường xuyên lãnh đạo chỉ đạo các trường duy trì ổn

định nề nếp dạy và học, thực hiện tốt các quy định của ngành giáo dục đề ra,

nâng cao chất lượng đạy và học. Thực hiện tốt phong trào, hoạt động ủng hộ

giúp đỡ các học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh nghèo vượt khó. Chỉ

đạo các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân phối hợp với nhà trường thường

xuyên động viên con em đến trường, đầy đủ, duy trì sĩ số học sinh; duy trì

được phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ

8

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

sở và phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Kết quả năm học 2013- 2014:

Cấp THCS 109 học sinh lên lớp 100%; cấp tiểu học 16 lớp với 155 học sinh,

lên lớp 100%; Cấp Mầm non tổng số 115 trẻ, trong đó: Mẫu giáo: 69 trẻ, Nhà

trẻ 46 trẻ, trẻ được lên lớp 1 là 24/24 trẻ đạt 100%.

Thực hiện chương trình hóa giáo dục về xây dựng Trường Tiểu học đạt

chuẩn quốc gia trong năm học 2014, Đảng ủy xã phát động cán bộ và nhân

dân trên địa bàn xã quyên góp, ủng hộ bằng tiền mặt để xây dung một số hạng

mục chưa đạt. Qua đợt vận động nhân dân ủng hộ được: 43.846.000 đồng.

Công tác y tế: Lãnh đạo thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe và

khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn, tổng số lần khám bệnh và cấp

phát thuốc được 1.622 lượt người; kết hợp điều trị y học cổ truyền được 518

người; bệnh nhân chuyển tuyến trên 131 người; Tiêm chủng phòng các loại

bệnh cho trẻ được 284 lượt; trong năm trên địa bàn không có dịch bệnh lớn

xảy ra. Thường xuyên thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về y

tế theo kế hoạch.

Công tác DS - KHH gia đình: Luôn được cộng tác viên DS - KHH Gia

đình tuyên truyền các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ dùng các biện pháp

tránh thai và tiêm phòng vắc xin phòng chống các dịch bệnh nhiễm khuẩn cho

các bà mẹ và trẻ em. Tổng số sinh 36 trẻ, trong đó: sinh con thứ 3 trở lên 11

trường hợp = 30,55% so với tỷ lệ.

Văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao: Chỉ đạo tổ chức các hoạt động VH-

VN -TDTT vui chơi trong dịp tết mừng Đảng, mừng xuân, tổ chức giao lưu

búng đá giữa các thôn bản. Tổ chức 01 đêm giao lưu văn nghệ trong đợt huấn

luyện dân quân cụm 2 năm 2014.

Thực hiện các chính sách xã hội: Tổ chức tặng quà cho các đối tượng

chính sách, gia đình đặc biệt khó khăn và các hộ gia đình nghèo trong dịp tết

được kịp thời đúng đối tượng. Tổng các xuất quà đã trao là 233 xuất; Trong

đó: Qùa của Trung ương hỗ trợ các gia đình nghèo 205 xuất. Qùa của Huyện,

Tỉnh Lạng Sơn 28 xuất. Xét trợ cấp thiếu đói trong dịp tết cho 19 hộ với 73

9

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

nhân khẩu, tổng số gạo 1.095. Hỗ trợ cứu đói giáp hạt II cho 56 hộ 234 nhân

khẩu, tổng số gạo 3.510 kg.

Công tác xóa đói giảm nghèo: Được quan tâm chỉ đạo thực hiện ngay

từ đầu năm, theo kết quả rà soát năm 2013: Số hộ nghèo 43 hộ = 12%; công

tác cấp thẻ BHYT cho các đối tượng đã được quan tâm triển khai thực hiện và

kịp thời, tổng số thẻ BHYT 1,289 thẻ; Trong đó đối tượng nghèo 677 thẻ,

DTTS 612 thẻ. Hỗ trợ cho hộ nghèo về tiền điện 04 quý số tiền 82.584.000

đồng. Triển khai hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo theo Quyết định 102/2009/QĐ

- TTg số tiền 78.100.000 đồng; Quyết định 28/2013/QĐ - UBND ngày

24/3/2013 của UBND tỉnh cho 82 hộ số tiền 82.000.000 đồng. Vốn hỗ trợ 174

triệu, hỗ trợ phân lân tổng hợp được 11.100kg.

1.2. Khái quát về người Tày ở Châu Sơn

Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, người Tày có số dân đứng thứ

hai sau người Việt (Kinh), là dõn số cú số dân đông nhất trong các tộc người

thiểu số 1.626.392 người theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009. Địa

bàn cư trú chính của người Tày chủ yếu ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà

Giang,Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Yên Bái…Ngoài ra còn có một

bộ phận sống ở Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai. Gần đây một bộ phận đã

chuyển vùng vào các tỉnh Tây Nguyên: Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon

Tum. Đây là một nét mới trong việc mở rộng địa bàn cư trú của người Tày từ

các thung lũng miền núi phía Bắc tới vùng cao nguyên đất đỏ phía nam.

Người Tày sinh cơ lập nghiệp ở vùng miền núi, trong những thung lũng

có ruộng bậc thang xung quanh, có rừng cây, suối nước, đồi cỏ, khí hậu trong

lành, thuận tiện cho việc cấy trồng cây lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm,

và các loại hoa màu, các loại cây công nghiệp, cây ăn quả. Như vậy các yếu tố

cơ bản của vùng sinh thái cư dân người Tày sinh sống là: rừng, núi, nương,

sông, suối.

Sống trong điều kiện tự nhiên như vậy, từ lâu người Tày đã hình thành

nên những đặc trưng sinh thái tộc người và kho tàng tri thức bản địa rất phong

10

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

phú đa dạng. Sống định cư thành bản từ rất lâu đời, mỗi bản của người Tày

đều có tên gọi riêng gắn với địa danh sinh sống, gắn với đặc điểm địa lý, với

truyền thống hay gắn với gốc tích của làng bản ấy. Trong một thôn bản số

lương nóc nhà từ khoảng 40 đến 100 tùy thuộc vào nơi đất đai thuận lợi, giao

thông đi lại thuận tiện.

1.2.1. Lịch sử tộc người

Dõn tộc Tày cũn cú cỏc nhúm: Thổ, Ngạn, Phộn, Thu Lao, PaDớ. Tiếng

núi người Tày thuộc hệ ngụn ngữ Thỏi, nhúm ngụn ngữ Tày- Nựng (nhúm

ngụn ngữ Thỏi phớa đông). Về lịch sử cư trú của dân tộc Tày đó được nhiều

nhà dân tộc học đề cập trong nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu khỏc nhau. Nhiều

ý kiến thống nhất rằng, người Tày và người Nùng là những cư dân có chung

một nguồn gốc lịch sử, cùng thuộc khối Bách Việt xưa. Tày là tên gọi đó xuất

hiện từ lõu đời, có thể là vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên.

Người Tày cổ đó tham gia vào việc thành lập nước Âu Lạc, hiệu là An Dương

Vương đóng đô ở Cổ Loa, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Mặc dù

quốc gia Âu Lạc tồn tại không bao lâu, nhưng có vai trũ quan trọng trong lịch

sử hỡnh thành cộng đồng người Tày - sự liên minh ngày càng vững chắc của

các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam để cùng nhau xây dựng và

bảo vệ tổ quốc.

Từ xưa đến nay, cỏc cư dõn thuộc ngụn ngữ Tày - Thái đó giữ được vai

trũ rất quan trọng trong lịch sử miền Nam Trung Quốc và cỏc nước ở Đông

Nam Á. Những người Tày- Thỏi cổ đó góp phần sáng tạo nên nền văn húa

bản địa ở vựng này. Trong lỳc nhà Mạc gặp lúc khó khăn, đó chạy lờn Cao

Bằng một thời gian dài nờn một số cứ liệu cho rằng người Tày mang họ Ma,

sinh sống ở Cao Bằng, Lạng Sơn, chính là con cháu nhà Mạc ngày xưa. Mặt

khác, do người Tày cùng cư trú lâu đời với người Nùng và một số lưu quan

người Kinh nờn việc giao lưu kinh tế, văn hóa, quan hệ hôn nhân giữa ba dân

tộc này diễn ra mạnh mẽ. Hệ quả là một số người Kinh bị đồng hóa thành

người Tày và ngược lại, tựy theo từng vựng.

11

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Khảo cứu nhiều dũng họ người Tày ở Châu Sơn cho thấy, nhiều dũng

họ người Tày tại đây có nguồn gốc khác nhau, có thể là người Tày cổ trước

đây, cũn gọi là người Thổ (cư dân bản địa đó sinh sống từ lõu đời), có thể là

Tày lưu quan (từ nơi khác lên làm quan và ở lại), cũng có thể là người Kinh từ

miền xuôi lên, người Hoa từ Trung Quốc sang, …Điều đó chứng tỏ rằng,

người Tày ở Châu Sơn ngày nay cú nhiều nguồn gốc và sinh sống hũa hợp.

Những người dân ở xó Chõu Sơn cho biết họ đó đến đây sinh sống được

khoảng 6 đời (tức là khoảng 300 năm cỏch ngày nay).

1.2.2. Đặc điểm văn hóa của người Tày ở xó Chõu Sơn

*Văn hóa vật chất

Nhà cửa: Để thích hợp với vùng địa lý miền núi, mưa lắm, nắng nhiều,

độ ẩm dữ, nhà sàn chính là kiểu dạng truyền thống xuất phát từ điều kiện cư

trú đầu tiên được người Tày lựa chọn. Nhà sàn có cả ba mặt bằng (gác, sàn,

mặt đất), sân phơi trước nhà. Không gian ba tầng bao gồm: Tầng đất, mặt sàn

và gác. Tầng đất để nhốt trâu bò, lợn, gà. Mặt sàn là mặt bằng sinh hoạt của

cả gia đình, trong đó nơi trang trọng nhất ở gian giữa là nơi thờ cúng tổ tiên,

phía bên phải của nhà thờ là nơi ngủ của chủ nhà, phía bên trái ban thờ là nơi

tiếp khách và là nơi nghỉ ngơi của khách, có cầu thang phụ dẫn vào bếp. Bếp

của người Tày là không gian đầm ấm trong gia đình bởi người Tày có thói

quen sau một ngày lao động vất vả, tối đến mọi người quây quần bên bếp lửa

để ăn uống, trò chuyện. Gần bếp lửa là buồng ngủ của con dâu. Các sàn là nơi

chứa các vật của gia đình. Tuy nhiên hiện nay tập quán nhốt trâu, bò, lợn, gà

dưới gầm sàn hầu như không cũn bởi lý do gây mất vệ sinh, đồng bào đã di

chuyển vật nuôi ra xa nhà, gầm sàn dùng làm nơi cất giữ dụng cụ sản xuất.

Ngoài nhà sàn là ngôi nhà truyền thống, người Tày còn có dạng nhà

nửa sàn, nửa đất thường được dựng ở những khu đất bằng phẳng, kiểu nhà

nãy đỡ tốn kém trong khi làm và thuận tiện trong công việc hàng ngày. Một

kiểu nhà khác có ở vùng người Tày là nhà đất trình tường (bốn bức tường từ

đất lên đến nóc bao quanh nhà đều bằng đất sét nện chặt dài hai gang, các

12

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

phòng ngủ trong nhà được ghép bằng ván). Tuy nhiên khoảng 7 năm trở lại

đây nhà của người Tày ở Châu Sơn đã dần chuyển qua nhà xây như: nhà

cấp bốn, nhà mái bằng, nhà cao tầng…

* Trang phục: Trong ngày thường cũng như lễ tết, trang phục truyền

thống của người Tày có màu xanh chàm, màu trắng chỉ dùng trong tang lễ. Họ

tự dệt vải, tự trồng cây chàm để chế thành thuốc nhuộm vải và tự cắt may

trang phục của mình. Trang phục phụ nữ Tày kín đáo với quần (hoặc váy), áo

ngắn, áo dài, khăn đội đầu, thắt lưng và cùng các đồ trang sức bằng bạc, làm

nổi bật đường nét cơ thể, tạo dáng thanh gọn và đặc biệt làm tôn nước da

trắng của người phụ nữ, chiếc vòng bạc óng ánh đeo ở cổ, và vòng tay, xà tích

trên nền của màu chàm tạo nên nét độc đáo tinh tế duyên dáng của bộ y phục.

Trong cuốn Văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, nhà nghiên cứu văn hóa

Ngô Đức Thịnh nhận xét rằng: “ Bộ nữ phục Tày mang vẻ đẹp thâm trầm,

mới đầu không gây cảm giác choáng ngợp, nhưng vẻ đẹp và nét độc đáo của

nó cứ dần dà thu hút sự chú ý, âm thầm chinh phục thờm mỹ của người chiêm

ngưỡng nó ”. Hiện nay ở nhiều vùng, người Tày không còn nhuộm chàm nữa

mà họ mua vải công nghiệp màu xanh để may trang phục cho mình, phụ nữ

chỉ mặc trang phục truyền thống vào những dịp lễ tết trọng đại, ngày thường

họ thường dùng trang phục may bán sẵn như người Kinh. Đàn ông hầu như đã

không còn mặc trang phục truyền thống của người Tày là quần áo chàm mà

mặc theo người Kinh, chỉ còn rất ít những người tuổi cao là còn giữ bộ trang

phục truyền thống.

*Ẩm thực: người Tày chủ yếu ăn cơm tẻ. Hàng ngày, người Tày ăn

bốn bữa ăn: sớm, trưa, chiều, tối, trong đó bữa trưa và chiều là bữa ăn chính,

hai bữa còn lại gọi là ăn nhẹ, cũng có thể thêm bữa khuya. Lúa nếp cũng được

đồng bào chú ý cấy trồng để chế biến thành nhiều loại xôi, bánh khác nhau

dùng trong các dịp lễ tết. Các món ăn chế biến từ thịt lợn, gà, vịt, ngỗng,

ngan) và cá khá phong phú. Người Tày có nhiều kinh nghiệm trong việc chế

biến và bảo quản thịt và cá để ăn lâu ngày như ướp thịt, cá, cá thính, mắm

13

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

chua, mắm ngọt. Các món nướng và phơi khô ở gác bếp dùng để bảo quản thịt

trâu, bò, lợn…Các loại rau và măng chế biến thành nhiều món ăn ngon được

đồng bào ưa thích . Nói chung do điều kiện sinh sống ở miền núi, ngoài

những vật nuôi, cây trồng, cây lương thực là nguồn cung cấp thức ăn chính,

đồng bào còn khai thác được trong tự nhiên nhiều loại thức ăn mùa nào thức

đó, vừa giàu chất dinh dưỡng vừa có tác dụng chữa bệnh.

Người Tày có nhiều món ngon, có món được dùng hàng ngày, có món

chỉ có thể chế biến tại thời điểm nhất định trong năm. Trong dịp tết nguyên

đán bánh chưng là món ăn đặc trưng. Ngoài ra đồng bào còn chế biến nhiều

loại bánh mứt, kẹo từ gạo nếp như khẩu sli, phồng phềnh, thốc théc, bánh

khảo, chè lam…và những món ăn được chế biến từ thịt như: Gà sống thiến, từ

thịt lợn như: Lợn quay, khâu nhục, lạp xưởng, nem chua, giò thủ, thịt

lạp…Nhiều món ăn của đồng bào được chế biến trong dịp tết có thể dùng hết

tháng giêng đến tháng hai. Trong tiết thanh minh (tháng ba) có các loại măng

trên rừng, lá ngải làm bánh ngải, các loại lá trên rừng chế biến thành xôi ngũ

sắc. Dịp tết Đoan Ngọ (5/5) có món bánh tro, rượu nếp. Tháng bảy với rằm

tháng bảy đồng bào ăn tết rất lớn với nhiều món ăn như: Vịt, gà, ngỗng, làm

bún, làm bánh tải. Tháng tám với trám đen, cùng nhiều loại hoa quả chín

trong vườn. Tháng chín với món cốm để mừng cơm mới. Tháng mười với

món bánh cóng phù (trôi tàu)…

Cơm tẻ được dùng thường ngày nờn lúa tẻ được cấy trên diện rộng,

nhưng đồng bào luôn chú ý cấy trồng lúa nếp dể dùng vào các dịp lễ tết, cưới

xin, ma chay… Có lẽ xưa kia lỳa nếp là nguồn lương thực chính của đồng

bào, được thể hiện qua món cơm lam- cách nấu ăn cổ xưa nhất, nên ngày nay

nếp không thể thiếu được trong các nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng tâm linh,

lễ nghi nông nghiệp.

* Văn hóa xã hội

Hiện nay xó Chõu Sơn có 11 thôn, trong đó 3 thôn vùng cao với tổng diện tích toàn xó là 97,277km2 , tổng số 375 hộ dân với 1,675 nhân khẩu.

14

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Người Tày canh tác không gắn với những cánh đồng nên không cư trú tập

trung thành bản lớn mà thường chỉ vài ba chục nóc nhà. Thôn bản thường ở

sườn đồi, chân núi hoặc những bói bằng ở ven suối, và dọc theo đường Quốc

lộ 4b. Quanh nhà ở của người Tày thường trồng dăm ba loại cây như: lê, mận,

đào, cam, quýt…và những đám rau gia vị.

Trong thôn thường có nhiều họ khác nhau cùng sinh sống như họ Nông,

họ Lý, họ Hoàng, họ Ló… Dự cựng họ hay khỏc họ, người dân bao giờ cũng

đoàn kết giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, đặc biệt là trong ma chay,

cưới xin. Mỗi thôn thường có một miếu thờ thổ công riêng được dựng ở đầu

thôn, dưới gốc cõy to. Trong thụn ở xó Chõu Sơn không có hội hiếu và hàng

phe như ở các huyện hoặc xó khỏc của Lạng Sơn. Tuy nhiên trong làng có

tang ma, hay cưới hỏi thỡ trong làng, thỡ mỗi gia đỡnh phải cú một người đến

tham gia giúp đỡ dưới sự phân công của trưởng thụn. Đây chính là sợi dây

giúp từng nóc nhà sống trong thôn luôn đoàn kết, gắn bó hũa thuận với nhau.

Về quan hệ dũng họ của người Tày khỏ rừ ràng, đó là con cái luôn lấy

theo hộ bố tức là bên họ nội. Trong họ nội và họ ngoại cũn phõn biệt họ gần

và họ xa. Tất cả những việc như cưới xin, ma chay,…đều được thông báo đến

những người họ gần và có trách nhiệm đến giúp đỡ. Trong họ của người Tày

cứ ai nhiều tuổi hơn thỡ được gọi là anh, chị không kể là con chú hay con bác.

Họ có thói quen ít khi gọi thẳng tên người ông, người bố mà thường gọi theo

tên của cháu đầu hoặc con đầu.

Gia đỡnh người Tày ở đây theo chế độ phụ hệ, trong mỗi gia đỡnh

thường có từ hai đến ba thế hệ cùng chung sống. Trong gia đỡnh vai trũ của

người đàn ông là rất lớn, con trai là người kế thừa tài sản không kể là trưởng

hay út. Cũn con gỏi khi đi lấy chồng thỡ được cha mẹ cho của hồi môn thuộc

vào điều kiện kinh tế của từng gia đỡnh. Xưa kia trong gia đỡnh cũn cú sự

phõn biệt giữa con dõu và em dõu với bố chồng và anh chồng.

Hụn nhõn: Trước kia thanh niờn nam nữ tỡm hiểu nhau qua cỏc cuộc

hỏt Sli, Khi yờu nhau, người con có thể tặng người con gái bao đeo dao để

15

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

mỗi khi người con gái nhớ đến người con trai hoặc cũn cú thể tặng cụ gỏi

chiếc giỏ đựng bông (bắp lỳ) và giỏ đựng con sợi. Người con gái có thể tặng

người con trai áo, túi thêu. Thế nhưng việc dựng vợ gả chồng do bố mẹ quyết

định trên cơ sở môn đăng hộ đối giữa hai gia đỡnh, sự ưng thuận của con cái

và lá số của đôi nam nữ. Một đám cưới phải trải qua rất nhiều những nghi lễ,

đó là: lễ dạm hỏi(khắm lựa), lấy lỏ số(au mỡnh, lễ bỏo số, lễ khả cỏy, lễ cưới

(kin lảu). Sau ngày cưới cô dâu chưa về ở hẳn bên nhà chồng mà chỉ có mặt

khi bên nhà chồng có công việc bận rộn, lễ tết và phải có người sang đón. Đến

lúc sắp sinh con người phụ nữ mới về ở hẳn bờn nhà chồng.

* Văn hóa tinh thần

Ngôn ngữ: Người Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái đã có quá trình

phát triển lâu dài. Do đó có vốn từ vựng phong phú và tương đối thống nhất

nên cho dù ở các địa phương khác nhau người Tày vẫn có thể nghe và hiểu

nhau dễ dàng.

Chữ viết của người Tày là chữ Nôm Tày. Theo các nhà nghiên cứu thì

chữ Nôm Tày được hình thành và phát triển gắn với quá trình truyền bá văn

hóa Hán từ người Kinh vào khu vực người Tày, hưng thịnh nhất là vào

khoảng thế kỷ 17-18 với sự có mặt của quan quân nhà Mạc ở Cao Bằng …Vì

vậy có thể nói chữ Nôm Tày là một trong những sản phẩm thể hiện khá rõ đặc

điểm giao lưu văn hóa Kinh- Tày khu vực người Tày Việt Bắc’’. Chữ Nôm

Tày hiện nay được phổ biến trong các lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo.

Văn học- nghệ thuật : Văn học dân gian của người Tày phong phú bao

gồm nhiều thể loại khác nhau như truyền thuyết, cổ tích, truyện thơ, dân ca,

ca nghi lễ, ca dao, tục ngữ, thành ngữ…Kho tàng cổ tích Tày kể về các sự tích

trong cuộc sống, khuyên bảo con người nên ở hiền gặp lành, ác giả ác báo, ít

đấu tranh. Kho tàng về truyện thơ và thơ ca nghi lễ của người Tày khá đặc

sắc, được sáng tạo từ ngàn xưa và lưu truyền từ đời này sang đời khác như

một báu vật tinh thần biểu hiện đời sống tâm hồn phong phú. Đối với người

Tày, “lượn, sli, hát pụt, hát then, văn than, văn tế, phong slư, quan lang, đồng

16

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

dao, hát ru…Nhiều như sao trên trời, ý tứ nhiều hơn nước chảy, đó là những

lời từ gió mà vọng ra thành tiếng, vọng vào núi, rền vào đá để dội vào lòng

người mọi buồn vui sướng khổ ở cõi người’’.

Lễ tết, hội hè : Trong năm người Tày có rất nhiều lễ tết, hội hè theo tiết

khí, như : Tết nguyên đán; Tết nguyên tiêu; Tiết thanh minh; Tết mùng 5

tháng 5, giết sâu bọ ; Mùng 6 tháng 6 tết cầu mùa màng; Tết Rằm tháng Bảy

xá tội vong nhân (đối với đồng bào Tày tết dằm tháng Bảy là tết lớn thứ hai

trong năm) Tết Rằm Trung Thu; Mùng 9 tháng 9 Tết mừng lúa mới ; Mùng

10 tháng 10 …Lễ hội tiêu biểu nhất trong năm của người Tày là lễ hội Lồng

tồng (xuống đồng) được tổ chức sau Tết nguyên đán, tùy theo từng bản sao

cho không trùng ngày để các bản có thể tới dự với nhau cũng là dịp để thăm

hỏi gặp gỡ và giao lưu văn hóa. Hội Lồng tông nhằm cầu mong Thần Nông

ban cho mưa thuận gió hòa, việc đồng áng được thuận lợi, mùa màng bội thu,

người người được mạnh khỏe sống lâu, nhà nhà yên lành hạnh phúc. Trong lễ

hội, ngoài phần tế lễ Thần Nông là phần hội với nhiều trò chơi dân gian như:

đánh yến, tung còn, kéo co, chơi khăng, thi bắn cung, bắn nỏ, biểu diễn võ

thuật dân tộc… đặc biệt còn có hát then, đàn tính, nam nữ thanh niên hát sli,

hát lượn giao duyên.

Tiểu kết chương 1

Sinh sống trong điều kiện tự nhiên chủ yếu là đồi núi nên từ lâu người

Tày ở Châu Sơn đó hỡnh thành nờn những đặc trưng sinh thái tộc người và

kho tàng tri thức bản địa rất phong phú và đa dạng. Bên cạnh đó, “Người Tày

có phong cách nhu mỡ giản dị, quý mến bạn bố và rất hiếu khỏch. Đó là

những con người ở nhà sàn, mặc áo chàm, nói năng dịu dàng, tính tỡnh kớn

đáo, giản dị khiêm nhường, ít khoa trương đặc biệt là tớnh hiếu thảo, mến mộ

và tuyệt đối tin cậy khi có niềm tin. Bản sắc ấy chính là yếu tố quyết định sự

hỡnh thành những thuần phong mỹ tục ngàn năm của đồng bào”. Đó là khái

lược những đặc trưng văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể nhằm phác họa

nên bức chân dung của người Tày, từ đó có thể định dạng được văn hóa Tày

cho dù ở địa phương khác nhau. Những đặc điểm chung trên đây sẽ là tiền đề

17

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

để tỡm hiểu cỏc khớa cạnh trong văn hóa tinh thần của người Tày nói chung,

người Tày ở xó Chõu Sơn, huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn nói riêng mà

trong đó tang ma là một biểu hiện cụ thể.

18

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Chương 2

TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ CHÂU SƠN

2.1. Quan niệm của người Tày về cái chết

Con người sinh ra ai cũng phải theo quy luật sinh, lão, bệnh, tử, như

vậy mới hợp với lẽ trời. Con cái rất muốn cha mẹ sống trường thọ với cháu

con Nhưng đã là quy luật có ngày cha mẹ phải từ giã cõi trần để về miền cực

lạc Cũng bởi xuất phát từ quan niệm này nên khi đã làm tròn bổn phận của

mình với cuộc đời, họ yên tâm thanh thản và chuẩn bị những điều cần thiết

cho mình ở cuộc sống bên kia thế giới. Đối với người Tày, khi cha mẹ bước

vào tuổi già (từ 50 trở lên) con cái thường chuẩn bị áo quan cho cha mẹ. Quan

tài phải được đóng cẩn thận. Khi định làm quan tài chủ nhà nhờ thầy chọn

ngày lành tháng tốt đối chiếu với ngày tháng năm sinh của bố mẹ của nhà chủ.

Khi đóng xong thường kê ở nhà kho, quy định rõ cái nào của bố cái nào của

mẹ, và tránh không được bán hay cho mượn. Người Tày quan niệm việc con

cháu lo hậu sự cho ông bà, cha mẹ là thể hiện sự hiếu thuận, hành động này

khiến ông bà cha mẹ yên tâm. Ngoài ra, ngay từ khi còn khỏe người Tày cũng

đã chọn cho mình một khu đất cao ráo như gò đồi, trước mắt có dòng suối,

cánh đồng, xa xa tầm mắt là ngọn núi, đồi có đỉnh nhọn, phía sau là núi rừng

để đặt mộ. Việc xem đất cát, phần mộ là ảnh hưởng thuật cho phong thủy

trong Đạo giáo.

2.2.Tang ma của người Tày ở xó Chõu Sơn trong truyền thống

Trước đây, người Tày thường quản xác người chết trong nhà từ 5, 7, 9

đêm có đám để 13, 15 ngày cũng có đám kéo dài cả thỏng. Nhưng phổ biến

nhất vẫn là để ma kéo dài 3 ngày đêm. Việc quản xác luôn gắn với số lẻ, vỡ

theo quan niệm của đồng bào: đêm lẻ là đêm ma, đêm chẵn là đêm của con

người (chẵn ở lẻ đi). Việc quản xỏc trong nhà cú nhiều nguyờn do: có thể

chưa được ngày đưa đám; có khi do con cái đi làm ăn xa chưa kịp về phải

quản xác đợi; hoặc gia đỡnh khỏ giả muốn phụ trương thân thế,…Dù để ma 3

ngày hay 15 ngày thỡ cỏc nghi lễ thực hiện đều giống nhau, nếu thời gian

19

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

quản xác trong nhà ngắn thỡ trong một ngày đêm cú thể tiến hành nhiều nghi

lễ khác nhau, nhưng vẫn đảm bảo nội dung các nghi lễ; nếu quản xác lâu thỡ

mỗi ngày đêm thỡ chỉ cần thực hiện 1, 2 nghi lễ vỡ vậy cỏc thầy tào khi hành

lễ cũng chậm rói, thong thả hơn.

2.2.1. Công tác chuẩn bị cho một đám tang

Sở dĩ công tác chuẩn bị trong một đám tang là rất quan trọng bởi cú

cõu“ tang gia bối rối” hay “ma chê cưới trách”…Nếu điều kiện kinh tế đầy đủ

giao thụng thuận lợi, gần chợ thỡ việc chuẩn bị cú thể sẽ đơn giản hơn nhiều

nhưng đối với đồng bào cỏc dõn tộc núi chung, đồng bào Tày ở Châu Sơn nói

riêng điều kiện mọi mặt cũn rất thiếu thốn, kinh tế chủ đạo là tự cấp tự túc nên

công tác chuẩn bị cho một đám tang là vô cùng quan trọng.

Người già trong nhà tuy vẫn khỏe mạnh nhưng con cái luôn chuẩn bị

một số thứ phũng khi cha mẹ qua đời, như chủ động trong công việc khâm

liệm ban đầu: 20m vải trắng dùng làm phượn (chăn, quần, áo, hài, mũ, khăn,

chiếu, cho người chết (nam bảy bộ, nữ chín bộ), giấy màu đỏ để dán quan tài,

giấy ngũ sắc làm nhà táng, để lót mâm cúng, giấy bản gấp làm tiền vàng rắc

đường đưa người chết đến mộ. Ngoài ra cũn chuẩn bị gà, lợn, rau xanh, gạo

nếp, gạo tẻ, để làm các lễ vật dâng cúng và dùng làm thủ tục trong đám tang.

Do điều kiện sống ở vựng hẻo lỏnh nếu gia đỡnh khụng chuẩn bị kịp thụn bản

cú thể giỳp nhau qua hỡnh thức cho vay khụng lấy lói, giả sử khi gia đỡnh cú

tang mượn hàng xúm, họ hàng con lợn năng 100kg nhưng 10 năm sau gia

đỡnh cho mượn cú việc cần dựng thỡ người mượn cũng chỉ phải trả như trước

không được tính lói mà cả hai bờn đều vui vẻ. Đây là một trong những nét

đẹp đáng trân trọng của cộng đồng người Tày ở xó Chõu Sơn.

Tỡnh làng nghĩa xúm ấm ỏp nhất thể hiện qua sự đoàn kết của hàng xóm

trong thôn. Khi gia đỡnh cú người chết, gia chủ báo cho trưởng thôn. Trưởng

thôn sẽ phân công cho người đến làm việc trực suốt ngày đêm, cắt cử bộ

phận phục vụ: sửa nhà chống đỡ nhà, lo củi nước, làm cơm cho gia đỡnh,

phục vụ thầy cỳng, làm nhà tỏng, đào huyệt, khiờng quan tài, đắp mộ…

20

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Người nào được phân công nhiệm vụ gỡ thỡ theo đó mà nghiờm tỳc thực

hiện, khụng ai trốn trỏnh khụng chấp nhận vắng mặt với bất kỳ lý do nào.

Đón thầy cỳng: Đối với người Tày ở xó Chõu Sơn, khi gia đỡnh cú

người tắt thở, trong nhà cử người đi mời thầy Tào về chủ trỡ thực hiện cỏc

nghi lễ trong đám tang. Gia đỡnh phải có nén hương đến nhà thầy, đứng trước

bàn thờ trỡnh bày lý do đến đây và mời thầy đến giúp. Nếu thầy đồng ý thỡ

thắp hương lên bàn thờ, thống nhất với gia đỡnh về thời gian, cách đi và các

việc liờn quan khỏc Thầy tào cũng gọi thờm bốn học trũ (lục sở) cùng đi để

giúp việc cho thầy đồng thời cũng là để nâng cao tay nghề cho chính họ. Xin

được nói thêm về tục lệ đón thầy tào trong đám tang của người Tày ở địa

phương khác tại huyện Quảng Hũa (Cao Bằng), việc mời thầy là do con

trưởng, khi đó mang theo một con gà trống nhỏ, một ống gạo, nếu thầy đồng ý

thỡ mổ gà cầu khẩn, nếu khụng thỡ người nhà lại mang con gà đó đến mời

thầy khác. Người Tày ở Đồng Mu (huyện Bảo Lạc, Cao Bằng) khi đi mời

thầy tào người con trai trưởng đội úp lên đầu một chiếc rế nồi hay một vũng

dõy rừng. Đến nhà thầy Tào nhỡn thấy như vậy thầy sẽ chuẩn bị mọi thứ để

cùng đi. Trước khi đi thầy lấy dây chuối khô bện thành dây thừng buộc ngang

lưng người con trai trưởng [38, tr 214].

2.2.2. Các nghi thức trong tang ma

Tang ma là một chuỗi các nghi thức biểu hiện những quan niệm, thế

giới quan của con người, đồng thời nó cũng thể hiện nét đẹp tỡnh người, về

mối quan hệ giữa người sống với người chết và người sống với người sống.

Đám tang của người Tày ở xó Chõu Sơn thông thường trải qua những nghi

thức sau. Lễ tắm rửa, lễ khõm liệm, lễ nhập quan, lễ khay tang lũ…

Lồng Phượn, lâm khốc (tắm rửa, khõm liệm)

Khi gia đỡnh cú người qua đời, đầu tiên con cháu phải dâng cúng người

chết một bát cơm đầy, cắm đôi đũa bông đặt giữa một quả trứng luộc với ý

nghĩa nhắc đến sự sinh sôi sau sự chết, sự biến hóa âm dương để sinh ra con

người. Hỡnh tượng bát cơm tượng trưng cho quả đất (õm) và cũn gợi lờn sự

21

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

thiờng liờng của hạt gạo, tua bụng đầu đũa thể hiện mây trời (dương), quả

trứng có đủ cả âm dương. Ngoài ý nghĩa sõu sắc trờn việc dõng cỳng bỏt cơm

quả trứng đối với đồng bào Tày ở xó Chõu Sơn cũn cú ý nghĩa bỡnh dị hơn

nhưng cũng rất nhân văn đó là bát cơm như gói lèng, đồng bào thường ngày

đi làm xa vẫn gói lèng mang theo như vậy.

Sau đó họ đun một nồi nước lá thơm (lá đào, lá bưởi) để rửa mặt và lau

mỡnh cho người chết (vuốt mắt nhắm lại), với ý nghĩa tẩy sạch bụi trần để về

với cừi tiờn. Đồng bào cho rằng tắm rửa bằng lá thơm vừa có ý nghĩa tẩy uế,

vừa làm cho linh hồn người chết được thơm tho mát mẻ. Sau khi tắm cho

người chết xong, đưa xuống đặt tại chiếc chiếu mới trải dưới nền nhà và thay

quần áo mới chuẩn bị tư thế ngay ngắn để về với tổ tiên, nếu là nam thỡ mặc

bảy bộ, nữ chớn bộ, trải tóc sửa râu, đi găng tay, đi hài… Kộo chõn thẳng,

buộc hai ngón chân cái lại, kéo tay thẳng và đặt bàn tay lên bụng, trong mỗi

bàn tay đặt một đồng tiền, bỏ vào miệng một đồng bạc để làm lộ phí cho

người chết và buộc người chết phải ăn nói thận trọng, khụng núi những gỡ cú

hại đến con chỏu.

Sau đó họ lấy vải trắng để lót và đắp cho người chết gọi là lồng phượn

theo quy tắc: Con dâu cả (phượn chang rườn) dài 4 mét khổ nhỏ gấp thành hai

phần không đều nhau để lót dưới lưng người chết, mặt vải ngắn sẽ chạm cổ,

cũn mảnh dọc theo lưng qua đầu gập lại che mặt. Tiếp theo là đến các con dâu

thứ nhưng chỉ cần đắp đến cổ. Đắp một chiếc chăn nền đen có hoa lên người

và cuộn người kín lại, dùng dây vải trắng bắt đầu buộc bắt đầu từ cổ chân cho

tới vai là năm nút. Sau đó đến bên ngoại của người chết đắp một tấm phượn,

cuối cựng là con gái, các cháu, người thân đắp phượn cho đủ nam 7 tấm, nữ 9

tấm Việc làm này thể hiện sự đền ơn người đó sinh thành và nuụi dưỡng

mỡnh, con chỏu biếu chăn để đắp, vải để che mưa nắng. Nếu họ hàng anh em

ruột thịt có vải trắng đem đến thỡ con dõu cả nhận lấy và có lời thông báo với

người quá cố với ý rằng: Cha (mẹ) ơi, có em Anh mang vải chăn đến báo hiếu

cho cha mẹ đây, mẹ nhớ xếp đếm cho kỹ, cất cẩn mang theo để làm chăn đắp

22

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

che sương gió mưa nắng. Đó là những lời nói chân thành gây xúc động mọi

người đến dự.

Lõm khốc: Sau khi khâm liệm xong, con cháu ngồi túc trực ở hai bên,

nam phải, nữ bên trái theo chiều nằm của thi thể người chết. Trước khi thầy

Tào đến con cháu không được khóc tránh nước mắt rơi xuống thi thể, và có

quan niệm rằng nếu khóc thỡ phần hồn của người chết sẽ lỡa khỏi phần xỏc.

Đám ma của người Tày ở Châu Sơn bắt buộc phải cú thầy tào để đưa

hồn người chết về với tổ tiên và bảo vệ hồn người sống khỏi ma quỷ làm hại.

Lúc này thầy tào cũng đó đến nhà tang chủ và tiến hành một số thủ tục trước

khi hành lễ. Khi thầy tào đến cổng nhà có người chết, đầu tiên thầy phải làm

lễ yểm bùa và trỡnh bỏo với thổ cụng gia đỡnh cú người mất về lý do đến đây

và mong được thổ công thổ địa đất này giúp đỡ. Lục sở và các âm binh của

thầy hoàn thành nhiệm vụ với gia chủ. Khi thầy bước vào đến cửa, các con

cầm trên tay mỗi người một mảnh khăn trắng quỳ hai hàng để thầy cầm tóc

thắt nút lại với ý nghĩa các con có tội đó khụng giữ được cha (mẹ) sống lâu

hơn. Sau đó các con trở vào trong nhà túc trực bên cạnh thi hài người chết,

thầy tào ổn định chỗ để trỡnh bàn hành lễ và trỡnh bàn thở tổ tiờn của gia

đỡnh bỏo về việc cú người mới qua đời. Thầy tào xem giờ để nhập quan và

đưa tang bằng cách lấy ngày tháng năm sinh và ngày giờ qua đời của người

chết cú gặp phải giờ xấu hay khụng Đồng bào quan niệm nếu là giờ xấu như

xung với tuổi hay mệnh người chết thỡ sẽ khụng may mắn cho người thân

trong gia đỡnh. Trong những trường hợp đó thầy tào phải dùng phép thuật để

giải cốt để cho người chết dễ dàng được siờu thoỏt, con cháu được yên tâm

làm ăn và không gặp rủi ro sau này.

Trước khi hành lễ, thầy tào đội mũ, mặc áo choàng. Địa điểm hành lễ là

trên một chiếc giường gỗ (hoặc phản gỗ) kê ở góc phải gian giữa của nhà, nơi

thi hài người chết, trên đó có một mâm lễ với ba bát gạo trắng cắm năm thẻ

hương và cắm thẻ ấn hành nghề (ấn hỡnh vuụng cú chữ Nho do sư phụ cấp để

điều khiển âm binh). Ba bỏt gạo cú ý nghĩa cấp lương thực để thầy nuụi õm

23

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

binh, qua mỗi lễ thức lại phải đổ thêm gạo vào ba bát gạo đó, bất kể ai có lễ

cúng người chết cũng phải đổ thêm gạo kể cả tràn đầy, năm gói xôi, năm chén

rượu, năm chén trà, một phong bao giấy đỏ gói tiền.

* Dao Nả ( Rửa mặt)

Từ thủ tục này trở đi đều phải thực hiện dưới sự hướng dẫn, điều hành

của thầy Tào. Đầu tiên thầy Tào và con chỏu xuống một con suối gần đó và

làm phép lấy nước lá rửa mặt cho người chết với ý nghĩa cuộc sống ở trần

gian ai cũng mắc nhiều vướng bận, do đó cần được rũ bỏ bụi trần để hồn ra đi

thanh thản. Mỗi người được lau ba lần bắt đầu từ người con trai cả, con trai,

con dõu con gái, rồi đến các cháu. Những động tác này mang tính nhân văn

thể hiện sự chu toàn, tận hiếu tận nghĩa đối với người đó khuất. Sau khi tất cả

con chỏu ruột thịt hoàn tất thủ tục, đậy mảnh vải lại và tiến hành thủ tục nhập

quan.

*Khẩu mạy (Nhập quan )

Như đó trỡnh bày về quan niệm về cái chết của người Tày. Người Tày

ở Châu Sơn khi đó bước vào độ tuổi 50 con cái thường chuẩn bị sẵn cho bố

mẹ bộ áo quan. Ngày bắt đầu đóng quan tài chủ nhà sửa mâm lễ để báo cáo

với tổ tiờn Ván đóng quan tài phải bào nhẵn cả mặt trong và mặt ngoài, đục

khéo đóng khít bốn cạnh làm gờ.

Lễ vật trong lễ nhập quan gồm: một con gà luộc, một đĩa xôi, ba miếng

trầu, một chiếc thang ba bậc làm bằng bẹ chuối được đặt dưới chân để hồn

người chết bước lên khi trở về lên thang nhập vào xác, một chiếc gương nhỏ

để mở mắt sáng đường âm, (khai nhạn), một con vịt được gọi là hàn bâm có

nhiệm vụ đưa linh hồn vượt qua Tây Hải, một con gà là móo nhật tinh quõn

cất tiếng gọi bỏo mỗi sỏng thức dậy đi làm, một con ngỗng gọi là phù nga

(thiờn nga) có khả năng bay rất xa và có tiếng kêu kinh thiên động địa. Những

lễ vật trên đều là những con số tượng trưng cho âm dương.

Trước khi đưa người chết vào quan tài phải qua nghi lễ trấn quan tài do

thầy tào điều khiển. Thầy tào miệng đọc bài chú, tay cầm một bó đuốc chạy

24

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

trấn bốn phương và giơ qua giữa quan tài, khi nhận được lệnh từ thầy để đưa

thi hài người chết vào quan tài, bốn người cầm vào bốn góc chiếu nhấc người

chết lên đặt vào trong quan tài. Họ đưa vào quan tài một con dao ý nghĩa để

trừ tà ma một chai rượu, một tờ giấy cắt ziczắc được coi là nơi thu ba hồn

chín vía trở về yên vị trong quan tài .

Sau khi đưa thi hài vào trong quan tài, con cháu cần kiểm tra lại các

thứ cần đưa vào cũn thiếu gỡ khụng, ví dụ : Quần áo, giầy dép, hay những đồ

dùng mà hàng ngày của người chết lúc cũn sống hay dựng. Thầy tào đọc niệm

chú nhập quan để thu ba hồn chín vía (tam hồn cửu phách) của người chết cũn

lẩn khuất ở đâu thỡ về nhập xỏc nằm ở trong quan tài, thầy dán bốn lá bùa vào

bốn góc trong của quan tài để công nhận quyền sở hữu không bị ma tà nào

khác xâm nhập tranh giành và phát lệnh phong quan, đậy nắp quan tài, đóng

tre để cố định quan tài, từ nay không thể nhỡn mặt người chết nữa. Khi quan

tài trong nhà đầu quay vào trong, chân quay ra cửa người Tày Châu Sơn quan

niệm người mới chết chưa thể thành ma vẫn cư xử như người sống trong nhà,

phải chuyển qua nhiều nghi lễ thỡ mới cú thể được chuyển kiếp khác, đến khi

đó thực hiện đầy đủ các hỡnh thức, khi đưa tang đầu lại phải quay đi trước bởi

khi đó được đầu thai ở kiếp khỏc khỡ đầu cũng phải đi trước giống như lọt

lũng mẹ.

* Tế põu ngai (Cúng cơm)

Trong thời gian quan tài trong nhà, mỗi ngày con chỏu phải cúng cơm

hai lần bữa trưa và tối. Mâm cúng đầy đủ cơm canh, thịt, một chiếc bát con,

một đôi đũa , một chén rượu, một chén nước chè. Tất cả con cháu quỳ ra phía

trước quan tài, dưới sự điều hành của thầy tào, lần lượt làm lễ dâng cơm rót

rượu khi đến bữa cúng cơm theo thứ tự trưởng trước thứ sau. Mỗi lần lễ như

vậy con cái lại khóc kể công người quá cố và nỗi tiếc thương của con cái.

* Phỏt hỏo (Phỏt tang)

Sau lễ cúng cơm là lễ phát tang. Lễ vật cúng gồm có một con gà luộc,

một bát cơm, hai chén rượu, một chiếc lược với ý tượng trưng dùng để chải đi

25

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

những vướng bận ở trần gian, một mảnh gang để thầy tào làm phộp trừ đuổi

ma.

Lỳc này, con cháu mặc tang phục ngồi túc trực quanh linh cữu, nam

bên tả nữ bên hữu, thứ tự trưởng trước thứ sau, con đẻ trước, chỏu chắt họ

hàng sau

Tang phục trong tang ma của truyền thống của người Tày là màu trắng (mang

tính âm), chất liệu vải sợi bông, sống lưng áo khâu lộn mép vải với ý nghĩa

tượng trưng để cừng cha (mẹ) lần cuối, vỡ từ tấm bộ đó được cha mẹ cừng

trờn lưng, kể cả những lúc làm ruộng nương. Con trai mặc áo lộn trái vỡ đồng

bào Tày cho rằng tang ma là chuyện đau buồn bối rối không thể mặc chỉnh tề,

đầu buộc khăn tang trắng.

* Tế tam tiờu ( Lễ ba ngày )

Mục tế này với ý nghĩa mong người chết yên ổn siêu thoát để được đầu

thai kiếp khỏc, tam tiờu tức là ba ngày, con số ba hội tụ đầy đủ âm dương để

biến hóa sinh sôi. Trong lễ tế con cháu, họ hàng, người thân đến dâng cúng

người chết những đồ đạc tư trang, lương thực thực phẩm để vong linh có vốn

liếng của cải chuẩn bị đi lập nghiệp ở thế giới bờn kia. Người Tày ở xó Chõu

Sơn cho rằng vong mới sắp đi lập nghiệp, cũn cú nhiều khó khăn, thiếu thốn,

do đó con cái ai có lũng thành gúp của cho vong, ớt thỡ cho là nhiều vơi cũng

xem là đầy. Lễ vật tế gồm có một con lợn, một mâm cơm, con cháu nội ngoại

ruột thịt mỗi người chuẩn bị một cỗ xôi, một con gà, mọi người xung quanh

quan tài để thầy cúng sẽ đọc bài khấn báo cho vong hồn nhận của từng người,

đọc đến người nào thỡ người đó lên làm lễ tế, sau đó thầy cấp cho tờ văn khế

để vong hồn nhận được.

* Hương đăng nội ngoại

Hai họ nội, ngoại cựng sắm lễ cỳng dõng lờn vong linh người quỏ cố.

Lễ vật gồm cú 2 mõm: một mõm cú 1 con gà luộc chớn, một con vịt luộc

chín, rượu 2 bát gạo thắp hương mỗi bát đều lỡ xỡ bọc giấy đỏ để quá hồng

bát gạo, 6 chộn hương, tiền vàng và một mâm xôi đầy.

26

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Đây là lễ hương đăng khai lộ của tất cả con cháu họ hàng bên nội,

ngoại con nuôi…Đây có lẽ cũng là điểm khác biệt trong đám tang truyền

thống của người Tày nói chung và người Tày ở xó Chõu Sơn nói riêng. Lễ vật

dâng cũng giống như ở lễ trên nhưng thành phần có mở rộng hơn.

*Tỵ huyệt ( Xem phần mộ)

Sống giữa nỳi rừng thung lũng, người Tày có tập quán đặt phần mộ rải

rỏc quanh núi đồi. Thông thường việc chọn phần mộ được tiến hành sau khi

có người qua đời, nhưng cũng có người mời thầy xem khu đất phần mộ cho

mỡnh ngay khi họ vẫn đang khỏe mạnh. Họ thường chọn đất nơi sườn đồi,

không chọn ở những nơi ven suối, ven sông, những nơi đó đất dễ sụt lở. Khi

chọn phần mộ thầy lấy ngày tháng năm sinh và ngày giờ tháng mất để định

hướng cho phần mộ.

Trước khi tiến hành lễ tỵ huyệt, thầy tào tiến hành xin âm dương nếu

được mới đi vỡ chứng tỏ rằng vong hồn đồng ý, sau đó thầy tào cùng các con

của người qua đời đến nơi định đào huyệt. Trước khi đi con cả ra trước án tiền

xin được rước bài vị của người chết đi để nhận phần mộ và đi vũng quanh

quan tài ba vũng trước khi ra cửa. Khi đi chuẩn bị mâm lễ vật dâng cúng long

thần thổ mạch nơi vong hồn sắp đến gồm: một bát gạo cắm ba thẻ hương, một

đồng tiền, một chiếc nón, một con dao làm bằng tre, hai chén rượu, kim ngõn.

Khi đến phần đất đó chọn thầy tiến hành làm lễ bỏo cáo long thần thổ mạch,

các vị thần linh đồng ý cho vong hồn mới cũn nhiều bớ ngỡ và chọn hướng để

đào huyệt Khi trở về mọi người lại đi vũng quanh quan tài ba vũng như trước

khi đi nhưng là ba vũng ngược lại lúc đi và đưa bài vị trở về vị trí cũ, rồi trở

lại chỗ phục tang.

* Khao chỏ ( Cỳng tổ )

Lúc này người Tày ở Châu Sơn tiến hành cúng tổ tiến trong gia đỡnh,

cụ kỵ trong phạm vi ba đời, trỡnh bỏo với tổ tiờn gia đỡnh cú vong về quy tổ.

Lễ vật dõng cỳng cú một con lợn, năm bát canh, năm chén rượu. Con cháu

nội ra quỳ trước bài vị, để thầy tào cùng các âm binh tế lễ trỡnh bỏo tổ tiờn.

27

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Nội dung bài tế đại ý cha (mẹ) quy âm, con cháu đau xót vô cựng, từ nay trở

đi nhà thưa tiếng công ơn thỡ chưa kịp báo đền mà cha (mẹ) đó ra đi. Con

cháu sắp mâm dọn cỗ kính mời tổ tiên ba đời hóy trở về chứng giỏm lũng

thành và đón nhận vong hồn mới về nơi chín suối, cầu mong cho vong hồn

sớm được siêu thoát trở về với tổ tiên được thuận lợi.

*Tế co suồng (Tế cõy tiền )

Cõy tiền là của con cỏi tế cha (mẹ), nghi lễ này rất cảm động với nhiều

văn than với các nội dung của mỗi người từ sâu thẳm tấm lũng, kể cụng cụng

ơn của con gái với cha mẹ. Nhớ lại những tỡnh cảm lớn lao của cha mẹ, nhớ

thủa bộ như gà con liếp nhiếp quẩn quanh bên mẹ, lớn lên đi học đi làm được

cha mẹ thương yêu nhịn ăn nhịn mặc dành cho con, đến khi xuất giá làm con

dâu nhà nhà chồng, sinh con mới hiểu tấm lũng lớn lao của cha mẹ, xưa kia

đêm đêm chỗ ướt mẹ nằm chỗ khô dành cho con, ốm đau đêm đêm mẹ thức

trắng bú mớm mong con khỏi bệnh…Nay cha (mẹ) ra đi, lũng con đau đớn

khôn cùng chẳng biết nói sao cho tỏ. Toàn gia con có cây tiền dâng biếu để

người chi tiêu nơi lập nghiệp mới.

Con rể trực tiếp rước bài vị ra nơi để cây tiền để vong hồn nhận biết

cây tiền, thầy điều khiển âm binh để giúp cho vong hồn nhận của cải của con

gỏi dõng tặng. Cuối cựng thầy tào soạn tờ văn khế dán vào cây tiền coi như là

để bàn giao tài sản cho người quá cố.

Tiếp tục đến các cháu gái, con nuôi tặng cây hoa, thạch sơn để vong

hồn trú mưa trú nắng, càng nhiều chỏu thỡ càng nhiều lễ, lễ của ai người đó

đăng ký nhờ thầy giỳp tế lễ, ai cũng có văn khế bàn giao.

* Đại đăng đại tế ( Tế đại trường )

Đây là nghi lễ tế của tất cả con chỏu họ hàng nên gọi là đại tế. Nghi lễ

này gồm 5 mâm cúng: Một mâm có ba con gà, một mâm đồ chay (khẩu, sli,

thốc thộc, bỏnh giầy, bỏnh tải), một mõm bỏnh kẹo, một mõm hoa quả, một

con lợn. Con cháu quỳ đầy đủ trước bài vị để thầy tiến hành cúng tế với mục

đích tổng kết tất cả các nghi lễ trước đó đó làm, tổng kết số lượng tài sản con

28

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

cháu biếu người chết, xem người chết nằm trong diện nào, được thờ cúng ở vị

trí nào trong ban thờ, người chết có thuộc diện được nhập vào tổ tiên hay

không.

Người Tày ở Châu Sơn nói riêng có 4 hỡnh thức tổ chức tang ma cho

từng đối tượng người chết riêng biệt. Đó là đám tang của thầy tào; đám tang

của người con chết trước bố mẹ; đám tang người chưa có gia đỡnh; đám tang

người chết do tai nạn. Việc tổ chức tang ma đó trở thành truyền thống, được

quy định rất rừ ràng, gia đỡnh nào cũng tuõn theo đúng thủ tục tiến hành, bởi

đồng bào lo sợ rằng nếu không làm đúng thỡ người chết sẽ không được siêu

thóat, người sống thỡ sẽ gặp phải nhiều rủi ro.

* Hồi Đăng

Sau nghi lễ Đại tế, lễ hồi đăng cuối cùng để tiễn biệt linh hồn người

chết và cũng là nghi lễ tổng hợp cuối cùng. Theo thầy thỡ đó đến giờ chia ly,

sau bao nhiêu nghi lễ diễn ra vong hồn đó được mở đường dẫn lối về quy tổ.

Giờ đây mặt trời bên âm đó tỏa ỏnh sỏng khắp mọi nơi, mọi phương hướng

đều đó thụng thoỏng đẹp đẽ, vong hóy yờn tõm mà quy tổ, cỏc con chỏu rất

hiếu thảo thắp đèn sáng mở đường cho vong đi.

*Các câu ( Dọn đường cho vong )

Trước khi xuất tang, thầy tào làm thủ tục cần thiết cho cỏc vong hồn,

ma quỷ vỡ trong gia đỡnh cú tang, sự việc ồn ào, do đó vong hồn ma quỷ ở

bốn phương tám hướng tũ mũ tỡm đến. Để cho vong hồn được yên ổn và

vong hồn người mới qua đời khỏi bị bắt nạt thỡ gia đỡnh làm lễ cỳng bao

gồm: một thủ lợn năm chén rượu, năm chén trà, một bát gạo cắm ba nén

hương, một con gà, một con vịt sống nhốt trong lồng, một nong thịt lợn sống,

sau khi làm lễ xong thầy dỏn bùa lên bốn góc nhà để trừ ma quỷ không thể

xâm nhập vào gia đỡnh, đúng giờ đó định mới được khiêng quan tài đi .

*Mưa Phạ ( Đưa hồn về trời )

Trước khi xuất tang thỡ làm nghi lễ này, đây là nghi lễ cuối cùng làm ở

trong nhà do thầy Tào chủ trỡ. Để thực hiện lễ thức này cần phải dỡ mấy viên

29

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

ngói ở mái nhà phía trên cửa ra vào để thông lên trời rồi treo một tấm vải

trắng kéo từ mái nhà xuống đất đến tận đầu quan tài tượng trưng cho chiếc

cầu để linh hồn người chết về trời, nghi lễ được thực hiện trong tiếng nhạc

tang (trốn, thanh la, chiờng, nóo bạt, tự và ốc…) dồn dập. Thầy tào trong lễ

phục đọc bài dẫn hồn nghe rất thống thiết, cảm động. Con cháu và người thân

người quá cố quỳ lại ở hai bên tấm vải hướng ra phía cửa lạy, khóc than. Tấm

vải được thu lại dần theo chiều dài của bài văn cúng thầy tào điều khiển cho

đến khi hết bài dẫn hồn về trời, tấm vải cũng được thu lại hết, khi ấy có nghĩa

là hồn người chết đó đi theo hướng thầy tào chỉ để lên mường trời.

* Oúc phi ( Xuất tang )

Người Tày ở Châu Sơn trước kia thường đưa ma vào ban đêm vài năm

trở lại đây thỡ đưa vào buổi chiều. Thời gian quản quan tài trong nhà và giờ

xuất tang trước kia do thầy tào quyết định căn cứ vào sách tử vi (ngày tháng

năm sinh và ngày giờ mất), do vậy có trường hợp phải để lâu tới năm đến bảy

ngày hoặc lâu hơn nữa. Nay hầu hết đều kết hợp giữa hướng dẫn của chính

quyền và thầy tào xem sách nhưng không quá ba ngày, trường hợp không

được thuận cũng tỡm giải phỏp để khắc phục.

Theo quan niệm của người Tày thỡ những trường hợp sau được coi là

chết xấu chết xấu là những trường hợp chết non, chết tai nạn, chết đuối, sét

đánh, cây đè, thú dữ vồ, chết thai sản…các trường hợp này đồng bào Tày đều

làm ma rất đơn giản, một phần để giảm bớt đau thương, phần khác để người

chết nếu biến thành ma ác cũng ít gây hại cho con người. Do đó, tổ chức và

đến dự đám tang cũng chủ yếu là người già trong họ hàng và bà con thân

thuộc trong bản.

Người Tày tin rằng, người nào chút hơi thở cuối cùng ở bên ngoài nhà

mỡnh (tức chết đường chết chợ) thỡ thõn xỏc rất dễ bị hồn ma của những

người chết không ai thờ cúng đang lang thang kiếm ăn gần đấy thừa cơ nhập

vào để “ăn ké” và do đó có thể làm hại con cháu. Vỡ vậy, nếu chẳng may gặp

hoàn cảnh như vậy, người Tày thường không đưa xác vào nhà mà để ở ngoài

30

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

sân. Với những người chết xấu, gia đỡnh cú người chết phải nhờ thầy cúng

cao tay đến chỗ bị chết gọi hồn, hỏi tên ma đó bắt người chết để có biện pháp

ngăn ngừa không bắt thêm người khác, đồng thời xin phép các thần đất cho

hồn người ở đó thành ma của nhà.

Rườn bao (Giao nhà tang) : Nhà tang do cỏc thành viờn trong làng làm

Người Tày ở xó Chõu Sơn làm nhà tang ba tầng bốn mái, nhà táng như là

thông điệp để báo với mọi người cũn sống và bỏo cỏo với cỏc vị tiờn tổ, thần

linh về vị trớ của người chết ở trong gia đỡnh, ba tầng tượng trưng cho thiên

phủ, địa phủ và âm phủ, bốn mái là thể hiện người quá cố đó trũn bổn phận

của cuộc đời, có gia đỡnh, có con cái, và đó làm trũn đạo hiếu với cha mẹ,

nếu như người quá cố cũn cha mẹ thỡ nhà tỏng phải làm mỏi bằng.

Lễ vật trong lễ bàn giao nhà táng gồm gạo, hương, cơm, canh, trà rượu

Các con mỗi người cầm một nén hương theo sự chỉ dẫn của thầy tào đi vũng

quanh quan tài ba vũng, sau đó tiến đến nơi để nhà táng, thầy tào đọc bài văn

tế có nội dung như sau :

Hỡi cha (mẹ ) ơi !

Vĩnh biệt nhà cửa trần gian về quy tổ

Số mệnh trời đó đinh rồi không ai thoát được

Con chỏu khúc than chẳng cũn nước mắt

Cũng chẳng thể chuộc lại được

Cha (mẹ) đến nơi chín suối để lập nghiệp chốn mới mẻ

Ở đâu cũng phải chiếm một chỗ cho vững chắc

Cỏc con lũng thành sắm cho cha (mẹ) chẳng thiếu thứ gỡ

Nhà hiện nay đang ở chỉ là nhà trọ thôi

Hụm nay về quy tổ chỳng con sắm ngụi nhà

Ba tầng, bốn mái dố, ba mươi sáu cửa mát mẻ chắc chắn

Bóo to giú lớn khụng thể lay nổi

Sấm sét mưa to phải rẽ sang hướng khác

Cỏc con đó đồng lũng nhất tõm

31

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Nhờ thầy pháp sư độ hồn giao ngôi nhà này cho cha (mẹ)

Nhà đó cú văn khế chứng nhận

Họ hàng, nội ngoại, thụng gia

Cựng cỏc con chỏu cũn cho rất nhiều tiền của

Sau khi đọc hết bài văn khế này thầy tào dỏn lờn tầng hai của nhà tỏng

xem như là giấy bàn giao, sau đó con cháu trở vào nhà và đi vũng quanh quan

tài ba vũng, đặt bài vị vào vị trí cũ. Lúc này coi như thủ tục giao nhà táng coi

nhưu kết thúc.

Xuất vong: Người Tày ở xó Chõu Sơn quan niệm về sự chết như là bắt

đầu một thế giới khác. Có nghĩa là ở kiếp trần gian khi được sinh con người ra

gồm có hài nhi và nhau thai, phần nhau thai đó đem chôn xuông đất. Nay tuổi

cao đó đi trọn cuộc đời, đến lúc quy tổ tiên thỡ cũng như là một sự hồi sinh

mới khi đó nơi quản linh cữu sẽ được đem đi chôn. Sau đó là xuất quan, khi

khiêng quan tài ra khỏi cửa thầy làm lễ trấn thạch để trừ ma tà xâm nhập,

cùng lúc đó con cái nhanh chóng lấy vạt áo hứng lấy tất cả những hạt gạo rơi

vói trờn quan tài, miệng núi “ỏp hử khao, dào hử slõu” với ý nghĩa để người

chết được sạch sẽ sau đó tiến hành xuất ram (ram tức là giỏ khiờng quan tài).

Giá khiêng quan tài được làm bằng các cây tre tươi do các thành viên đại diện

cho các gia đỡnh trong thụn đóng góp mỗi thành viên một cây theo quy định

về độ to, dài sao cho vừa đủ số cây và kèm theo một sợi dây rừng để ken buộc

thật chắc chắn. Số ram do các thành viên mà trưởng thôn đó giao việc đóng

góp cũng phải được sử dụng hết việc này thể hiện tính cố kết cộng đồng chặt

chẽ của đồng bào Tày ở xó Chõu Sơn. Gía khiêng quan tài được làm nhiều

tầng và sau khi chôn cất sẽ dựng cỏc cõy ram này dựng khung, làm mái lợp

mộ. Quan tài được đặt lờn giỏ và buộc chằng thật chặt, sau đó đặt nhà táng

lên trên. Các thanh niên khỏe mạnh trong làng đó được cử và phân công sẵn

có nhiệm vụ khiêng linh cữu người chết đến địa điểm chôn cất đó chuẩn bị từ

trước. Cho dù gần hay xa, dù địa hỡnh thuận lợi hay khú khăn cũng phải đảm

bảo an toàn tuyệt đối, dọc đường không kêu ca phàn nàn, đặc biệt là khụng

32

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

được dừng nghỉ hay đặt quan tài giữa đường phải khiêng một mạch đến nơi sẽ

chôn cất. Trước khi linh cữu được khiêng đi các con trong nhà sẽ phải nằm

xuống để khiêng quan tài đi qua trên, con trai nằm dọc con gỏi nằm ngang,

người Tày ở Châu Sơn cho rằng nằm như vậy là để bắc cầu để cha (mẹ) đi

qua và đây cũn thể hiện sự bỏo hiếu của con cỏi đối với cha (mẹ).

Hạ huyệt: Khi đến nơi hạ huyệt, hạ ram, thầy tào yểm huyệt, khi hạ

quan tài, thầy xúc ba xẻng đất đầu tiên, sau đó con cháu người thân họ hàng

bè bạn thả những nắm đất cho người chết. Bộ phận được giao trọng trỏch lấp

tiến hành lấp huyệt, sau đó đốt cây tiền, nhà táng, cây hoa, thạch sơn…tất cả

những gỡ bằng mó dõng cỳng người chết. Sau đó các con cởi bỏ áo tang hơ

qua lửa ba vũng, con cỏi, con dõu trở về nhà, con trai ở lại mộ cựng thầy tiến

hành làm lễ chấn mộ. Lễ vật cú một thủ lợn, một đĩa xôi, hoa quả, bánh kẹo,

bát, rượu…thầy khấn bài trấn mộ sau đó về nhà ăn cơm cùng gia đỡnh.

* Tạ làng:

Tang ma của gia đỡnh được lo chu toàn là do cụng sức, vật chất của

anh em họ hàng, cỏc thành viờn trong làng bản. Họ là những người quản lý

chung mọi mặt và phục dịch từng phần việc cụ thể trong đám. Sau khi đưa

đám về, anh em cùng nhau dọn dẹp lại nhà cửa ngăn nắp, kiểm kê lại tài sản

và những đồ dùng vay mượn. Bộ phận bếp chuẩn bị nấu bữa cơm tạ làng, sau

khi bày biện xong gia chủ õn cần mời anh em ngồỡ vào trong mõm, tự tay rút

rượu mời anh em và bày tỏ lũng cảm ơn sâu sắc anh em đó nhiệt tỡnh giỳp

đỡ, đồng thời ngỏ lời xin lượng thứ nếu có gỡ sơ suất trong lúc tang ma bối

rối.

Trong những ngày tang ma, khỏch khứa, người nhà, các thành viên

được giao trọng trách và thanh niên đều ăn cơm tại nhà tang chủ. Các món ăn

trong những ngày này được chế biến từ lương thực thực phẩm mà anh em

trong làng bản đó đóng góp, bữa ăn không thể thiếu được món thân cây chuối

thỏi nhỏ xào Đây là món ăn truyền thống trong đám tang với ý nghĩa trong gia

đỡnh cú người chết là đau buồn tổn thất, quá trỡnh chăm sóc tận tỡnh chu

33

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

đáo, đến nay kinh tế gia đỡnh cũng co hẹp, chỉ có bát canh rau chuối mời mọi

người cùng ăn để chia sẻ nỗi đau buồn với gia đỡnh. Hơn nữa, đồng bào quan

niệm cây chuối gắn bó với con người từ thuở sơ khai, khi ấy các loài cây cố,

con vật đều nói được tiếng người và các loài vật loài cây đó cú va chạm với

nhau, duy chỉ cú cõy chuối hiền từ hơn cả, do đó cây chuối như là bạn của con

người vậy khi gia đỡnh cú người qua đời thường dùng cây chuối trong một số

công việc như kê quan tài, khúc chuối cắm chân hương, trong bữa cơm có

món thân chuối thái mỏng xào.

2.3. Cỏc lễ cỳng sau mai tỏng

Các lễ cúng sau tang ma được tổ chức với ý nghĩa người chết được mát

mẻ siêu thoát, vượt qua được thập điện diêm vương. Sau ba ngày chôn cất, gia

đỡnh làm lễ khay tu mả (mở cửa mộ) để báo cho sơn thần biết và thu nạp linh

hồn người chết, đồng thời con cháu tu sửa lại mộ phần (làm mái lợp mộ, rào

xung quanh mộ). Lễ này do gia đỡnh tự làm và cú thầy tào đến cúng.

2.3.1. Lễ mở cửa mả (khay tu mả)

Sau khi chôn cất được ba ngày, con cháu mang hai hũn đá dài cắm ở

hai đầu mộ (khi đó chọn được hũn đá và nhặt lên thỡ khụng được phép đổi

hũn đỏ khỏc). Ngoài ra họ cũn phải đặt chén rượu, thắp đèn hương trong suốt

40 ngày không để đèn tắt, vỡ vậy ngày nào con chỏu cũng phải lờn thắp

hương, để mộ mới đỡ khỏi hiu quạnh, người Tày gọi là khay tu mả hay tu lốo,

tức là mở cửa mồ cho linh hồn được đi lại trong thế giới ma.

Lễ vật để mở cửa mồ của đồng bào Tày ở xó Chõu Sơn rất đơn giản chỉ

miếng thịt, nắm xôi nhỏ, rượu, hương vàng…đặt trước mộ. Con cháu thắp

hương mời linh hồn về thụ lễ, sau đó con cháu có thể sửa sang đắp mộ, làm

hàng rào xung quanh để trỏnh trõu bũ khụng dẫm đạp lên mộ phần. Vỡ sau lễ

mở cửa mộ đồng bào không bao giờ đụng chạm gỡ đến mồ mả nữa, nếu có

sụt lún, cũng phải đợi đến thanh minh 3/3 mới được sửa sang.

34

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

2.3.2. Lễ hũi thang (người chết về thăm lại nhà)

Sau khi đưa tang, thầy tào xem sách và báo cho gia đỡnh biết ngày

vong người chết về thăm lại gia đỡnh; thăm chỗ nằm, tỡm những tư trang

chưa mang đi, hay chạm vào người mà hồi cũn sống vong quý mến con chỏu,

hoặc thương ai thỡ chạm vào người đó, cảm giác lúc đó giống như lạnh sống

lưng tức là lúc đó vong chạm đến người mà vong thương. Khi vong vào nhà

thường có tiếng động là cửa hoặc là các đồ vật trong nhà (thường là sau khi

chôn cất 10 đến 18 ngày). Trong lễ hũi thang lễ vật dâng cúng gồm: gà, xôi,

cắt quần áo giấy, đốt hương vàng cho vong hồn người thõn. Trong ngày này,

gia đỡnh khụng mời khỏch khứa, bạn bố, chủ yếu là bỏo cho anh em ruột thịt

và con cái của người quá cố, gọi là đến để trong nhà bớt đi cảm giác vắng vẻ,

sợ hói.

2.3.3. Lễ cỳng 40 ngày, 100 ngày (lễ tốt khốc là thụi khúc)

Lễ cỳng này mang ý nghĩa bớt tang cho những người thuộc diện để

tang ngắn, bớt tội cho linh hồn, vỡ đồng bào cho rằng lúc này người chết đó

được chuyển qua cửa ngục thứ 7 trong thập diện diêm vương. Sau 40 ngày gia

đỡnh làm lễ cỳng linh hồn siờu thoát, lễ này mời thầy mo hoặc then đến cúng,

lễ vật thường có gà, xôi, bánh…Lúc này, linh hồn người chết thường nhập

vào thầy cúng nói với con cháu những điều cần dặn dũ rất cảm động. Trong

thời gian để tang, gia chủ phải cúng cơm hàng ngày theo từng bữa ăn, con cái

phải thường xuyên đeo khăn tang trắng trên đầu, kiêng một số việc như:

Trong ngày tết không đến chơi nhà khác, không cưới xin, làm nhà, không

giao du bản mường không săn bắn, kiêng chuyện phũng the, kiờng làm bỳn ăn

bún, kiêng ăn quả nhón…

Được 100 ngày sau tang chủ lại mời thầy cúng đến làm lễ cúng 100

ngày cho linh hồn người chết và cầu an cho mọi người trong gia đỡnh. Trong

lễ cỳng 100 ngày làm khỏ đơn giản, gia chủ có thể tự cúng hoặc mời thầy tào

đến cỳng Lễ vật cúng là một con gà, đĩa xôi, ít bánh trái, rượu, tiền vàng…

35

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

2.3.4. Lễ Oúc khuốp (Cỳng giỗ đầy năm), Lễ Oúc tang (Lễ món tang- ba

năm)

Đúng một năm sau ngày người thân chết, gia đỡnh mời thầy đến cúng

để cầu mong cho hồn được siêu thoát. Gia đỡnh chuẩn bị lễ vật, gà, xụi, bỏnh,

cơm, rau…để thầy mời vong hồn về với cháu con. Người Tày quan niệm lúc

này người chết đang ở cửa ngục số 9, sắp vượt qua cửa ngục thứ 10 để lên

mường Bân (mường trời) tức là qua thế giới bên kia đoàn tụ với tổ tiên. Sau

khi cúng xong, hạ lễ cả nhà cùng ăn uống, đây cũng là dịp để ôn lại những kỉ

niệm về những ngaỳ cha mẹ cũn sống.

3 năm sau ngày chết người Tày ở Châu Sơn tổ chức lễ giỗ món tang.

Sau lễ giỗ món tang, bỏt hương thờ cha (mẹ) được chuyển lên trên bàn thờ tổ

tiên vỡ người Tày quan niệm khi ấy đó qua thời gian thử thách dưới địa ngục,

luân chuyển qua thập điện diêm vương (7 tuần đâu tiên qua 7 cửa ngục, 100

ngày là cửa ngục thứ 8, óoc khuốp là cửa ngục thứ 9, óoc tang là qua hết cửa

ngục thứ 10) nay đó chớnh thức được đầu thai ở chốn mường Bân gặp tổ tiờn.

Sau món tang, hàng năm cứ đến ngày mất của người thân, con cái tổ chức

cúng giỗ (ông bà, bố mẹ). Dịp này anh em, con cháu, họ hàng, có dịp đoàn tụ

gặp nhau tưởng nhớ người đó khuất, thắt chặt đoàn kết.

Sau khi làm lễ óoctang, hàng năm vào ngày 3 tháng 3 âm lịch các gia

đỡnh tổ chức đi thanh minh tảo mộ. Ngày đi tảo mộ chuẩn bị hai mâm lễ vật

bánh ngải, xôi cẩm, gà, hương đến thắp hương khấn thổ thần, khấn ông bà cha

mẹ.

Sau khi sửa sang mộ phần, thắp hương cúng lễ xong, mỗi ngôi mộ cắm

một cành cây treo giấy bản cắt ziczắc (chia chén) coi như gửi tiền để tổ tiên

tiêu dùng.

2.4. Cỏc hỡnh thức tang ma khỏc của người Tày ở xó Chõu Sơn

Nghi thức tang ma kể trên là nghi thức người Tày ở Châu Sơn dành cho

một đám ma bỡnh thường. Đó là đám tang của người chết già, có gia đỡnh

con cỏi đề huề và đó hoàn thành nghĩa vụ với cha mẹ. Bờn cạnh đó, người

36

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Tày ở đây cũn cú những hỡnh thức tang ma khỏc cho những đối tượng đặc

biệt.

Đám tang của thầy tào

Người Tày ở xó Chõu Sơn quan niệm những người làm thầy Tào là do

họ có hào quang sáng, được Ngọc Hoàng thượng đế ban nhiệm vụ cứu nhân

đội thế, cầu an bỡnh ổn tõm linh cho con người. Do đó khi hết số gió từ cuộc

sống trần gian, đối với những người làm nghề cúng bái đó không phải là sự

tang tóc u mê mà như cuộc tiễn đưa khi đó hoàn thành nhiệm vụ.

Đám tang của thầy Tào ở xó Chõu Sơn, về phía gia đỡnh cũng thực

hiện đầy đủ lễ thức như các trường hợp đám tang bỡnh thường đó nờu trờn

nhưng được làm to hơn, bên cạnh đó cũn cú những nghi lễ đặc biệt. Thầy tào

hành lễ chính trong đám tang này là lục sở (học trũ) của thầy Tào đó qua đời

nhưng là người giỏi nhất (được Thầy dẫn đi điều hành nhiều lễ tang nhất

trong các lục sở).

Tang ma của thầy tào như ngày hội văn hóa tâm linh đặc sắc. Các lục

sở đó được thầy cấp sắc (tào, mo, then) đều mặc áo đỏ, đầu đội mũ theo cấp

bậc hành nghề. Ai cũng sắm đầy đủ lễ vật (ngựa bằng hàng mó), dờ (sơn

dương sẽ đưa linh hồn lên gặp Ngọc Hoàng thượng đế), gà trống (thần kê có

đủ năm đức tính cao quý: văn, vừ, dũng, nhõn, tớn). Khi thầy mới qua đời các

lục sở tập trung về nhà thầy, cùng nhau vẽ trăm loài, vẽ trăm vật trên những

mảnh giấy hỡnh tam giỏc, mỗi bức vẽ một hỡnh con vật khỏc nhau gắn vào

que để cắm từ nhà ra ngoài mộ với ý nghĩa cỏc con vật bảo vệ hai bờn đường

không để xay ra bất kỳ sự nhúng nhiễu nào trên đường đưa linh hồn về bên

kia thế giới. Khi đưa quan tài đi đến đâu thỡ cũng thu dần tranh cỏc con vật

lại, đến mộ cũng là thu lại hết và hóa đi khi đó chụn xong.

Đám tang của người con chết trước bố mẹ

Những người con chết trước bố mẹ bị coi là những người chưa làm trũn

chữ hiếu. Cỏc nghi lễ trong đám tang những người này đều được tiến hành

như bỡnh thường, nhưng trong lễ tế pjầu ngài trước tiên phải có một mâm

37

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

cơm lễ dành cho bố mẹ vẫn cũn sống, sau đó mới đến lượt mâm cơm cúng

cho người chết. Nhà táng dành cho người chết trong trường hợp này chỉ là

mái bằng không được làm bốn mái.

38

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Đám tang người chưa có gia đỡnh

Trẻ em, thiếu niên, thanh niên, người chưa dựng vợ gả chồng, chết vỡ

bất cứ lớ do gỡ cũng tiến hành chụn trong ngày với cỏc thủ tục đơn giản,

không có thầy Tào chủ trỡ nghi lễ vỡ người Tày quan niệm cho rằng đó là ma

chết trẻ chưa có gia đỡnh nờn ở dưới âm phủ chưa có ai quản. Sau khi mất 40

ngày, trong lễ cầu yên cho những ma chết trẻ thỡ những gia đỡnh cú người

chết trẻ sẽ mời thầy then đến làm lễ gọi hồn để cầu yên và tiễn hồn vui chơi

trai gái. Nếu là trẻ con thỡ làm lễ Bjúoc hộo (hoa rụng). Những người này

bỡnh thường không được thờ cúng trong gia đỡnh, chỉ ngày rằm thỏng bảy

hàng năm làm lễ cúng cho các ma chết trẻ (phi pjài).

Đám tang của người chết do tai nạn

Bất kể là người trẻ hay già, đó lập gia đỡnh hay chưa, đó cú con chỏu

đầy đủ nếu bị chết do tai nạn cũng không được đưa vào trong nhà chính làm

đám táng mà phải để ở ngoài sân. Trước khi nhập quan thầy tào phải dùng

phộp thuật tiến hành nghi lễ qua tu lầu ý nghĩa của nghi lễ này là để trừ tai

nạn phải đi qua ba chặng đường, mỗi chặng đường được tượng trưng là ba cây

lau, buộc ngọn lại gốc choói ra như kiềng ba chân, người thân đưa người chết

qua ba lần cửa sau đó mới tiến hành các thủ tục khâm liệm và nhập quan.

Người Tày ở xó Chõu Sơn quan niệm cho dù đó được dỡu qua ba lần cửa

nhưng nếu như thầy tào pháp chưa cao, chưa đủ uy lực để trừ tai nạn thỡ sau

này con chỏu sẽ khụng trỏnh khỏi những rủi ro khỏc tương tự.

39

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

2.5. Sự giống và khác nhau trong tang ma giữa người Tày và người Dao ở

xó Chõu Sơn.

Nội dung Người Tày Người Dao

Sỏch cỳng Chữ Nụm Tày Chữ Nụm Dao

Nội dung sỏch cỳng Theo nội dung Thọ mai

gia lễ của người Kinh. Ảnh hưởng của Đạo giáo Trung hoa.

Văn than

Nhiều giai điệu hơn, có than kể.

Một giai điệu nghe da diết, người nghe có cảm giác tăng thêm nỗi đau buồn.

Trang phục trang phục truyền

Khăn trắng buộc đầu Mặc ỏo trỏi. Mặc thống.

Lấy nước để tắm rửa mặt cho người chết

Người chết được tắm rửa sạch sẽ bằng nước lá chè xanh đun sôi để nguội, hoặc bằng nước lá xoan, lá bồ kêt, hay lỏ chanh.

Con chỏu kiờng thời gian phục hiếu

làm nhà

Mang lễ vật xôi gà, chén đũa, hương vàng để thầy Tào dẫn con trai cả ra suối làm lễ xin thủy thần hà bá lấy nước về đun với lá thơm tắm rửa thanh tịnh cho người chết trước khi nhập quan. Kiêng ăn thịt, đồ tanh xào nấu thức ăn bằng mỡ. Kiờng khụng hỏt hũ. Kiêng không cửa, không cưới hỏi.

Cỳng giỗ

Con gỏi kiờng khụng thờu thựa, may vỏ. Con trai kiờng khụng viết chữ Dao. Vợ chồng kiờng khụng quan hệ. Kiêng không ăn ốc. Cỳng trong cỏc ngày lễ tết,

Hàng năm cúng giỗ vào ngày người thân qua đời Cỳng giỗ trong cỏc ngày lễ tết, ngày rằm

Quan niệm về cỏi chết Về với tổ tiờn Chết là hết

Người Dao thanh phỏn ở xó Chõu Sơn khi chết cởi hết quần áo dán

bằng giấy lửa như kim ngân và sau đó cuốn bằng chiếu cói. Rồi 2 người

khiêng hai đầu người chết ra huyệt, treo trên cây sẵn đợi giờ và ngày tốt. Sau

40

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

đó họ sẽ cho chặt cây để người chết rơi xuống huyệt và họ chôn. Người Dao

cho rằng lúc sinh ra như thế nào thỡ khi chết cũng giống như vậy. Chôn xong

họ mới tiến hành làm ma cho người chết, chứ họ không làm ma chay giống

như người Tày. Nếu như người Dao khiêng người chết bằng 2 người thỡ

người Tày lại cầu kỡ hơn là 8 người khiêng và là một cỗ quan tài chứ không

phải cuốn chiếu đơn giản như vậy.

Người Tày làm ma chay thủ tục đầy đủ, trong họ có người chết cả họ

phải ăn kiêng, không ăn mỡ, chất tanh, cho đến khi đưa ma ra đồng về.

Trong tang ma giữa người Tày và người Dao ở Châu Sơn có sự giống

nhau bởi cùng sinh sống lâu đời trên địa bàn xó nờn cú một số quan niệm và

hoạt động trong tang ma giống nhau được hỡnh thành trong quỏ trỡnh giao

lưu, tiếp biến. Tuy nhiên, nhỡn chung tang ma của hai tộc người này vẫn

mang đậm bản sắc riêng bởi ý thức văn hóa tộc người và sự giao lưu với xó

hội bờn ngoài. Người Tày sống trải dài ven QL4B, nên cơ hội giao lưu và tiếp

thu nhiều nét văn hóa của người Kinh hơn. Cũn người Dao sống ở trong đồi

núi cách trung tâm xó 10km vỡ vậy cơ hội tiếp xúc và giao thoa văn hóa bờn

ngoài ít nên họ giữ được bản sắc văn hóa đậm đặc.

Tiểu kết chương 2

Tang ma là nghi lễ quan trọng trong chu kỳ đời người không chỉ đối

với người Tày ở xó Chõu Sơn mà có hầu hết ở các dân tộc Việt Nam. Nó là

nghi lễ kết thúc cuộc sống một con người ở thế giới bờn này và mở ra cuộc

sống mới cho người chết ở thế giới bên kia. Hơn nữa đám tang không chỉ

mang những yếu tố tôn giáo tín ngưỡng mà điều nổi bật vẫn là quan niệm về

đạo hiếu, việc đền công báo đức vẫn là điểm chủ yếu xuyên suốt từ đầu đến

cuối của một đám tang.

Bên cạnh đó, tang ma của người Tày cũn thể hiện tớnh cố kết, tương

trợ cộng đồng qua vai trũ của cỏc thành viờn trong thụn. Khụng những thế,

trong hệ thống nghi lễ tang ma đó nó cũn bao hàm những giỏ trị văn hóa

truyền thống tộc người, là những ứng xử của con người với tự nhiên, con

người với con người và con người với thế giới tâm linh. Chính điều đó đó một

phần làm nờn bản sắc văn hóa của người Tày ở nơi đây.

41

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Chương 3

GIÁ TRỊ VĂN HÓA VÀ MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI ĐƯỢC BIỂU HIỆN

TRONG TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ CHÂU SƠN

3.1. Những giá trị văn hóa

3.1.1. Gía trị đạo đức nhân văn

Là hỡnh thỏi ý thức xó hội, đạo đức tập hợp những quan niệm và qui

ước về cách sống của một xó hội, một tầng lớp trong xó hội ứng xử của con

người với con người và con người với cộng đồng, được điều tiết bởi ý thức tự

giỏc cỏ nhõn và dư luận xó hội.

Các quan niệm và chuẩn mực về đạo đức có thể được điều chỉnh qua

từng giai đoạn cũng như bối cảnh lịch sử. Những chuẩn mực đạo đức xó hội

cú ý nghĩa đặc biệt quan trọng và được thực thi trong phạm vi rộng, từ gia

đỡnh đến cộng đồng và xó hội, từ việc ứng xử với tổ tiờn ụng bà, cha mẹ, con

chỏu trong gia đỡnh cho đến cỏc thành viờn trong xó hội; thái độ ứng xử của

con người với nghề nghiệp…Trong khuôn khổ đề tài, khúa luận trỡnh bày về

đạo đức của con cỏi, cháu, chắt và những người xung quanh đối với ông bà,

cha mẹ, người thân khi qua đời thông qua phong tục tập quán trong tang ma

của người Tày ở xó Chõu Sơn.

Việc báo hiếu cha mẹ là đức, là ân, là đạo, là nghĩa. Như nhiều dân tộc

ở Việt Nam, người Tày đề cao chữ hiếu. khi cha mẹ bắt đầu tắt thở thỡ con

chỏu cú mặt đông đủ để tỏ lũng biết ơn thương tiếc đối với cha mẹ. Cụ thể

người Tày ở Châu Sơn thể hiện chữ hiếu trong đám tang qua các hành động

sau: việc để tang tùy vào từng gia đỡnh để tang trong thời gian ngắn hay dài,

xưa kia người tày ở châu sơn để tang 1 đến 3 năm tuy nhiên trong mấy năm

về đầy thỡ việc để tang rút ngắn hơn có thể 1 hoặc vài tháng tùy thuộc vào

mỗi gia đỡnh cú con cỏi dựng vợ gả chồng, làm nhà… việc kiờng ăn khi cha

hoặc mẹ mất thỡ con chỏu và cả họ phải ăn kiêng, kiêng ăn mỡ lợn, kiêng

không ăn đồ tanh không làm nhà cưới hỏi…mặc kín đáo, ít tham gia hội hè tụ

tập. Chính những hành động thành tâm của con cháu như vậy để ông bà cha

42

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

mẹ về đến miền cực lạc. Việc quan niệm con chết trước cha mẹ là bất hiếu bởi

vỡ chưa trả ơn công nuôi dưỡng sinh thành việc cúng cơm đơn giản và chỉ có

anh em họ hàng, cúng lễ vật ít lễ vật hơn: vải áo, cây tiền, sau khi chôn người

chết xong gia đỡnh đốt ngân xuyến, quần áo cắt bằng giấy, và các vật dụng

cần thiết trong cuộc sống hàng ngày… cho người chết mang sang bên kia làm

lộ phí cũng như tạo lập cuộc sống mới.

Công cha nặng tựa núi non, ơn mẹ như nước trong nguồn. Hiếu với tổ

tiên ông bà cha mẹ, đó là tiêu chí đạo đức đầu tiên của đạo làm người, tội lớn

nhất của đạo làm con, làm cháu là bất hiếu với ông bà, cha mẹ. Người có

hiếu phải là người biết thương yêu, kính trọng ông bà, cha mẹ qua đời. Trong

tang ma của người Tày ở xó Chõu Sơn có nhiều chi tiết, việc làm thể hiện đạo

hiếu theo quan niệm của dân tộc. Ngay từ khi trong nhà có người già yếu, ốm

đau con cháu đó cú ý thức chuẩn bị chu đáo, ngoài việc động viên tinh thần,

chăm sóc thuốc thang, ăn uống hàng ngày. Con cháu không đi đâu xa nếu

thực sự bắt buộc, đặc biệt là người con trưởng để luôn túc trực, báo hiếu cha

mẹ những giây phút cuối cùng. Không được nhỡn mặt cha mẹ lần cuối là một

tội bất hiếu rất lớn của người Tày nơi đây.

3.1.2. Gía trị văn hóa tộc người

Mỗi dân tộc đều có hệ thống phong tục tập quán đến chu kỳ vũng đời

trong đó tang ma là một sự kiện lớn của đời người. Sống trong môi trường gia

đỡnh, cộng đồng, dũng họ, làng bản, mỗi người đều nên xác định cho mỡnh

một suy nghĩ và hành động như thế nào cho đúng, phù hợp với đạo lý và

truyền thống dõn tộc. Từ đó hỡnh thành nên giá trị văn hóa - đó là nếp sống,

là cách ứng xử, là đức tin, kho tàng tri thức bản địa, văn học nghệ thuật…

Những việc làm của thầy Tào, các lễ cúng từ lúc khâm liệm cho đến khi

hạ huyệt (khoảng mười mấy nghi lễ) đó chứa đựng sâu sắc yếu tố tín ngưỡng

-tâm linh của người Tày. Đó là quan niệm của họ về thế giới ba tầng và quan

niệm vạn vật hữu linh, về sự tồn tại của cuộc sống sau cái chết. Các hoạt động

nghi lễ của thầy tào đó gúp phần sinh động hóa, hiện thực hóa các quan niệm

43

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

nói trên, do vậy có thể nói rằng văn hóa tín ngưỡng là nơi lưu giữ hồn con

người giữa người cũn sống với người đó chết trong mối quõn hệ õn tỡnh, hiếu

nghĩa rất sõu nặng và thiờng liờng.

Sau 3 năm con người lên mường bân trong quan niệm truyền thống của

người Tày mang ý nghĩa rằng khi ấy đó qua thời gian thử thỏch và được chính

thức đầu thai được gặp tổ tiên.

Những yếu tố văn hóa chỉ có ở người Tày ở Châu Sơn: không giống

như người Tày ở các huyện hoặc xó khỏc thuộc tỉnh Lạng Sơn người Tày ở

Châu Sơn không có hội hiếu và hàng phe. Tuy vậy khi trong thôn có người

chết thỡ mỗi gia đỡnh đều chung tay góp sức cụ thể như: góp mỗi người một

chảy gạo, và củi…mỗi gia đỡnh đều có 1 người đến giúp tang chủ.

Giá trị văn hóa tộc người bao gồm cả các yếu tố văn hóa truyền thống

và hiện đại. Văn hóa truyền thống tộc người như một dũng chảy bắt nguồn từ

quỏ khứ đổ về hiện tại và tiếp tục hướng về tương lai. Các yếu tố văn hóa

truyền thống luôn có sự mài dũa để thích nghi, trong quá trỡnh đó thu nạp

thêm các giá trị đương đại để tiếp tục hỡnh thành cỏc giỏ trị mới. Dũng chảy

văn hóa truyền thống chữa đựng các phong tục tập quán, các triết lý sinh tồn,

là nơi lưu giữ hồn dân tộc, nơi xây dựng mối quan hệ tỡnh nghĩa sõu nặng

giữa con người với con người, giữa người sống với người chết. Từ những sinh

hoạt nghi lễ đó nảy sinh cỏc giỏ trị văn hóa như : Văn học- nghệ thuật (âm

nhạc, hội họa, các loại hỡnh diễn xướng), như đó núi, đối với người Tày,

lượn, sli, then, quan làng, đồng dao hát ru…nhiều như sao trên trời, ý tứ nhiều

hơn nước chảy, đó là những lời từ giú mà vọng ra thành tiếng, vọng vào nỳi,

dội vào lũng người mọi buồn vui sướng khổ ở chốn cừi người. Khi hội nhập

vào tín ngưỡng thỡ cỏc giỏ trị ấy không chỉ đơn thuần là nghệ thuật mà trở

thành các nghi lễ trang trọng thiêng liêng.

Nhạc trong tang ma của người Tày ở xó Chõu Sơn là những âm thanh

của trống thanh la, tiếng gừ của chiờng trống, chũm chọe với tiết tấu lỳc thanh

lỳc chậm, ngoài ra cũn cú cỏch diễn xướng văn cúng, văn tế bổng của người

44

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Tày vốn có âm điệu luyến láy rất tỡnh cảm, do đó tiếng khóc trong tâm trạng

buồn thương nhất là đặt trong không gian đêm khuya nghe càng lâm li thống

thiết, tiết tấu da diết buồn thương đó gợi nhớ về những kỉ niệm khi cha mẹ

cũn sống. Dưới sự điều hành của thầy tào, nghi lễ trong tang ma là các màn

trỡnh diễn sân khấu tâm linh về cuộc tiễn đưa linh hồn người chết về trời, như

các lễ hương đăng, lễ xuất tang…gây xúc động lũng người.

Đóng góp về nghệ thuật tạo hỡnh phải kể đến nghệ thuật cắt giấy, nhiều

họa tiết với hỡnh ảnh ước lệ trở thành biểu tượng phản ánh trỡnh độ tư duy,

thẩm mỹ và tâm hồn của người Tày ở miền núi. Đám tang của người Tày

trong truyền thống không có vũng hoa như của người Kinh, thay vào đó là

các mô típ hoa văn thực vật (biểu tượng các loài hoa ) và hoa văn động vật nó

biểu tượng cho rừng núi cây cỏ cây hoa lá động vật thân quen là nguồn thức

ăn chính trước kia của người Tày. Trong đám tang không thể thiếu nhà táng,

nhà táng được trang trí công phu với nhiều hỡnh ảnh, cõy cỏ, hoa lỏ, chim

muụng…khung nhà tỏng làm bằng những vật liệu đơn giản như tre nứa, mô

phỏng nhà sàn truyền thống dân tộc, trang trí bằng giấy màu, xanh, đỏ, tím,

vàng với những họa tiết, hỡnh ảnh được cách điệu hóa với màu sắc hài hũa,

tươi sáng. Có thể nói một trong những giá trị mỹ thuật của tang ma của người

Tày ở xó Châu Sơn đó là đó gúp phần lưu giữ được nét đặc sắc trong nghệ

thuật cắt giấy và trang trí.

Tang ma cũng thể hiện quan niệm về phong thủy người Tày ở xó Chõu

Sơn. Họ cho rằng việc chọn đất, cho phần mộ là quan trọng, đặc biệt là vị trí

của hướng mộ sẽ ảnh hưởng đến gia tộc, cộng đồng. Đất chôn phải ở chỗ cao

rỏo thoáng, khô đất chặt, không xốp không trũng, không bị gió thốc nước xối,

có thể dựa chắc chắn vào phía sau nhưng tránh ngọn núi đâm thẳng phía sau,

dũng suối đâm thẳng về phía trước, hướng nhỡn xa thoáng đóng.

3.1.3. Gớa trị xó hội

Một trong những ý nghĩa quan trọng trong tang ma của người Tày ở xó

Chõu Sơn là có tác dụng ổn định tinh thần và tâm lý cho người sống, được thể

45

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

hiện qua những việc làm rất ti mỉ thận trọng theo phong tục tập quán. Tập

quán là những thói quen được hỡnh thành trong cuộc sống xó hội của cá nhân,

gia đỡnh và cộng đồng. Phong tục là những tập quán được hỡnh thành bền

vững được nâng lên thành quy luật, được chắt lọc đúc kết từ cuộc sống.

Phong tục tập quán tạo ra sự thống nhất trong một cộng đồng, là trung gian

hũa giải, là cỏn cõn cụng lý trong quan hệ xó hội truyền thống, là cơ sở cho

việc giáo dục và rèn luyện con người. Đó cũn là quỏ trỡnh xó hội húa, làm

thỏa món đời sống tâm linh, cân bằng trạng thái tâm lý, là sự vun đắp nghĩa

tỡnh giữa con người với nhau, giữa con người với quê hương, dân tộc.

Tang ma làm cho người sống, người chết phải chia lỡa cỏch biệt, rất

đau xót về mặt tỡnh cảm nhưng mặt tâm lý người sống đỡ băn khoăn áy náy

vỡ đó lo liệu được vẹn toàn cuộc sống cho người chết ở thế giới bên kia. Một

mặt nào đó nó an ủi và tạo niềm tin người sống về cái chết chưa phải là hết

mà là để tiếp tục một cuộc sống tốt đẹp khác ở xứ sở tổ tiên, do đó nó làm cho

những người thân có phần dịu bớt đau thương. Mặt khác họ tin rằng nếu

không lo được tang ma vẹn toàn thỡ linh hồn của người chết không bằng

lũng, sẽ làm hại đến con cháu. Do đó các nghi lễ của thầy tào với những thủ

tục tỉ mỉ, cẩn trọng đó giỳp họ giải quyết về mặt tõm lý và yờn lũng hơn về sự

ra đi của người chết. Đây cũng là lý do giải thớch vỡ sao qua bao thăng trầm

của cuộc sống mà tang ma của người Tày vẫn được duy trỡ bài bản, thầy tào

vẫn cú vị trớ quan trọng trong việc duy trỡ và định hướng đời sống tâm linh

của họ. Có thể nói những việc làm đó phù hợp với đạo đức cũng như quan

niệm tín ngưỡng của người Tày.

Như vậy, việc tổ chức tang ma theo phong tục truyền thống của người

Tày cũng chứa đựng nhiều giá trị nhân văn. Qua các hoạt động liên quan đến

tang ma đó thể hiện nột đẹp tỡnh người qua mối quan hệ ứng xử giữa anh em,

họ hàng, xóm làng và thôn bản thêm gần gũi, cảm thông qua việc mọi người

trong cộng đồng cựng chung tay giỳp sức cho gia chủ. Có thể thấy tang ma

của người Tày ở Châu Sơn tựa như chất keo gắn kết mối đoàn kết làng bản,

46

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

góp phần ổn định tâm lí cộng đồng, tâm lí xó hội. Qua tang ma người Tày có

thể tỡm hiểu thờm về lịch sử, nguồn gốc bản sắc tộc người và sự giao thoa

văn hóa giữa các tộc người trong vùng.

3.2. Các quan hệ xó hội

3.2.1. Quan hệ, ứng xử giữa người sống và người chết

Trước hết cần đề cập đến các giá trị nhân văn thuộc về đạo đức, lối

sống đó được đề cao và lưu giữ thông qua các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng

của người Tày. Trong đó truyền thống kính già yêu trẻ có thể coi là một nét

đẹp trong phong tục tập quán của người Tày đó được thể hiện khá sâu sắc qua

các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng. Các nghi lễ như lễ giải hạn, lễ làm then,

chúc thọ cho người già,…đó thể hiện mối quan hệ gắn kết trong gia đỡnh, thể

hiện sự quan tõm sõu sắc của con chỏu đối với ụng bà cha mẹ khi họ cũn

sống “kớnh già, già để tuổi cho”. Đây là dịp con cháu xum vầy tỏ lũng hiếu

thảo cựng phối hợp với cỏc thầy cúng cầu phúc, cầu thọ cho người già, qua đó

người già được động viên khích lệ mà tăng cường sinh lực, tiếp tục vui sống

và là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho con chỏu trong nhà.

Khi ông bà cha mẹ qua đời thỡ việc tổ chức tang ma là dịp con chỏu tỏ

chữ hiếu và cũng là một cỏch để trả ơn dưỡng dục của ông bà cha mẹ. Chữ

hiếu này trước tiên thể hiện trong phạm vi gia đỡnh bằng trỏch nhiệm và từng

hành vi ứng xử để lo ma chay cho cha mẹ được chu đáo. Người sống người

chết dù phải chia lỡa cỏch biệt, rất đau xót về mặt tỡnh cảm nhưng mặt tâm lý

người sống đỡ băn khoăn áy náy vỡ đó lo liệu được vẹn toàn cuộc sống cho

người chết ở thế giới bên kia.

Tang ma thường được con chỏu tổ chức linh đỡnh với đầy đủ nghi lễ

nhằm mục đích báo hiếu và đưa linh hồn người chết về bên kia thế giới một

cách vẹn toàn. Họ chu toàn hậu sự, chuẩn bị đầy đủ vật dụng, mồ yên mả đẹp

cho người chết để người chết qua thế giới bên kia ko thiếu thốn thứ gỡ. Họ

thực hiện cỏc nghi lễ bảo vệ hồn người mới chết không bị ma quỷ lang thang,

độc ác xâm hại để an toàn đi đến xứ tổ tiên bằng sự bảo vệ của các âm binh

47

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

mà thầy Tào điều khiển. Đó là việc cuối cùng mà con cháu có thể làm để đền

ơn sự sinh thành dưỡng dục của cha mẹ.

Hơn nữa, việc chu toàn tang ma cho cha mẹ, người thân cũng chính là

một cách tự bảo vệ, giúp họ yên tâm hơn về mặt tinh thần. Họ tin rằng nếu

không làm tang ma cho người thân chu đáo thỡ hồn ma sẽ nổi giận và làm hại

cuộc sống của những người thân trong gia đỡnh. Do vậy, họ luụn cố gắng làm

tang ma đầy đủ theo nghi thức truyền thống để người thân mất đi có thể yên

lũng ra đi và vui sống bên thế giới tổ tiên. Đồng thời, việc chu toàn trong đám

tang của người thân cũng giúp những người sống cảm thấy yờn lũng vui sống

vỡ đó trả được ân nghĩa, đó lo được những thứ tốt nhất cho cha mẹ, người

thân của mỡnh và cũng được họ hàng, cộng đồng ca ngợi và tôn trọng.

3.2.2. Quan hệ ứng xử giữa người sống và người sống

Tang ma là việc hệ trọng trong đời người, của một gia đỡnh, của một

dũng họ và của một cộng đồng dân cư, vỡ vậy việc tổ chức tang ma chu đáo

có rất nhiều ý nghĩa. Tổ chức tang ma như thế nào cho vẹn toàn để người chết

được ngậm cười nơi chín suối; người sống được yên lũng; anh em họ tộc đoàn

kết cộng đồng bao bọc, cảm thông, giúp đỡ; chính quyền, đoàn thể ủng hộ,

quan tâm; luật pháp nhà nước được thực thi; lệ làng được tôn trọng; văn hóa

truyền thống của dân tộc được bảo tồn; bản sắc dân tộc được giữ gỡn, phỏt

huy…Đó là trách nhiệm của con cháu, của họ tộc, của cộng đồng thôn xóm,

của cơ quan chính quyền, đoàn thể địa phương.

Trong cộng đồng người Tày sự đoàn kết tương trợ được đề cao. Nhân

dịp tổ chức các sinh hoạt nghi lễ gia đỡnh, người Tày thường mời anh em họ

hàng đến tham dự. Đặc biết nếu gia đỡnh cú tang ma hoặc lễ đầy tháng hay

làm then …thỡ đây sẽ là dịp họ hàng con cháu tụ họp đông đủ để chung vui,

chia buồn với gia đỡnh đồng thời cũng gúp phần vào việc thực hành nghi lễ

và giúp đỡ gia chủ những công việc của nhà.

Tang ma cũng thể hiện tỡnh cảm giữa giữa con chỏu, anh em trong nhà,

họ hàng gần xa, tỡnh làng nghĩa xúm thờm bền chặt và càng được trân trọng.

48

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Khi một gia đỡnh trong thụn bản bỏo có người thân mới mất, thỡ anh em họ

hàng hàng xóm láng giềng liền gác lại việc nhà đến tang chủ hỏi thăm, chia

buồn động viên và giúp gia chủ những công việc cần phải làm trong nhà mà

không cần phải để gia chủ nhờ vả. Mỗi gia đỡnh cử 1 đến 2 người sang giúp

đỡ các công việc để tang chủ có thể hoàn tất tang ma cho chu toàn.

Người Tày xưa nay vẫn cú cõu: khụng ai sống mói một mỡnh trờn thế

gian này. Vỡ vậy, để giúp gia chủ hoàn thành một đám tang đúng nghi lễ và

vượt qua được những khó khăn khi người thân mất, cũng là cách làm cho

tỡnh làng xúm thờm gắn kết. Chớnh vỡ vậy mà người Tày ở Châu Sơn đó

khụng cần phải cú hội phe, hay hội hiếu gỡ nhưng dưới sự quản lý chỉ đạo của

Trưởng thôn, Bí thư thôn các thành viên trong thôn hết lũng giỳp đỡ và hoàn

thành tốt công việc được giao trong cụng việc tang lễ, chụn cất. Việc tang ma

không chỉ của gia đỡnh gia chủ mà cũn là cụng việc của cả thụn cưu mang

giúp đỡ lẫn nhau khi lâm nạn góp gạo, góp tiền, góp công sức, góp củi…Đây

là tổ chức vững chắc chăm lo chu toàn mọi hoạt động diễn ra trong suốt quá

trỡnh tang ma.

Trên thực tế, mỗi đám ma, người trong cộng đồng cũng chỉ hiện diện

trong ngày đầu tiên và cỏc ngày diễn ra tang ma. Mọi cụng việc lớn nhỏ đều

do trưởng thôn định đoạt, phân công, cắt cử, cỏc thành viờn trong thụn thực

hiện nhiệm vụ của từng công việc mà trưởng thôn giao cho, cắt cử có đội nấu

ăn, đội tiếp khách, và cả nhóm người đào huyệt… để giúp tang chủ. Họ làm

việc nhiệt tỡnh, nghiờm tỳc, khụng nề hà. Bởi họ quan niệm làm những việc

ấy chớnh là cụng việc của mỡnh, để khi chẳng may gia đỡnh mỡnh cú việc

cũng sẽ nhận được sự giúp đỡ chu đáo từ những người hàng xóm, họ hàng.

Vỡ vậy, tỡnh nghĩa và cú trỏch nhiệm trong tang ma của cỏc thành viờn trong

thụn là sự hiện diện của sức mạnh tính cố kết cộng đồng làng bản của người

Tày.

Không chỉ góp công mà người Tày ở Châu Sơn có thể giúp tang chủ

bằng cách góp của. Họ có thể cho người nhà có tang đến lấy tro bếp để lót áo

49

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

qua, cho mượn đồ dùng như (gỗ, ván, tre…), cho chịu đồ tế lễ như lợn, gà,

gạo,...mà không ngần ngại quan tâm rằng họ có khả năng thanh toán được hay

không và vào lúc nào? Họ chỉ nghĩ đơn giản việc mỡnh làm là việc thiện, làm

phỳc, nờn khụng bao giờ bắt chẹt, làm khú những người lâm nạn. Bởi làm

như thế không có đạo đức, là làm điều ác, trái với luân thường, ăn ở bạc, dư

luận xó hội sẽ chờ bai.

Ngoài ý nghĩa tõm linh tang ma của người Tày ở Châu Sơn cũn bao

hàm những ý nghĩa sõu sắc về mặt văn hóa, nó thể hiện sự tinh tế ứng xử của

con người với con người trong xó hội. Cú thể núi, thụng qua những hoạt động

đó đó gúp phần củng cố, nhắc nhở ý thức đoàn kết gắn bó giữa các thành viên

trong gia đỡnh, trong dũng họ và trong thụn bản. Đó chính là tính nhân văn

của cộng đồng được biểu hiện trong tang ma của người Tày ở Châu Sơn.

3.2.3. Quan hệ giữa con người với thế giới tâm linh (Các thần, các ma…)

Con người với thế giới tâm linh là thế giới ở đằng sau cái chết, thế giới của

các linh hồn, thế giới của các thần linh và ma quỷ. Thế giới tâm linh của

người Tày là thế giới đa thần, qua đó phản ánh sự giao lưu hội nhập giữa yếu

tố tôn giáo tín ngưỡng bản địa với các tôn giáo, tín ngưỡng du nhập, đặc

biệt là Tam giáo. Tôn thờ các vị thần linh, các ma nên người Tày thường cúng

bái vào các dịp lễ tết.

Theo quan niệm của người Tày ở xó Chõu Sơn, việc thực hiện lễ trấn

cho hồn người chết rất quan trọng. Sau khi người chết qua đời, bất cứ gia

đỡnh nào cũng làm lễ trấn. Họ cho rằng, lễ cúng này sẽ giúp xua đuổi tất cả tà

ma những hồn ma xa lạ, đồng thời lọc và bảo vệ lấy hồn vía người thân để

giúp các thành viên trong gia đỡnh trỏnh được sự quấy nhiễu của ma quỷ, yên

ổn làm ăn, sinh sống. Bên cạnh đó, việc này cũng làm cho hồn người chết

được an toàn, thanh thản đi đến thế giới bên kia mà không sợ các hồn ma xa

lạ nhúng nhiễu, bắt nạt hay làm hại.

Sau khi lễ giỗ món tang (cỳng giỗ ba năm) bát hương thờ cha (mẹ)

được chuyển lên trên bàn thờ tổ tiên. Người Tày quan niệm khi ấy hồn người

50

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

chết đó qua thời gian thử thỏch dưới địa ngục, luân chuyển qua thập điện

diêm vương (7 tuần đầu tiên qua 7 cửa ngục, 100 ngày là cửa ngục thứ 8, óoc

khuốp là cửa ngục thứ 9, óoc tang là cửa ngục thứ 10), nay đó chớnh thức

được đầu thai ở chốn Mường Bân ( mường trời) gặp tổ tiên và bước đầu một

cuộc sống mới. Cũng từ đây, con cái ở trần gian cũng hết thời gian để tang và

trở lại hoạt động đời thường.

3.3. Một số biến đổi trong tang ma của người Tày ở Châu Sơn hiện nay

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà Nước về đời sống văn hóa

trong đó có việc cưới, việc tang, hiện nay tang ma của người Tày ở xó Chõu

Sơn, huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn cũng có sự biến đổi. Sự biến đổi đó

cũng bao hàm hai mặt : tích cực, tiêu cực.

Nhỡn qua lăng kính tớch cực thỡ biến đổi là chủ yếu để phù hợp với

cuộc sống hiện đại. Xưa kia khi trong nhà có người già qua đời có gia đỡnh để

đến 10-15 ngày hoặc lâu hơn thế rất ảnh hưởng đến môi trường sống và gây

nên sự mệt mỏi cho người thân và những người hàng xóm đến giúp (họ phải

bố trí thời gian dài để luôn có mặt giúp tang chủ). Cũn đối với những gia

đỡnh nghốo thỡ để thực hiện một đám tang theo đúng tục lệ sẽ để lại nợ nần

chồng chất cho gia đỡnh nhưng nếu không lo chu toàn lại sợ thiên hạ chê

cười. Do vậy dù khó khăn bao nhiêu cũng cố gắng để tận hiếu với cha mẹ.

Những năm gần đây việc tổ chức tang ma dưới sự hướng dẫn của chính

quyền kết hợp hài hũa với phong tục truyền thống đó khơi dậy những nét đẹp

truyền thống trong tang ma của đồng bào, cụ thể chỉ để người chết trong nhà

không quá ba ngày. Trước kia người Tày ở xó Chõu Sơn thời gian để tang là

3 năm, nhưng hiện nay nhiều gia đỡnh rỳt xuống cũn một thỏng hoặc vài

thỏng để tang cho con cái bớt đi những ràng buộc. Ở một khía cạnh khác, biến

đổi là một trong những sự cố kết văn hóa giữa các tộc người với nhau mang

tính tích cực.

51

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Trước kia quan tài được chuẩn bị khi người mất vẫn cũn sống thỡ ngày

nay đó mất đi sự chuẩn bị đó. Thay vào đó thỡ giờ trong nhà cú người mất chỉ

cần bỏ tiền ra mua cỗ quan tài.

Một trong những biến đổi đáng lo ngại là xu hướng thờ ơ với những

phong tục tập quán truyền thống. Hiện nay nhiều người không hiểu được nghi

lễ của tang ma, nhất là lớp trẻ, điều này đồng nghĩa với việc các kiến thức về

thôn bản về gia tộc, về cỏc nghi lễ truyền thống trong vũng đời người sẽ ngày

càng bị mai một và biến đổi.

Thầy Tào là người có vai trũ vụ cựng quan trọng trong tang ma của

người Tày ở Châu Sơn bởi họ là người hiểu và gỡn giữ những phong tục

truyền thống trong tang ma. Tuy nhiờn, lớp thầy tào cao tuổi người Tày đó đi

sang thế giới bên kia gần hết. Lớp trẻ hầu như không có người học và biết đọc

chữ Hán, chữ Nôm Tày cũng như nghề cúng bái. Hơn nữa nguồn sách cúng

của thầy tào đa số đó bị thất tỏn hoặc bị hỏng, trong khi chớnh cỏc thầy tào,

mo, then, pụt là những kho tư liệu sống vô cùng quý giỏ nhưng đang ít dần và

già hóa. Do vậy, việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà Nước về bảo

tồn, phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc Tày đang gặp những khó

khăn.

Về thời gian tổ chức của một lễ tang truyền thống của người Tày qua

nhiều thủ tục nghi lễ, nếu làm đầy đủ thỡ mất khỏ nhiều thời gian. Một số nơi

xử lý giữa việc thầy tào xem ngày, giờ xuất tang với việc thực hiện quy ước

nếp sống chưa hài hũa, cú trường hợp do thầy tào chưa xem được ngày nên

phải kéo dài thời gian nhiều ngày, quá phụ thuộc vào quyết định của thầy tào.

Khi nhập quan và khi xuất tang, tại một số nghi lễ thầy tào làm những

động tác kết hợp lời nói khá mạnh mẽ, dứt khoát như dọa dẫm, quát tháo, xua

đuổi khiến con cháu không khỏi chạnh lũng. Đây là một điểm khác giữa thầy

tào Tày và thầy tào Nùng trong cách ứng xử với vong hồn người chết. Thầy

tào Nùng dùng phương pháp nhẹ nhàng hơn, dỗ dành an ủi linh hồn…về mặt

tỡnh cảm, tõm lý của người sống (con cái) cảm thấy dễ chịu hơn.

52

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Do quá đề cao chữ hiếu trong đám tang, quan niệm tang ma là phong tục

truyền thống nên gia đỡnh nào cũng cố gắng thực hiện đầy đủ. Hoàn cảnh

kinh tế của nhiều gia đỡnh cũn khú khăn nhưng vẫn cố gắng tổ chức tang ma

linh đỡnh dài ngày…Bờn cạnh việc tốn kộm cú nhiều khi gõy lóng phớ, cũn

là việc con chỏu phải chầu trực, thức đêm hôm sinh mệt mỏi ốm đau, bà con

hàng xóm cũng phải mất nhiều thời gian vào việc đó làm ảnh hưởng đến sức

khỏe và lao động sản xuất. Sự sống là quý giỏ thiờng liờng, con cái nên chăm

sóc phụng dưỡng kớnh trọng cha mẹ khi cũn sống. Người có hiếu là người

không làm cho cha mẹ đau buồn tủi hồ về mỡnh. Đối với cha mẹ, nuụi dạy

con chỏu nên người là cách lo cho cái chết bản thõn món nguyện nhất. Cách

ứng xử đẹp nhất trong mối quan hệ sống - chết đó là lo cho cỏi chết từ khi cũn

sống sao cho tốt đẹp, hợp đạo lý.

Nội dung các bài văn than có nhiều câu than thở cho rằng cái chết của

con người là do Nam Tào Bắc Đẩu hạn định, khi ốm đau hay tin vào sự cúng

bái bùa chú cỏc phộp phự thủy của thầy tào. Nhiều cõu văn than thở buồn

thương tâm lí thống thiết nên không khí tang tóc, đau buồn mất mát trong gia

đỡnh tăng lên. Với quan niệm chết là do số phận nên con người ta không thể

tự do định đoạt số phận của mỡnh “ Kộ ún nỏ nầu shổng đảy mại, số thuổn

lèo lèo mừa đuổi tổ tiờn ”(già hay trẻ cũng không ai sống được mói, hết số

phận về với tổ tiên). Điều này có lẽ là một cách để an ủi người chết cũng như

làm yên lũng người sống nhưng ít nhiều cũng gây tâm lý bi quan, cam chịu

“thâng ăn vận hạn nà năng đảy, đơn tiên thuốc mạnh cũng nàn gia ’’ (vận hạn

đến, thuốc tiên cũng không cứu được).

Tóm lại tục lệ ma chay đó ăn sâu vào tỡnh cảm và tõm thức của đồng

bào. Sở dĩ có sự ăn sâu bám chắc như vậy một mặt xuất phát từ quan niệm về

thế giới quan và nhân sinh quan cho rằng vạn vật hữu linh. Mặt khác cũng bị

chi phối bởi tư tưởng đạo đức phong kiến đề cao chế độ gia trưởng phụ

quyền. Trong lễ tang có một vài nghi lễ quá dài và phức tạp nhưng đồng bào

vẫn tôn trọng thực hiện nghiêm túc vỡ đó là tập quán, nếu làm sai hoặc thiếu

53

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

sót con cháu cảm thấy áy náy không yên tâm và có khi tự cho rằng chưa trũn

đạo làm con.

Vai trũ của cơ quan chính quyền, đoàn thể trong tổ chức tang ma ở Châu

Sơn chưa rừ, chưa chủ động, mới làm được việc mang tính hành chính như

cấp giấy khai tử, đến viếng.

3.4. Nguyên nhân biến đổi

3.4.1. Tác động từ các chính sách phát triển kinh tế

Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) là Đại hội mở đầu cho công cuộc

hoạch định đường lối đổi mới toàn diện của đất nước, mở ra một thời kỳ phát

triển mới mang lại những thay đổi to lớn, nhanh chúng về kinh tế- chớnh trị -

xó hội của đất nước. Đại hội cũng đưa ra hệ thống các giải pháp cơ bản về đổi

mới cơ cấu kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang phát triển nền kinh tế thị

trường định hướng xó hội chủ nghĩa đó làm cho nền kinh tế của nước ta từng

bước ổn định và phát triển, vượt qua sự khủng hoảng về kinh tế. Thực tế đó

chứng minh đường lối, chính sách phát triển kinh tế mà Đảng và Nhà Nước ta

đó lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tỡnh hỡnh đất nước. Vào

những năm 90 của thế kỷ trước, khi CNXH ở Liên xô và các nước Đông Âu

sụp đổ, và sau đó là khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở các nước khu vực Đông

Nam Á, trong đó có Việt Nam cũng chịu sự tác động không nhỏ nhưng đó

đứng vững, không những thế kinh tế tiếp tục phát triển, đời sống nhân dân

được nâng lên rừ rệt [26, tr, 249].

Nghị quyết 22/NQ- TƯ, ngày 27/1/1989 của Bộ chính trị khóa VI là

một mốc quan trọng trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, nhằm

phát triển kinh tế - xó hội ở miền nỳi, vựng đồng bào dân tộc thiểu số trong đó

có chương trỡnh 134, 135 hỗ trợ về nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân

tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn, là một trong các chương trỡnh xúa đói

giảm nghèo mang lại cuộc sống mới đến hàng trăm hộ đồng bào dân tộc thiểu

số trên khắp cả nước và trong đó có xó Chõu Sơn.

54

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Có thể nói chương trỡnh 134, 135 thực sự đó đem lại một sức sống mới

cho người dân miền núi, bộ mặt kinh tế- xó hội của xó Chõu Sơn có nhiều đổi

thay và tiến bộ từng mặt. Mặc dù sự tiến bộ chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được

đũi hỏi của đại đa số nhân dân, song nó đó tỏc động tới đời sống của đồng

bào. Sự đầu tư của Nhà Nước, của các cấp chính quyền địa phương trong việc

phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là đường, điện, trường, trạm, nước sinh

hoạt,…cũng như các chính sách đầu tư, hỗ trợ phát triển vùng đồng bào dân

tộc, miền núi như kỹ thuật canh tác, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi,

phương tiện thông tin truyền thông…Do đó, hiện nay hầu hết các thôn bản cư

trú của người Tày đều có trạm y tế, trường học xây kiên cố, ánh sáng điện tới

đừng hộ gia đỡnh, cỏc phương tiện thông tin đại chúng (tivi, điện thoại,…)

đến với từng gia đỡnh. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng

cao, đường giao thông liên huyện, tỉnh, liên xó…được xây dựng kiên cố, góp

phần quan trọng vào sự phỏt triển kinh tế của xó.

Đặc biệt, hiện nay mỗi xó đều có một trạm y tế đặt tại trung tâm xó nhờ

đó rất nhiều đối tượng được khám và cấp phát thuốc miễn phí, nhiều đối

tượng đau đầu được phát hiện, điều trị kịp thời, đáp ứng phần nào nhu cầu

khỏm chữa bệnh , bảo vệ sức khỏe cho nhõn dõn. Vỡ vậy, việc đón thầy cúng

về cúng bái khi có người ốm đau ở người Tày nói riêng, các dân tộc thiểu số

nói chung đó được hạn chế.

Như vậy, kinh tế thị trường đó tỏc động tới từng thôn bản, ảnh hưởng

trực tiếp đến đời sống của người dân nơi đây. Nền kinh tế tự cung tự cấp nay

đó dần thay đổi sang xu hướng hàng hóa do cơ chế thị trường điều tiết hàng

hóa phong phú, mua bán sầm uất đó tao bộ mặt kinh tế nụng thụn, miền núi

hoàn toàn mới. Đó là một trong nguyên nhân khiến cho niềm tin của người

dân vào các đấng siêu nhiên, thần linh và ma tổ tiên giảm sút, nhất là ở thế hệ

trẻ. Vỡ vậy người Tày tiếp tục duy trỡ cỏc nghi lễ tang ma với quan niệm: có

thờ có thiêng, có kiêng có lành, nhưng không vượt quá ngưỡng của nú trở

thành niềm tin mự quỏng.

55

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Túm lại, cựng với quỏ trỡnh cụng nghiệp húa, hiện đại hóa đất nước

đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, thỡ những biến đổi trong nghi lễ tang ma

của người Tày là tất yếu. Bởi những yếu tố văn hóa truyền thống muốn tồn tại

thỡ nhất thiết phải có sự biến đổi cho phù hợp với xó hội hiện đại, và được

cộng đồng chấp nhận. Bên cạnh những chuyển biến tích cực do cơ chế thị

trường đem lại, cũn bộc lộ những điểm hạn chế như: tệ nạn xó hội, an ninh

khụng đảm bảo…

Cựng với sự phỏt triển kinh tế, đời sống nhân dân cải thiện và giao thoa

văn hóa giữa các tộc người ở xó Chõu Sơn đó ảnh hưởng đến. Quy mô tổ

chức đám tang dường như lớn hơn, cầu kỡ hơn so với trước có khi trong một

gia đỡnh cú bố hoặc mẹ mất con cỏi cũn tự tổ chức lễ viếng riờng, thời gian

của đám tang ngắn, do ảnh hưởng của văn hóa kinh thỡ lễ vật trong tang ma

cú nhiều hơn như hoa quả, vàng mó, rượu tây...

3.4.2. Tác động từ nhận thức của người dân

Cựng với quỏ trỡnh đổi mới và hội nhập, sự phát triển cơ sở hạ tầng xó

hội, mạng lưới thông tin đại chúng được mở rộng, tăng cường quan hệ làm ăn

buôn bán giữa các vùng, miền, đó làm cho diện mạo nụng thụn và đời sống

tinh thần của người dân ngày càng phong phú, đa dạng hơn. Ở nông thôn xuất

hiện những văn hóa đô thị mới mẻ, hiện đại, sự truyền bỏ cỏc sản phẩm văn

hóa các loại hỡnh văn học nghệ thuật có giá trị. Bên cạnh đó, sự du nhập lối

sống, phong cách giao tiếp, ứng xử văn minh…làm cho văn hóa có những sắc

thái mới. Mức sống văn hóa, trỡnh độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hóa

của người dân nhỡn trờn tổng thể đó được nâng lên.

Sự thay đổi nhiều chiều của xó hội tỏc động đến nhận thức của người

dân về về vấn đề tang ma. Nếu như lớp người già cũn giữ lại cho mỡnh những

truyền thống cũ vỡ tõm lý lứa tuổi, vỡ truyền thống đó ăn sâu, trở thành kinh

nghiệm và trải nghiệm trong suy nghĩ và cuộc sống của họ, thỡ ở thế hệ trẻ bị

chi phối bởi sự phỏt triển của khoa học kỹ thuật và cuộc sống mới. Tri thức

khoa học là đũn bẩy để thế hệ trẻ thay đổi niềm tin tôn giáo và tín ngưỡng của

56

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

cha ông về cừi sống, cừi chết, về sức mạnh của lực lượng siêu nhiên, của linh

hồn và các hồn ma trong bóng tối. Nhỡn chung người Tày hiện nay đang dần

tự giác thay đổi ở các thế hệ có mức độ khác nhau, song tựu chung lại thỡ là

bỏo hiếu, lũng thành kớnh tổ tiờn, ông bà và đền đáp công ơn sinh thành,

dưỡng dục là nét văn hóa chủ đạo không hề thay đổi trong xó hội người Tày.

Do đó, trong tang ma những gỡ thuộc về bỏo hiếu, tỡnh cảm con người dường

như cũng được tự giỏc duy trỡ từ xó hội truyền thống đến xó hội hiện đại.

Ngày nay, xu thế thực hiện nếp sống mới diễn ra ở hầu khắp các vùng

miền trong cả nước chứ không chỉ riêng người Tày. Tuy nhiên một thực tế

khác cho thấy, hiện nay một số gia đỡnh khi điều kiện kinh tế được cải thiện,

mức sống được nâng lên, họ lại muốn khụi phục lại lễ thức tang ma cũ.

3.4.3. Tác động từ sự giao thoa văn hóa

Giao lưu văn hóa và hội nhập giữa các cộng đồng vốn là quy luật chung

của sự phát triển văn hóa nhân loại. Tuy nhiên, hơn bất cứ thời kỳ nào trong

lịch sử, ngày nay thế giới đang bước vào kỷ nguyên mới với sự giao lưu và

hội nhập vô cùng sống động. Nó là một động lực thúc đẩy sự phát triển văn

hóa và rộng hơn nữa là sự phát triển xó hội.

Trên cơ sở nhận thức các dân tộc không sống biệt lập, bởi khi đất nước

phát triển thỡ nhu cầu mở cửa hội nhập với nền kinh tế giữa các vùng miền

các dân tộc phải có sự giao lưu về văn hóa xó hội. Trong cuộc giao thoa này

hai bờn đó cú sự ảnh hưởng lần nhau, nhất là các tộc người đang cộng cư xen

kẽ với người Tày như người Kinh, Dao, …thông qua việc tiếp nhận các giá trị

văn hóa mới, phong tục tập quán có điều kiện để so sánh, chọn lọc, cách tân,

cải tiến cho phù hợp với điều kiện mới mà vẫn không đánh mất đi bản sắc văn

hóa dân tộc.

Sinh sống trên cùng mảnh đất Đỡnh Lập, cỏc dõn tộc khụng trỏnh khỏi

sự giao thoa trong văn hóa, điều này biểu hiện phần nào trong tang ma của

người Tày. Sống đan xen cận kề với người Kinh, Tày giao thoa hội nhập giữa

các dân tộc láng giềng, sự phát triển kinh tế xó hội người Tày đó học hỏi được

57

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

nhiều điều. Người đến viếng không đem theo gỡ ngoài phong bỡ tiền phỳng

viếng, vũng hoa, hoa quả, bánh kẹo, hương, hoa....

Trong các nghi lễ dường như vẫn giữ được nét đẹp văn. Về cỗ quan tài

của người Tày giống người Kinh, tang ma nhanh gọn hơn, đỡ tốn kém hơn,

văn minh hơn… Tuy nhiờn nú lại làm mai một bản sắc văn hóa tộc người, sự

cố kết tộc người lỏng lẻo hơn, tính nhân văn trong xó hội ngày càng giảm,

Đời sống tâm linh của người dân có nhiều biến đổi

3.5. Giải phỏp bảo tồn các giá trị văn hóa trong tang ma ở xó Chõu Sơn

Tang ma là việc hệ trọng trong đời người, của một gia đỡnh của một

dũng họ và của một cộng đồng dân cư, vỡ vậy việc tổ chức tang lễ chu đáo có

rất nhiều ý nghĩa. Đây là việc nhân, việc nghĩa, việc tỡnh, việc đạo, việc đời,

việc của quá khứ, hiện tại và tương lai. Tổ chức tang ma như thế nào cho tốt

để người chết cũng được ngậm cười nơi chín suối; người sống được yên

lũng ; anh em họ tộc đoàn kết; cộng đồng cảm thông, giúp đỡ, chính quyền,

đoàn thể ủng hộ, quan tâm; luật pháp Nhà nước được thực thi; lệ làng được

tôn trọng; văn hóa truyền thống của dân tộc được bảo tồn; bản sắc dân tộc

được giữ gỡn, phỏt huy…Đó là trách nhiệm của con cháu, của họ tộc, của

cộng đồng xóm bản, của cơ quan chính quyền, đoàn thể ở địa phương.

Trong thời đại hội nhập và giao lưu quốc tế, phát triển khoa học-kĩ

thuật thực hiện công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, dưới góc độ của

người nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa học, trong đó có văn hóa các dân tộc

thiểu số, chúng tôi đề xuất một số ý kiến về giải pháp bảo tồn và phát huy các

giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp biểu hiện trong tang ma của người Tày ở

Châu Sơn như sau :

- Tang ma góp phần làm nên sắc thái tộc người, vỡ vậy nú rất cần được

tổ chức theo phong tục theo nghi lễ truyền thống của dân tộc, trên cơ sở có

chọn lọc những yếu tố tích cực, những giá trị tạo nên những nét đẹp trong văn

hóa như đó trỡnh bày trong khúa luận. Đối với người Tày, phong tục trong

tang ma cơ bản giống nhau nhưng mỗi địa phương cũng có nét riêng về văn

58

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

hóa mang sắc thái tộc người và sắc thái địa phương. Phong tục trong tang ma

của người Tày cũng có nhiều nét tương đồng với các dân tộc khác, song có

sắc thái riêng rất rừ, cần được tôn trọng và kết hợp hài hũa .

- Trong thời đại ngày nay, tang lễ cần kết hợp truyền thống và đổi mới.

Do vậy, cần có người am hiểu về phong tục tang ma hướng dẫn các thủ tục,

nghi thức, có yếu tố tâm linh từ khâu nhập quan cho đến khâu chôn cất. Bên

cạnh đó cần thêm sự hiện diện của đại diện chính quyền hoặc đoàn thể (tùy

thuộc vào người chết tham gia hoạt động ở tổ chức nào), cú lời truy điệu trước

lúc xuất tang để khẳng định những đóng góp của người quá cố đối với địa

phương, với thôn bản, gia đỡnh, họ tộc; nờn những đức tính tốt để con cháu

ghi ơn, mọi người kính trọng. Việc này làm chính quyền đoàn thể chủ động

bàn với tang chủ và thầy tào. Gần đây nhất ở xó Chõu Sơn có hai đám tang

gia đỡnh đề nghị được chính quyền phối hợp tổ chức nên có phần trang trọng

hơn.

- Trong tang ma truyền thống của người Tày quan trọng nhất là vai trũ

của thầy Tào bởi ụng là người nắm rừ cỏc nghi thức của một đám tang theo

phong tục được ghi lại trong sách cổ. Tuy nhiên khó khăn nhất hiện nay là

người Tày ở xó Chõu Sơn không cũn cú mấy người biết đọc sách cúng (chữ

Hán và chữ Nôm Tày) và không biết điều hành một lễ tang theo phong tục

truyền thống của dân tộc. Các thầy tào người Tày hiện nay cũn rất ớt, lớp trẻ

khụng muốn học làm thầy cỳng. Vỡ võy cần phải cú chớnh sỏch đói ngộ

riờng cho đội ngũ thầy tào cụ thể như: Khuyến khích cấp tiền hỗ trợ khoản chi

phí nào đó nhất định. Đồng thời đội ngũ thầy tào cần phối hợp với chính

quyền địa phương thống nhất kết hợp giữa truyền thống tang ma dân tộc với

việc thực hiện nếp sống văn hóa trong tang ma truyền thống của cư dân Tày ở

xó Chõu Sơn, huyện đỡnh lập, tỉnh lạng sơn. Khuyến khớch thầy tào chộp lại

những bài sách cúng, văn tế đó bị thất lạc hoặc bị cũ hay nhàu nỏt nhằm lưu

giữ những giá trị văn hóa truyền thống. Thầy tào dịch những bài sách cúng ra

tiếng việt để lớp trẻ học hỏi và tỡm hiểu.

59

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

- Cần kết hợp và ứng xử linh hoạt giữa phong tục truyền thống và chủ

trương, đường lối, quy định của Nhà Nước về xây dựng nếp sống văn hóa

trong tang ma ngày nay… để làm cho tang ma của người Tày ở Châu Sơn đơn

giản hiện đại nhưng vẫn lưu giữ được bản sắc văn hóa tộc người. Không thể

áp đặt nhưng cũng không thể buông lỏng quản lý trong vấn đề này. Cần

tuyờn truyền vận động nhân dân gắn văn hóa tín ngưỡng trong lễ tang với

việc xây dựng nếp sống văn hóa trong gia đỡnh, làng bản …Kế thừa cú chọn

lọc những phong tục tập quỏn đẹp trong tang ma để đảm bảo hài hũa giữa

việc xõy dựng nếp sống văn hóa với việc giữ gỡn bản sắc dõn tộc.

- Do đời sống nhân dân cũn nhiều khú khăn, nếu tổ chức tang ma theo

truyền thống sẽ là một gánh nặng cho họ, nhưng nếu tổ chức quá giản đơn thỡ

tõm lý và tỡnh cảm đồng bào không thoải mái. Vậy thế nào là vừa ? Theo tụi

không nên tổ chức tang ma dài ngày, gây tốn kém tiền của và mệt mỏi cho gia

chủ và cộng đồng, ảnh hưởng đến sức khỏe, lao động sản xuất, mất vệ sinh

nhất là vào mựa núng nực. Trong thực tế ở xó Chõu Sơn nhiều năm nay, tang

ma của người Tày thường chỉ diễn ra hai ngày hai đêm, xuất tang vào buổi

sáng hôm thứ ba, tối đa là khoảng 50 giờ đồng hồ, như vậy là tương đối hài

hũa và phự hợp.

- Việc ăn uống trong tang ma, nên chú ý khắc phục không ăn ngay cạnh

quan tài; không uống rượu trong đám tang; không làm cỗ bàn linh đỡnh. Việc

khụng ăn ngay cạnh quan tài có thể thực hiện bằng cỏch thay phiờn. Tuy

nhiờn ba điểm trên đó trở thành tập quỏn, khắc phục là khụng đơn giản,

nhưng có thể làm được nếu đưa vào quy chế thực hiện nếp sống văn hóa trong

tang ma mà chính quyền, các đoàn thể chính trí- xó hội cựng ngành văn hóa

có trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Tiểu kết chương 3

Tang ma là một bộ phận của văn hóa truyền thống dân tộc mang đậm

nét yếu tố tâm linh, tín ngưỡng góp phần tạo nên sắc thái tộc người. Trong

tang ma của người Tày có nhiều nghi lễ trong đó chứa đựng những giá trị văn

60

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

hóa tinh thần sâu sắc. Trước tiên là những tỡnh cảm tốt đẹp mà người sống

giành cho người chết, là tấm lũng biết ơn vô hạn của con chỏu với ụng bà, bố

mẹ; sau đó là những giỏ trị tỡnh cảm con người, tỡnh mẫu tử, phụ tử. Đó mới

là cái cốt lừi cần được lưu giữ, cũn nghi lễ - cỏi vỏ ngoài hỡnh thức cú thể

thay đổi, linh hoạt.

Từ quan niệm như vậy chúng tôi cho rằng trong tang ma có nhiều nét

văn hóa đẹp, đáng trân trọng, cần được bảo tồn. Tuy nhiên tang ma của người

Tày ở xó Chõu Sơn hiện nay đang biến đổi, kéo theo đó là sự mai một những

giá trị văn hóa truyền thống tộc người. Do vậy, ngay từ bây giờ cần phải có

những giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp của

văn hóa truyền thống tộc người được thể hiện trong tang ma, góp phần vào sự

nghiệp phát triển chung của đất nước.

61

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

KẾT LUẬN

Là thành viờn trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, “Người Tày có

có phong cách nhu mỡ giản dị, quý mến bạn bè và rất hiếu khách. Đó là

những con người ở nhà sàn, mặc áo chàm, nói năng dịu dàng, tính tỡnh kớn

đáo, giản dị khiêm nhường, ít khoa trương, đặc biệt là tính hiếu thảo, mến mộ

và tuyệt đối tin cậy khi có niềm tin. Bản sắc ấy chính là yếu tố quyết định sự

hỡnh thành những thuần phong mỹ tục ngàn năm của đồng bào’’. Bên cạnh

đó, người Tày sớm tiếp thu, giao lưu văn hóa với các dân tộc anh em góp

phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của mỡnh.

Tang ma của người Tày ở xó Chõu Sơn có 16 nghi lễ chớnh thức và

nhiều lễ phụ, kể từ khi có người vừa qua đời cho đến khi “mồ yên mả đẹp”.

Trong đó có nhiều nét văn hóa đặc sắc chứa đựng tư tưởng, thế giới quan và

nhân sinh quan, hơn thế tang ma cũn thể hiện sự gắn bú sõu sắc giữa tỡnh

nghĩa xúm làng anh em ruột thịt.

Tang ma là một trong những thành tố văn hóa, đồng thời cũng là một

trong những đại lễ của đời người. Tang ma thể hiện các giá trị đặc thù với

mức độ, quy mô khác nhau, với hàm lượng thông tin văn hóa đa cạnh, đa

chiều tạo nên bản sắc văn hóa tộc người. Việc phân loại gia trị theo các quan

niệm tích cực hay hạn chế chỉ mang tính tương đối. Qua tang ma của người

Tày ở xó Chõu Sơn, huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn thể hiện một số giá trị

cơ bản sau :

Giỏ trị và ý nghĩa đạo đức nhân văn: khi cũn sống sớm tối có nhau, vui

buồn cùng chia sẻ, cố gắng làm trọn nghĩa vụ với cuộc đời, chỉ bảo cháu con

học tập. Khi chết đi và trở về với cội nguồn, tổ tiờn, con cháu, có trách nhiệm

lo cho cuộc sống bên âm của người chết được chu toàn. Dù người chết và

người sống phải chia lỡa nhau nhưng về mặt tâm linh vẫn luôn gần gũi. Chính

qua tang ma đó thể hiện được nét đẹp tỡnh người.

62

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Giá trị văn hóa tộc người: Từ những sinh hoạt nghi lễ đó nảy sinh cỏc

giỏ trị văn hóa như: Văn học- Nghệ thuật (âm nhạc, hội họa, các loại hỡnh

diễn xướng) như lượn, sli, hát pụt, then, đồng dao, hát ru…góp phần làm

phong phú đời sống tinh thần của nhân dân.

Giỏ trị xó hội : Tang ma tựa như chất keo gắn kết mối quan hệ ứng xử

giữa anh em, họ hàng và xóm bản được gần gũi, cảm thông ; góp phần ổn

định tâm lí cộng đồng, tâm lý xó hội. Đây cũng là lý do giải thớch vỡ sao qua

bao thăng trầm của cuộc sống mà tang ma của người Tày vẫn được duy trỡ

bài bản. Cú thể thấy những việc làm đó phù hợp với đạo đức cũng như quan

niệm tín ngưỡng nhân sinh của người Tày.

Tập quán tang ma của người Tày ở Châu Sơn hiện nay cũng ít nhiều

biến đổi bởi những tác động ngoại cảnh, nó chứa đựng những yếu tố tích cực

và tiêu cực. Do vậy, việc cần thiết là phải tỡm hiểu và phỏt huy những yếu tố

tớch cực hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm bảo tồn và phát huy những giá

trị văn hóa truyền thống tộc người được thể hiện trong tang ma. Trong thời

đại hội nhập và giao lưu quốc tế, phát triển khoa học - kĩ thuật, thực hiện công

nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước cần kế thừa có chọn lọc đảm bảo hài hũa

giữa việc xõy dựng nếp sống văn hóa với việc giữ gỡn bản sắc văn hóa dân

tộc trong giai đoạn hiện nay.

63

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 8, số 03-NQ/TW ngày

16/7/1998, Nghị quyết lần thứ 5 về xây dựng nền văn hóa Việt Nam

tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

2. Chỉ thị số 27 – CT/TW ngày 12/11/1998 của Bộ Chính trị về việc thực

hiện nếp sống văn minh trong việc cưới việc tan, lễ hội

3. Nguyễn Đăng Duy (2004), Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt

Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

4. Hoàng Ngọc La (chủ biên), Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn (2002),

Văn hóa dân gian Tày, Sở Văn hóa thông tin Thái Nguyên.

5. Ló Văn Lô, Hà Văn Thư (1984), Văn hóa Tày Nùng, NXB Văn hóa ,

Hà Nội.

6. Ló Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn (1968), Sơ lược giới thiệu cỏc nhúm

dõn tộc Tày, Nựng, Thỏi ở Việt Nam, NXB khoa học xó hội, Hà Nội.

7. Gs. Vũ Ngọc Khánh- Phạm Minh Thảo (2005), Từ điển văn hóa tín

ngưỡng phong tục, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

8. Bùi Xuân Mỹ (2001), Lễ tục trong gia đỡnh người Việt Nam, NXB

Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

9. Hoàng Nam (1992), Dân tộc Nùng ở Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc,

Hà Nội.

10. PGS. TS Hoàng Nam (2004) , Văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc

Việt Nam, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

11. Hoàng Tuấn Nam (1999), Việc tang lễ cổ truyền của người Tày, NXB

Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

12. Nụng Thị Nhỡnh (2000), Âm nhạc dõn gian cỏc dõn tộc Tày, Nựng,

Dao Lạng Sơn, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

64

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

13. Ngô Đức Thịnh (2006), Văn hóa, Văn hóa tộc người và văn hóaViệt

Nam, NXB Khoa học xó hội, Hà Nội.

14. Sở Văn hóa Thông tin Lạng Sơn (1999), Địa chí Lạng Sơn, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

15. Hoàng Quyết- Triều Ân- Hoàng Đức Toàn (1996), Từ điển văn hóa cổ

truyền dân tộc Tày, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

16. Hoàng Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Huy Phách, Cung Văn Lược,

Vương Toàn (1993), Văn hóa truyền thống Tày, Nùng, NXB Văn hóa

dân tộc, Hà Nội.

17. Hoàng Quyết, Tuấn Dũng (1994), Phong tục tập quán dân tộc Tày ở

Việt Bắc, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

18. Nguyễn Khắc Viện (chủ biên), (1994), Từ điển xó hội học, NXB Thế

giới, Hà Nội.

19. Viện nghiên Cứu Hán Nôm, Sở văn hóa Thông tin Lạng Sơn (1998),

Tục lệ Lạng Sơn, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

20. Viện khoa học xó hội Việt Nam, Viện dõn tộc học(1997), Cỏc dõn tộc

Tày, Nựng ở Việt Nam.

65

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

PHỤ LỤC

DANH SÁCH NGƯỜI CUNG CẤP THÔNG TIN

PHỤ LỤC ẢNH

CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN

66

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

DANH SÁCH NGƯỜI CUNG CẤP THÔNG TIN

Họ Và Tờn Nghề nghiệp Dõn Quờ quỏn

Tuổi Giới Tớnh tộc

1.Nguyễn Văn Viện 42 Nam Bí Thư xó Tày Nà Háng- Châu Sơn

2.Trỡu Văn Tư 31 Dao Đông Áng-Châu Sơn

Nam Cán bộ Văn Hóa xó

3.Lý Xuõn Nghiờm 76 Nam Thầy Cỳng Tày Nà Háng- Châu Sơn

4.Vi Thị Mỳi 73 Nữ Làm Ruộng Tày Nà Háng- Châu Sơn

5.Ló Văn Trỡnh 74 Nam Thầy Cỳng Tày Nà Lỏong- Châu Sơn

6.Hà Văn Sắt 55 Nam Thầy Cỳng Dao Đông Áng, Châu Sơn

7.Đặng Tắc Phu 74 Nam Thầy Mo Dao Đông Áng- Châu Sơn

8.Nịnh Thị Khỏch 78 Nữ Làm Ruộng Tày Nà Háng- Châu Sơn

9.Nông Văn Bằng 75 Nam Làm Ruộng Tày Nà Háng- Châu Sơn

10.Nông Quốc Đèo 77 Tày Nà Háng- Châu Sơn

Nam Cựu chiến binh

11. Lý Hải Sõm 43 Nam Chủ tịch xó Tày Nà Hỏng- Châu Sơn

12.Lý Xuõn Trắng 56 Nam Làm Ruộng Tày Nà Háng- Châu Sơn

14.Vi Văn Công 54 Nam Làm ruộng Tày Nà Háng- Châu Sơn

67

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

PHỤ LỤC ẢNH

Ảnh 1 : Buộc vải trắng cho người mất (tỏc giả Nụng Thị Linh)

Ảnh 2 : Quần áo của người mất cho vào quan tài (nguồn ảnh internet)

68

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Ảnh 3 : Nhập quan cho người mất (nguồn ảnh internet)

Ảnh 4: Thầy cúng đang cúng (tỏc giả Nụng Thị Linh)

69

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Ảnh 5: Lễ phỏt tang (tỏc giả Nụng Thị Linh)

Ảnh 6: Cảnh phỏt tang của con chỏu (tỏc giả Nụng Thị Linh)

70

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Ảnh 7: Lễ viếng thăm của bạn bố( tỏc giả Nụng Thị Linh)

Ảnh 8: Lễ viếng họ hàng xa (tỏc giả Nụng Thị Linh)

71

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Ảnh 9: Chiêng dùng trong đám ma (tỏc giả Nụng Thị Linh)

Ảnh 10: Lễ phỏt tang(tỏc giả Nụng Thị Linh)

72

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Ảnh 11: Khiờng quan tài ra cửa con trai nằm xuống làm cầu để khiêng quan tài qua trên (tác gỉa Nông Thị Linh)

ảnh 12: Con gái nằm xuống làm cầu để khiêng quan tài qua trên (tỏc giả Nụng Thị Linh)

73

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Ảnh 13: Tiền giấy trong mõm cỳng ( tỏc giả Nụng Thị Linh)

ảnh 14: Chụn huyệt (nguồn ảnh internet)

74

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Ảnh 15: Lễ đưa tang(nguồn ảnh internet)

Ảnh 16: Lễ món tang (tỏc giả Nụng Thị Linh)

75

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh

Ảnh 16: Lễ món tang (tỏc giả Nụng Thị Linh)

CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN

76