intTypePromotion=3

TORENTAL (Kỳ 2)

Chia sẻ: Thuoc Thuoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
46
lượt xem
4
download

TORENTAL (Kỳ 2)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

CHỈ ĐỊNH - Bệnh tắc động mạch ngoại vi do xơ cứng động mạch hoặc tiểu đường (đau cách hồi, đau lúc nghỉ). - Tổn thương thuộc dinh dưỡng (loét và hoại thư chân). - Bệnh lý mạch máu não. - Rối loạn tuần hoàn ở mắt do thoái hóa mạch máu. CHỐNG CHỈ ĐỊNH - Tăng cảm với pentoxifylline, các methylxanthines khác hay bất cứ thành phần nào của thuốc. - Xuất huyết nặng. - Xuất huyết võng mạc lan rộng. THẬN TRỌNG LÚC DÙNG - Không nên dùng cho trẻ em, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú. - Phải theo...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TORENTAL (Kỳ 2)

  1. TORENTAL (Kỳ 2) CHỈ ĐỊNH - Bệnh tắc động mạch ngoại vi do xơ cứng động mạch hoặc tiểu đường (đau cách hồi, đau lúc nghỉ). - Tổn thương thuộc dinh dưỡng (loét và hoại thư chân). - Bệnh lý mạch máu não. - Rối loạn tuần hoàn ở mắt do thoái hóa mạch máu. CHỐNG CHỈ ĐỊNH - Tăng cảm với pentoxifylline, các methylxanthines khác hay bất cứ thành phần nào của thuốc. - Xuất huyết nặng.
  2. - Xuất huyết võng mạc lan rộng. THẬN TRỌNG LÚC DÙNG - Không nên dùng cho trẻ em, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú. - Phải theo dõi cẩn thận khi dùng cho bệnh nhân loạn nhịp tim nặng, nhồi máu cơ tim, huyết áp thấp, suy thận, suy gan nặng, dễ xuất huyết (đang dùng thuốc kháng đông hay có rối loạn đông máu). - Đối với dạng tiêm : phải cẩn thận theo dõi ở bệnh nhân đặc biệt có nguy cơ hạ huyết áp (bệnh mạch vành nặng hay hẹp mạch máu nuôi não). LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ Lúc có thai : thử nghiệm trên súc vật không cho thấy tác dụng gây quái thai. Với người, không rõ nguy cơ vì thiếu dữ liệu chính xác. Không nên dùng trong thời gian mang thai. TƯƠNG TÁC THUỐC - Có thể làm tăng tác dụng hạ đường huyết của insulin và các thuốc hạ đường huyết uống. - Có thể làm tăng tác dụng hạ huyết áp của các thuốc hạ áp và các thuốc có tiềm năng hạ áp.
  3. - Có thể làm giảm nồng độ theophylline trong huyết thanh. TÁC DỤNG NGOẠI Ý - Đặc biệt khi dùng liều cao hay truyền tĩnh mạch quá nhanh, các triệu chứng sau đây có thể xảy ra : thường gặp : nóng bừng mặt, tức bụng, đầy bụng, buồn nôn, nôn hay tiêu chảy ; thỉnh thoảng : nhịp tim bất thường (thí dụ nhịp tim nhanh). - Da : thỉnh thoảng có ngứa, đỏ da và nổi mề đay. - Hệ thần kinh trung ương : thỉnh thoảng có chóng mặt, nhức đầu, bứt rứt và rối loạn giấc ngủ. - Phản vệ : trong vài trường hợp riêng lẻ, phản ứng phản vệ hay giống phản vệ thí dụ như phù mạch - thần kinh, có thắt phế quản và đôi khi sốc. Ngay khi vừa xuất hiện một triệu chứng phản vệ hay giống phản vệ, phải lập tức ngưng ngay pentoxifylline và báo bác sĩ. - Gan : trong vài trường hợp riêng lẻ, ứ mật trong gan và tăng men transaminase. - Tim mạch : hiếm, đau thắt ngực, hạ huyết áp và đặc biệt ở bệnh nhân dễ xuất huyết, có thể xuất huyết. - Huyết học : trong vài trường hợp riêng lẻ, giảm tiểu cầu.
  4. LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG Liều và đường dùng tùy thuộc loại và mức độ nặng của rối loạn tuần hoàn và dung nạp của bệnh nhân. Thuốc viên : Liều thông thường là 400 mg x 2-3 lần/ngày hay 600 mg x 2 lần/ngày. Nuốt nguyên viên thuốc giữa hoặc ngay sau bữa ăn với nửa ly nước. Thuốc tiêm : - Pha thuốc vào trong một dung dịch thích hợp để truyền tĩnh mạch. Truyền chậm 100 mg pentoxifylline trong ít nhất 60 phút. - Bệnh tắc động mạch ngoại vi giai đoạn II (đau cách hồi) và rối loạn tuần hoàn mắt : 100-600 mg x truyền tĩnh mạch 1-2 lần/ngày. Nếu dùng phối hợp với thuốc viên pentoxifylline, tổng liều cho cả hai dạng thuốc là 1200 mg/ngày. - Bệnh tắc động mạch ngoại vi giai đoạn III và IV : 1200 mg/ngày hoặc truyền liên tục 24 giờ hoặc chia ra 2 lần mỗi lần 600 mg truyền trong ít nhất 6 giờ. - Bệnh nhân suy giảm chức năng thận (độ thanh thải creatinine
  5. - Bệnh nhân có huyết áp thấp hay dễ bị hạ huyết áp (bệnh mạch vành nặng, hẹp mạch máu nuôi não) : khởi đầu bằng liều thấp và tăng dần dần. QUÁ LIỀU Triệu chứng : - Các triệu chứng đầu tiên của quá liều cấp pentoxifylline là buồn nôn, chóng mặt, tim đập nhanh hay hạ huyết áp. - Sau đó có thể sốt, kích động, nóng bừng mặt, hôn mê, mất phản xạ, co giật và ói nâu (xuất huyết tiêu hóa). Điều trị : Không có thuốc giải độc. Nếu mới uống thuốc, rửa bao tử và cho than hoạt. Dùng các biện pháp trị liệu tổng quát và đặc hiệu tích cực để điều trị quá liều cấp và phòng ngừa biến chứng

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản