
Tư tưởng canh tân sáng tạo nền
văn hóa Vi
ệt Nam đầu thế kỷ XX của
chí sĩ Phan Châu Trinh
Với sự nghiệp đổi mới, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa và hiện đại hóa văn
hóa dân tộc đang thu hút sự quan tâm của nhiều người. Qua tìm hiểu chí sĩ Phan
Châu Trinh, chúng tôi thấy ông là một tấm gương mạnh dạn canh tân và sáng tạo
nền văn hóa dân tộc vào thời điểm đầu thế kỷ XX.
Từ nửa cuối thế kỷ XIX, trong xu thế chung của cả khu vực văn hóa
Việt Nam cổ truyền đã và đang phải đối mặt với trào lưu văn hóa phương Tây. Sự thật
lịch sử đã chỉ ra rằng ở Việt Nam đã sớm có một dòng tư tưởng canh tân nhận thức
được sự cần thiết phải hướng văn hóa của dân tộc tới những giá trị tiến bộ mới lạ của
khu vực và của thời đại, đồng thời phải kế thừa bảo lưu những giá trị tốt đẹp đã từng là

chỗ dựa cho dân tộc trường tồn phát triển. Khởi đầu là Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ
Trạch, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ... Tiếp nối dòng tư tưởng này, nhận thức được
vấn đề cấp thiết của dân tộc đầu thế kỷ XX là vấn đề độc lập dân tộc đặt trong hệ luận
giải mới là dân chủ, dân quyền là một loại các danh sĩ, đứng đầu phải kể tới Phan Châu
Trinh. Do điều kiện khách quan, do hạn chế về tư liệu và phương pháp mà trước đây ít
người để ý tới cống hiến của Phan Châu Trinh đối với việc canh tân sáng tạo nền văn
hóa dân tộc tại thời điểm ông sông.
Sau hơn bốn chục năm kể từ khi thực dân Pháp nổ súng ở Đà Nẵng rồi cường
đoạt độc lập tự do của dân tộc, cho tới thời điểm đầu thế kỷ XX, trên thực tế chúng đã
đồng thời áp đặt nền văn hóa thực dần lên nền văn hóa cổ truyền của Việt Nam. Văn
hóa cổ truyền của dân tộc dường như đứng trư
ớc bọn diệt chủng hoặc lai căng, mất gốc.
Lịch sử thử thách khắc nghiệt đã sản sinh ra người đứng đầu gió, đó là Phan Châu
Trinh. Xuất thân từ gia đình có truyền thống yêu nước, Phan Châu Trinh sớm trăn trở
bởi câu hỏi lớn: làm thế nào để đưa dân tránh được hiểm họa ghê gớm đó? Nhờ tiếp
xúc nhiều với những người khách trú, những nhà buôn Nhật Bản, và nhất là từ những
năm 1902 ông đã được đọc các Tân thư, Tân văn mà trong óc đã nảy nở ra hai vấn đề
quan yếu:
Thứ nhất, đó là vấn đề thời đại "mưa Âu, gió Mỹ ", sóng lan tràn thực dân là một
tất yếu Trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và khu vực, việc tiếp nhận văn hóa
phương Tây là một xu thế không cưỡng nổi.
Thứ hai, trong quy luật "cường thắng, liệt bại” thì muốn dân tộc khỏi diệt chủng
chỉ có cách tự canh tân về mọi mặt của nền văn hóa, tự lực tự cường, vươn lên sánh vai
với nước khác trên trường quốc tế một cách chủ động tích cực. Nói cách khác tức là
bảo lưu, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc đồng thời tiếp
nhận những giá trị văn hóa mới của thời đại để đáp ứng yêu cầu phát triển dân tộc
mình. Đi tới được những nhận định ấy đã có thể gọi là bước ngoặt trong tư tư
ởng so với
người cùng thời, nhưng đáng nói hơn là Phan Châu Trinh đã xây dựng thành chủ thuyết
Tân dân, và suốt cả đời ông đã tận tâm, tận lực để thổi luồng sinh khí ấy vào quảng đại
quần chúng nhân dân, lấy đông đảo quần chúng nhân dân làm đối tượng lĩnh hội và là

người thực thi ý tưởng đó (l). Chỉ riêng ở điểm này thôi cũng là bài học quý báu cho
chúng ta tin tưởng hơn rằng, công cuộc đồi mới hiện nay đang thuận chiều lịch sử vận
động đi lên của dân tộc đã được mở đầu bởi Phan Châu Trinh.
Bấy giờ hiện trạng vô cùng đen tối. Thực dân Pháp với chính sách đồng hóa và
ngu dân đã câu kết với thế lực phong kiến phản động làm cho văn hóa cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX vốn suy đồi lại càng hư nát. Chế độ chính trị là sự biểu hiện của văn hóa
chính trị chuyên chế hà khắc của phương Đông cộng thêm văn hóa chính trị thực dân
dã man, độc đoán, tàn bạo. Nhằm phục vụ quyền lợi của giai cấp thực dân phong kiến,
chính quyền thống trị đã đặt ra các chính sách bóc lột, áp chế nhân dân đến cùng cực.
Phan Châu Trinh là người dám đứng lên đương đầu với nhà cường quyền đòi cải cách
thể chế chính trị. "Thư gửi toàn quyền Beau” của ông là bản cáo trạng tố cáo các quan
tham lại nhũng, chính trị hư hại đương thời, đòi hỏi cải cách, thực thi một văn hóa
chính trị tiến bộ và nhân đạo hơn, dưới một hình thức công khai trực diện. Do thực sự
là những cống hiến xuất sắc của Phan Châu Trinh. Trước ông, đã từng có đòn bút chiêu
hàng giặc của Nguyễn Trãi, nhưng sử dụng bút lực để thuyết phục kẻ xâm lược đang
nắm quyền uy trên toàn cõi Việt Nam, lôi cuốn đi theo ngọn triều tiến bộ, thì đó là
miếng võ lợi hại, có lẽ chỉ có người xuất thân từ con nhà võ như Phan Châu Trinh mới
sáng tạo nên.
Có thể nói suốt trong mấy chục năm, ông đã không ngừng học hỏi kiến thức văn
hóa, chính trị mới mé của Tây phương, nhưng với ý thức chủ động chỉ tiếp thu chọn lọc
những cái gì phù hợp với điều kiện của đất nước vào lúc đó. Thiết tha yêu nước và một
lòng một dạ vì dân vì nước, Phan Châu Trinh đã biết kế thừa bài học "gậy ông đập lưng
ông" khi ông dựa vào chiêu bài “khai hóa văn minh" để đòi chính quyền bảo hộ "mau
mau đổi lại chính sách, kén dùng người hiện tại, giao cho quyền bính, đãi người cho có
lễ độ, đối xử với người cho thành thật, rồi cùng nhau tìm cách hưng lợi trừ hại, mở cái
con đường nuôi sống cho dân nghèo, cho thân sĩ có quyền nghị luận tụ do... mở nhà
báo để thấu rõ dân tình, minh thưởng phạt để thanh trừ lại tệ, những việc cần thiết như
đổi pháp luật, bỏ khoa cử, mở nhà học, đều lần lượt cải lương"(2). Ở những yêu sách
mà ông đặt ra, ta thấy những nội dung đấu tranh rất mới lạ so với trước. Có thể nói, với

con mắt quan sát đặc biệt của mình Phan Châu Trinh đã nhìn thấy tình thế khẩn cấp
nước sôi lửa bỏng phải đổi mới toàn diện chính trị - kinh tế - văn hóa xã hội Việt Nam.
Hiểu đó là những bước canh tân khó khăn, vì chưa quen thuộc đối với nhận thức, thói
quen, phong cách sinh sống của người mình, nên ông đã kiên tâm, bền chí để đưa ý
thức này đến với quần chúng. Trên một nghìn năm trước, lối tư duy kinh tế phong kiến
"trọng nông, ức thương", coi thường kỹ nghệ đã lạm suy yếu kinh tế của đất nư
ớc. Phan
Châu Trinh đặt ra chương trình tự lập các hội trong cây, dệt vải, hội buôn, các cơ sớ sản
xuất hàng hóa và buôn bán hàng nội hóa nhằm khôi phục và chấn hưng thực nghiệp. Tư
tưởng và hành động của ông không chỉ là những lời tuyên truyền, kêu gọi mà thật sự đã
để lại những kinh nghiệm điển hình rất sinh động. Tại tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi,
Bình Thuận, Nghệ An, Hà Nội có rất nhiều hội hợp cổ, hợp quần, hùn vốn để phát triển
"quốc thương", lợi nước ích nhà" làm thay đổi mạnh mẽ các quan điểm lạc hậu về kinh
tế. Đến bây giờ, những khuyến cáo dân nước phải bỏ lối học kiếm danh, học để làm
quan và mau mau phải học lấy tinh thông một nghề vẫn còn có giá trị:
Người ta trọng có tài có nghiệp
Kẻ không nghề cả kiếp khó hèn
Loài người đã không tài không nghiệp
Phải sinh ra nhiều kiếp gian nan,
Đua chen dối trá muôn vàn
Gà bầy đá lẫn, cá đàn cán nhau...
Hỡi những người chí cả thương quê
Mau mau đi học lấy nghề...
Dẫu rằng thợ mộc thợ rèn
Tài hay trí tốt tiếng khen vang rền...(3)
Như ta đã biết, sở dĩ ông và các đồng chí của mình "phất cao cờ tân dân, trống
thực nghiệp" được mạnh và sớm là do biết phát huy truyền thống phát triển công
thương, giao tiếp với bên ngoài rộng rãi của đất Hội An – Đà Nẵng. Nơi đây có đủ các
điều kiện để cây công thương bén rễ, phát triển nhanh chóng. Phan Châu Trinh không
chỉ hô hào, cổ động, bản thân ông lúc bị đày ở Côn Đảo cũng tự mày mò học nghề làm

đòi mồi rất khéo, khi sang Pháp ông tự học nghề làm ảnh và đã truyền nghề này cho
Nguyễn ái Quốc. Tuy chưa đi tới những nhận thức về tính quyết định của cơ sở hạ tầng
đối với kiến trúc thượng tầng, nhưng ông đã nhìn thấy sức mạnh phục hưng độc lập dân
tộc là phụ thuộc vào sức mạnh của chấn hưng thực nghiệp, nâng cao tiềm lực kinh tài
cho đất nước.
Từ góc độ giá trị văn hóa của đời sống kinh tế, Phan Chu Trinh đã quan niệm
rằng phát triển của đất nước phải dựa trên cơ sở chú trọng đẩy mạnh các ngành công
thương, đồng thời cải tạo nghề nông, khai đất đai đưa vào sản xuất các nông sản hàng
hóa xuất khẩu. Xu hướng này đã khôn khéo lựa chiều, dựa vào các chính sách khai thác
thuộc địa của thực dân để đề xướng ra các yêu sách. Trong chủ kiến này ông cô tính
đến khả năng vận động được nhôm chính khách Pháp có cảm tình và muốn thực dân
khai hóa thuộc địa. Tuy vậy, ý đồ này đã vấp phải sự phản ứng của bọn thực dân tàn
bạo. Cả phong trào Duy tâm rầm rộ, cũng như chính những người khởi xướng nó đã bị
dìm vào máu lửa. Đó là điều Phan Chu Trinh đã không tính đen. Nói đến tấm gương
canh tân văn hóa nước nhà của Phan Chu Trinh phải nói ngay đến những đóng góp về
giáo dục. Ngay từ những năm 1902 ông đã thấy tệ hại của lối giáo dục phong kiến cũ.
Ông cho rằng muốn khôi phục quốc hồn thì phải sửa đổi phép thi, thay đổi nền giáo dục
cũ bằng nền giáo dục lấy kiến thức thực dụng làm nội dung, dạy con người nắm được
tri thức cần thiết cho đời sống dân sinh. Ông cực lực phản đối lối học từ chương bát cổ,
sáo rỗng, hình thức làm suy đổi tâm trí của người dân nước. Đối với nền Nho học cuối
mùa, ông lên án thẳng thừng:
…"Trách những kẻ sư nho dạy bảo
Việc nhân tâm thế đạo làm ngơ
Bắt đầu đã dạy văn thơ
Ngũ ngôn bát cổ lờ mờ nghĩa đen
Mong cho biết đua chen danh lợi
Tìm những đường hủ bại mà đi
Sao không biện biệt thị phi
Sao không chỉ trỏ đường kia nẻo này” (4).

