T và cu tạo t
(phn đầu)
1. Vấn đề định nghĩa t
1.a. Mỗi chúng ta, đã tiếp thu và nhn ra cái gọi là tthông qua thực tiễn học tập
và sử dụng ngôn ngữ.
Cái khó ở chỗ phải nên ra một định nghĩa có tính lí thuyết về từ. Cho đến nay,
trong ngôn nghọc, các định nghĩa về từ đã được đưa ra không ít. Các định nghĩa
ấy, ở mặt này hay mặt kia đều đúng, nhưng đều không đủ và không bao gồm hết
được tất cả các sự kiện được coi là từ trong ngôn ngữ và ngay c trong một ngôn
ngữ cũng vậy. Chẳng hn:
Từ là một tổ hợp âmnghĩa chăng? Từ là một tổ hợp các âm phản ánh khái niệm
chăng? Từ là một đơn vị tiềm tàng khả năng trở thành câu chăng? Từ là một kí
hiệu ngôn ngữ ứng với một khái niệm chăng?…
Tình trng phức tạp của việc định nghĩa từ, do chính bản thân từ trong các ngôn
ngữ, không phi trường hợp nào cũng như nhau. Chúng có thể khác về:
- Kích thước vật chất
- Loại nội dung được biểu thị và các biểu thị
- Cách thức tổ chức trong nội bộ cu trúc
- Mối quan hệ với các đơn vị khác trong hệ thống ngôn ngữ như hình vị, câu
- Năng lực và chức phận khi hoạt động trong câu nói
Xét hai thợp tác xã và nếu trong tiếng Việt làm ví dụ, ta sẽ thấy:
Từ thứ nhất có ch thước vật chất lớn hơn nhiều so với từ thứ hai; và cu trúc nội
tại của nói cũng phức tạp n nhiều.
Từ thứ nhất biểu thị một khái nim, có khả năng hoạt động độc lập trong câu, làm
được chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ… trong câu; còn từ thứ hai lại không biểu thị khái
nim, không có được năng lực để thể hiện những chức phận như từ thứ nhất…
1.b. Vì những lẽ đó, không hiếm nhà ngôn ngữ học (kể cả F. de Saussure, S. Bally,
G. Glison…) đã chối bỏ khái nim từ, hoặc nếu thừa nhận khái nim này thì h
cũng lảng tránh việc đưa ra một khái nim chính thức.
Lại có nhà nghiên cu xut phát từ một lĩnh vực cụ thể nào đó, đã đưa ra những
định nghĩa từng mt một như từ âm vị học, từ ngữ pháp học, từ chính tả, từ từ
điển…
Dù sao, từ vẫn là đơn vị tồn tại tự nhiên trong ngôn ngữ; và chính nó là đơn v
trung tâm của ngôn ngữ; bởi vì, đối vi mỗi chúng ta, nói như ý của E.Sapir thì
việc nhn thức từ như là cái gì đấy hiện thực vmt m lí, chẳng có khó khăn gì
đáng kể.
1.c. Mong muốn của các nhà ngôn nghọc đưa ra một định nghĩa chung, khái
quát, đầy đủ về từ cho tất cả mi ngôn ngữ, tiếc thay, cho đến nay vẫn chưa đạt
được và có lẽ sẽ không thể đạt được. Chúng ta có thể đồng tình vi L.Serba khi
ông cho rng từ trong ngôn ngữ khác nhau, sẽ khác nhau…, và không thể có được
một khái niệm về từ nói chung.
Tuy thế, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên cu, người ta vn thường chấp nhận
một khái niệm nào đó về từ tuy không có sức bao quát toàn thnhưng cũng chỉ để
lt ra ngoài phạm vi của nó một số lượng không nhiều những trường hợp ngoại lệ.
Chẳng hạn:
Từ là đơn vị nhỏ nht có nghĩa ca ngôn ngữ được vận dụng độc lập, i hiện tự do
trong li nói để xây dựng nên câu. Quan nim này gần với quan nim của
B.Golovin trong cuốn sách "Dẫn luận ngôn ngữ học" ca ông. Nó cũng có nhiều
nét gn với quan niệm của L.Bloomfield, coi tlà một “hình thái tự do nhỏ nhất”.
Có nghĩa rằng từ là một hình thái nhnhất thể xuất hiện độc lập được.
1.d. Ngay cả những quan đim như thế, sự thực cũng kng phải là áp dụng được
cho tất cả mọi ngôn ngữ và tất cả mi kiểu từ. Chẳng hạn từ nếu vừa nói bên tn
cũng như từ và, vi, thì, ư… trong tiếng Việt; từ and, up, in, of… của tiếng Anh
không thomãn được điều kin "i hiện tự do" trình bày trong quan nim này.
Gặp những trường hợp như vậy (trường hp của những cái mà ta vn gọi là từ hư)
người ta phải có những bin luận riêng.
- Trước hết, tất cả chúng đề có nghĩa của mình ở dạng này hay dng khác, thể hiện
bằng cách này hay cách khác.
- Thhai, khả năng "tái hiện tự do" của chúng được thể hiện "một cách không tích
cực". Cần nhớ là trong ngôn ngữ, chỉnhững đơn vị cùng cp độ thì mi trực
tiếp kết hợp với nhau. Xét hai câu bình thường trong tiếng Việt và tiếng Anh.
- Em sống với bvà m
- He will leave here after lunch at two o'clock
Ở đây, em, bố, m, sống, he, leave, here, lunch, two, c'clock chắc chn là các các
từ. Vậy thì với, và, will, after, at cũng phải là từ.
- Thứ ba, không hiếm từ hư trong một số ngôn ngữ đã được chứng minh là có
ngun gốc từ từ thực. Sự hao mòn ng nghĩa cùng với sự biến đối về chức năng
của chúng đã xẩy ra. Tuy vy, không vì thế mà tư cách từ của chúng b xoá đi. Ví
dụ: trong tiếng Hindu: me (trong) < madhya (khoảng giữa); ke arth (để, vì) < artha
(mục đích) ca Sanskrit… trong tiếng Hausa: bisan (trên) < bisa (đỉnh, chóp);
gaban (trước) < gaba (ngực)… trong tiếng Việt: của < ca (danh từ); phải < phải
(động từ); bị < bị (động từ)…
Việc xét tư cách từ cho những trường hợp như: nhà lá, áo len, đêm trắng, cmực,
cao hổ cốt… trong tiếng Việt còn phức tạp n nhiều. Trong các ngôn ngữ khác
cũng không phải là không có tình hình tương tự.
Mặc dùc nhà nghiên cu đã cgng tìm i những tiêu chí cơ bản, phổ biến để
nhận diện từ (như: tính định hình hoàn chỉnh, tính thành ngữ, do A.Smirnitskij đưa
ra chng hạn) nhưng khi đi vào từng ngôn ngữ cụ thể, người ta vẫn phi đưa ra
hàng loạt tiêu c khác nữa, có thể cụ thể hơn, khả dĩ sát hợp với thực tế từng ngôn
nghơn, và thm chí có cả những biện luận riêng.