MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
KẾT LUẬN.................................................................................................................27
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................28
MỞ ĐẦU
Thẩm tách khuếch tán (DD) là một quá trình tách màng trao đổi ion (IEM) được
thúc đẩy bởi gradient nồng độ và còn được gọi là thẩm tách nồng độ hoặc thẩm tách tự
nhiên. Khái niệm thẩm tách lần đầu tiên được Graham đề xuất vào năm 1861, như một
cách tách các phân tử tương đối nhỏ khỏi các phân tử lớn bằng màng bán thấm.
động lực cho quá trình tách chủ yếu gradient nồng độ, nên thẩm tách được gọi
1 | P a g e
quá trình tách tự phát. Cụ thể, nếu IEM (cũng một loại màng bán thấm) được sử
dụng để thẩm tách, thì quá trình này được định nghĩa là thẩm tách khuếch tán (DD).
Là một quá trình tự phát, quá trình DD làm tăng entropygiảm năng lượng tự
do Gibbs, do đó, về mặt nhiệt động lực học, lợi. So với một số quy trình thông
thường, DD thể hiện sự vượt trội đáng kể: (1) Hiệu quả cao hơn trong việc làm sạch
nước thải; cải thiện năng suất chất lượng sản phẩm, (2) Tiêu thụ năng lượng thấp
(DD chạy dưới áp suất bình thường và không thay đổi trạng thái trong quá trình, do đó
không cần điện để chạy DD), (3) Chi phí lắp đặt vận hành thấp; ổn định, đáng tin
cậy dễ vận hành, (4) Không gây ô nhiễm môi trường. Cho đến nay, DD đã được
ứng dụng thành công để thu hồi axit kiềm từ chất thải từ sản xuất thép, tinh luyện
kim loại, mạ điện, tái sinh nhựa trao đổi cation, luyện kim loại màu, khắc nhôm
luyện quặng vonfram.
Tuy nhiên, DD cũng có những hạn chế, chẳng hạn như khả năng xử hiệu
quả tương đối thấp. nồng độ dung dịch thu hồi bị giới hạn bởi trạng thái cân bằng.
Do đó, DD được coi ít quan trọng hơn một số quy trình tách màng khác, chẳng hạn
như điện phân và thẩm thấu ngược. Tuy nhiên, những lợi thế độc đáo của DD, đặc biệt
là tính thân thiện với môi trường và mức tiêu thụ năng lượng thấp, có thể khiến DD trở
nên cạnh tranh hơn khi ô nhiễm môi trường tình trạng thiếu năng lượng trở nên
nghiêm trọng hơn. Hơn nữa, với sự cải tiến của IEM máy thẩm phân khuếch tán,
khả năng xử hiệu quảch của DD thể được cải thiện đáng kể DD thể
được phát triển thành một kỹ thuật tách thực tế trong tương lai gần.
Tiểu luận này sẽ cung cấp tổng quan về DD, bao gồm các nguyên tắc chung,
màng được sử dụng cho DD, các ứng dụng của DD trong việc thu hồi axit cơ/axit
hữu cơ/kiềm và sự tích hợp của DD với các quy trình màng khác.
I. MÔ TẢ CHUNG VỀ THẨM TÁCH KHUẾCH TÁN
1.1. Nguyên lý thẩm tách khuếch tán
Trong quá trình DD, quá trình vận chuyển ion chủ yếu được thúc đẩy bởi
gradient nồng độ. Quá trình tách HCl NaOH khỏi dung dịch cấp của chúng được
minh họa trong Hình 1 và 2 để mô tả nguyên lý thẩm tách khuếch tán (DD).
2 | P a g e
Hình 1. Minh họa nguyên lý thẩm tách khuếch tán thông qua quá trình tách HCl ra
khỏi dung dịch đầu vào.
Hình 2. Minh họa nguyên lý thẩm tách khuếch tán qua quá trình tách NaOH ra khỏi
dung dịch Na2WO4.
Như thể hiện trong Hình 1, HCl các muối kim loại của trong dung dịch
cấp có xu hướng vận chuyển về phía nước do sự chênh lệch nồng độ qua màng. Do sự
hiện diện của AEM, các ion Cl- (hoặc SO42-, NO3-, PO43-, v.v.) được phép đi qua, trong
khi các kim loại trong dung dịch thải ít có khả năng đi qua hơn nhiều. Các ion H+, mặc
mang điện tích dương, khả năng cạnh tranh cao hơn trong quá trình khuếch tán
so với các ion kim loại kích thước nhỏ hơn, trạng thái hóa trị thấp hơn tính di
động cao hơn. Do đó, chúng thể khuếch tán cùng với Các ion Cl- (hoặc SO42-, NO3-,
PO43-, v.v.) để đáp ứng yêu cầu về tính trung hòa điện. Vận chuyển H+ là chìa khóa cho
quá trình DD. Các đặc tính thích hợp của AEM cũng cần thiết, bao gồm tính ổn định
trong dung dịch axit, độ thấm H+ cao, khả năng loại bỏ mạnh các ion kim loại khác,
khả năng hấp thụ nước (WR) tương đối cao và độ thấm nước kém.
3 | P a g e
Quá trình tách NaOH khỏi dung dịch cấp liệu (ví dụ Na2WO4) được minh họa
trong Hình 2. NaOH và Na2WO4 có xu hướng vận chuyển sang phía nước do sự chênh
lệch nồng độ qua màng. Do sự hiện diện của CEM, Na* trong nguồn cấp liệu được
phép đi qua, trong khi các ion WO42- ít khả năng đi qua màng hơn nhiều. Tương tự
như H+ qua AEM, các ion hydroxyl (OH-) tính cạnh tranh cao hơn trong quá trình
khuếch tán so với các ion WO42-thể khuếch tán cùng với các ion Na+ để đáp ứng
yêu cầu về tính trung hòa điện. Vận chuyển OH- cũng chìa khóa của quá trình,
CEM độ ổn định cao trong dung dịch kiềm, độ thấm OH- cao, khả năng loại bỏ
mạnh đối với các anion khác, WR tương đối cao nhưng độ thấm nước kém cũng
những yêu cầu bắt buộc.
1.2. Các mô hình cho quá trình thẩm tách khuếch tán
Cho đến nay, hai hình được sử dụng để tả quá trình thẩm tách DD.
hình đầu tiên hình dung dịch-khuếch tán, được đưa ra cách đây 20 năm
được chấp nhận chủ yếu để giải thích quá trình vận chuyển trong thẩm tách, thẩm thấu
ngược, thẩm thấu khí thẩm thấu bay hơi. hình này cũng có thể được áp dụng
trong quá trình tách DD của axit mạnh và kiềm. Theo mô hình này, các thành phần hòa
tan trong pha ng sau đó khuếch tán qua màng theo một gradient nồng độ. Quá
trình tách đạt được do sự khác biệt về độ hòa tan tốc độ khuếch tán của chúng.
hình này cho quá trình DD axit hữu thể kém chính xác n mức độ phân ly
của axit hữu thấp chế vận chuyển DD của chúng bên trong màng thể rất
phức tạp.
hình khác phổ biến hơn hình màng ba pha, trong đó màng được chia
thành ba pha, tức một polyme kỵ nước, một vùng hoạt động (bao gồm các vị trí cố
định trao đổi các ion đối kháng) một vùng xen kẽ. Nước, thành phần không thể
thiếu cho quá trình di chuyển của các ion, chủ yếu tồn tại ở các vùng hoạt động và xen
kẽ. Các ion thể vận chuyển qua hai vùng y thông qua các chế khác nhau: các
anion trong vùng hoạt động có thể di chuyển theo cơ chế nhảy, chuyển từ vị trí trao đổi
này sang vị trí trao đổi khác; trong khi các proton ngậm nước các cation khác thích
chế "kéo" (khuếch n hạn chế) trong vùng xen kẽ, không lực đẩy nghiêm
trọng nào trong vùng này. Từ sự kết hợp của hình màng ba pha với nguyên DD,
chúng ta thể suy ra bộ rằng quá trình DD để tách axit-muối được thực hiện như
sau: dưới ảnh hưởng của gradient nồng độ, các anion axit ưu tiên đi qua vùng hoạt
động của màng thông qua chế nhảy, dẫn đến yêu cầu về tính trung hòa về điện
phía nước. Để đáp ứng u cầu về tính trung hòa điện, các cation (hydro ngậm nước)
rò rỉ qua vùng kẽ của màng. Các quá trình vận chuyển trên khiến quá trình tách diễn ra
liên tục. Đối với hệ thống có CEM để thu hồi kiềm, nguyên lý tương tự như axit.
4 | P a g e
1.3. Thiết lập thử nghiệm
Quá trình DD thể được thực hiện thông qua hai loại chạy: một thẩm tách
theo mẻ và một là thẩm tách liên tục như thể hiện trong Hình 3(a) và (b):
Trong thẩm tách theo mẻ (Hình 3(a)), một ô hai ngăn thể tích bằng nhau
được tách ra bằng một IEM. Hai ngăn được đổ đầy dung dịch cấp nước tương ứng,
khuấy với tốc độ giống hệt nhau để giảm thiểu sự phân cực nồng độ. Các đặc tính
vận chuyển được xác định từ sự phụ thuộc thời gian của nồng độ thành phần trong cả
hai ngăn. Thẩm tách theo mẻ chủ yếu được sử dụng cho nghiên cứu thử nghiệm trong
phòng thí nghiệm, chẳng hạn như xác định độ khuếch tán axit hệ số tách, thể
được coi là cơ sở của thẩm tách liên tục.
Trong quá trình thẩm phân liên tục, hãy lấy quy trình thu hồi axit làm dụ
(Hình 3(b)), bộ thẩm phân khuếch tán được tách ra bằng một số IEM thành các ô thẩm
phân các ô khuếch tán, qua đó nước cấp nước tách lần lượt đi qua theo hướng
ngược dòng. Các đặc tính vận chuyển được tính toán từ nồng độ lưu lượng chất
lỏng theo thể tích (hoặc khối lượng) của các luồng chất lỏng đi vào và ra khỏi bộ thẩm
phân trạng thái ổn định. Dữ liệu thu được trong quá trình thẩm phân liên tục thể
giá trị hơn để tham khảo thực tế, các điều kiện thử nghiệm giống với các điều
kiện trong đơn vị thẩm phân thực tế hơn.
5 | P a g e