SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Trường THPT Nam Hà
Mã số: ...........
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ DÂN GIAN LỚP 10
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ TI NA
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: .....VĂN....
- Lĩnh vực khác: ..............................................
Hiện vật khác
Có đính kèm: Mô hình Phần mềm Phim ảnh
Năm học: 2014 – 2015
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: NGUYỄN THỊ TI NA
2. Ngày tháng năm sinh: 15 / 09 / 1978
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: 57 A1, Tổ 9, Khu phố 1, TP Biên Hòa, T Đồng Nai
5. Điện thoại: 0918445466
6. Fax: E-mail: dntina78@yahoo.com
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Nam Hà
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sĩ
- Năm nhận bằng: 2014
- Chuyên ngành đào tạo: Văn học Việt Nam.
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy.
Số năm có kinh nghiệm: 14 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+ “ Vận dụng trò chơi trong giảng dạy phân môn Tiếng Việt”
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GD &ĐT : Giáo dục và đào tạo
GV
: giáo viên
HS
: học sinh
LL&PPDH : lý luận và phương pháp dạy học
PPDHTC
: phương pháp dạy học tích cực
PP
: phương pháp
KTDH
: kỹ thuật dạy học
SGK
: sách giáo khoa
SGV
: sách giáo viên
THPT
: trung học phổ thông
MỤC LỤC
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ......................................................................................... 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ................................................................... 2
I. Cơ sở lý luận ......................................................................................................... 2
II. Cơ sở thực tiễn .................................................................................................... .2
1. Thuận lợi ........................................................................................................ 2
2. Khó khăn ....................................................................................................... .3
TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP ..................................................... .3
I. Đôi nét về trường THPT Nam Hà và thực trạng ứng dụng các phương pháp, kỹ
thuật dạy học tích cực ở trường THPT Nam Hà ..................................................... .3
1. Trường THPT Nam Hà ....................................................................................... .3
2. Thực trạng ứng dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy học
ở trường THPT Nam Hà .......................................................................................... .4
II. Tổ chức thực hiện giải pháp .............................................................................. ..5
1. Giới thiệu một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực có thể ứng dụng
trong dạy học đọc hiểu văn bản tự sự dân gian lớp 10 ........................................... .5
1.1.Giới thiệu một số phương pháp dạy học tích cực ứng dụng trong dạy đọc hiểu
văn bản tự sự dân gian lớp 10……………………………………………………...5
1.1.1. Phương pháp vấn đáp .................................................................................... .5
1.1.2. Phương pháp thảo luận nhóm ........................................................................ .7
1.1.3. Phương pháp đóng vai ................................................................................... .9
1.2.Giới thiệu một số kỹ thuật dạy học tích cực ứng dụng trong dạy đọc hiểu văn
bản tự sự dân gian lớp 10…………………………………………………………11
1.2.1. Kỹ thuật các mảnh ghép ........................................................................... ....11
1.2.2. Kỹ thuật lược đồ tư duy .............................................................................. .12
1.2.3. Kỹ thuật khăn trải bàn ................................................................................. .12
2. Giáo án thực nghiệm ......................................................................................... .14
HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI .................................................................................. .21
ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG ........................................... .24
I. Bài học kinh nghiệm .......................................................................................... .24
II. Những kiến nghị sau khi thực hiện đề tài ......................................................... .24
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 25
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 26
ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ DÂN GIAN LỚP 10
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy và học là mục tiêu
phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và việc thực hiện giảm tải chương trình do
Bộ GD và ĐT đề ra. Đặc biệt là phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực”, thực hành thi, kiểm tra, đánh giá theo hướng khuyến
khích tinh thần tự học và ý thức sáng tạo của HS. Xuất phát từ mục tiêu trên, giáo
viên (GV) phải có sự thay đổi từ lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học
theo “Phương pháp dạy học tích cực” (PPDHTC) với các kỹ thuật dạy học tích cực
nhằm giúp học sinh phát huy tính tự giác, chủ động, sáng tạo. Từ đó rèn luyện thói
quen và kĩ năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những
tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; đồng thời tạo cho học sinh
(HS) niềm vui và sự hứng thú trong học tập.
Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa
hoạt động nhận thức của người học, tức là tập trung vào việc phát huy tính tích cực
của người học chứ không phải là phát huy tính tích cực của người dạy. Vì thế,
nhiều phương pháp và kỹ thuật giảng dạy tích cực được đưa vào ứng dụng trong
hoạt động dạy học nói chung, trong giờ giảng văn nói riêng. Tuy nhiên, để dạy học
theo phương pháp tích cực thì người thầy phải nỗ lực nhiều so với dạy
theo phương pháp thụ động. Hơn nữa, đo đặc thù của phân môn: tác phẩm văn
chương là một bức tranh phản ánh đầy đủ và sinh động hiện thực cuộc sống. Do
đó, khi tiếp xúc với tác phẩm mỗi cá nhân sẽ có một cách cảm nhận riêng. Trong
giờ giảng văn, muốn phát huy hết năng lực tư duy, khả năng tìm tòi phát hiện cảm
nhận theo những suy nghĩ riêng của HS, người dạy phải linh hoạt vận dụng nhiều
phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp với từng giờ dạy cụ thể.
Qua tìm hiểu thực tế giảng dạy ở nhà trường nơi tôi đang công tác và một số
trường THPT lân cận, tôi thấy rằng cách áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy
học tích cực trong giờ dạy tác phẩm văn chương đã đem đến một số hiệu quả song
vẫn còn tồn tại vài hạn chế như: giáo viên quá ham kiến thức nên không đủ thời
gian ứng dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực, hoặc nếu có thì việc
ứng dụng ít ỏi không tương ứng với phần thuyết trình. Từ thực tế trên, trong phạm
vi bài viết này, tôi xin trao đổi cùng đồng nghiệp về một số kinh nghệm trong việc
“Ứng dụng một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy đọc
hiểu văn bản tự sự dân gian lớp 10 ”. Ở đây, tôi không có tham vọng bao quát cả
miền rộng lớn của văn học dân gian mà chỉ đi vào ứng dụng một số phương pháp
và kỹ thuật dạy học tích cực trong ba văn bản cụ thể: “Chiến thắng Mtao –
Mxây”, “Truyện An Dương Vương – Mị Châu – Trọng Thuỷ” và “Tấm Cám”.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I. Cơ sở lý luận
1. Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII phân tích và nhận
định sâu sắc thực trạng phương pháp giảng dạy ở nước ta thời gian qua còn chậm
đổi mới, chưa phát huy được khả năng sáng tạo của người học và yêu cầu đổi mới
mạnh mẽ phương pháp giáo dục đoà tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện thành lối tư duy sáng tạo ở người học.
2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
(12 - 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong
các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999). Luật
Giáo dục, điều 28, khoản 2, 2005 chỉ rõ: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh". [1, 17]
II. Cơ sở thực tiễn: 1. Thuận lợi:
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy, trong quá trình thực hiện chuyên đề tôi đã có một
số thuận lợi sau:
- Trường có cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học tương đối đầy đủ. Và đặc biệt
là sự chỉ đạo tổ chức hướng dẫn sâu sắc của Sở giáo dục, tôi luôn có điều kiện nắm
bắt các chuyên đề.
- Sở giáo dục và đào tạo Đồng Nai thường xuyên tổ chức các chuyên đề văn học,
các lớp tập huấn thay sách, ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, đặc biệt
là đổi mới phương pháp dạy và học …
- Được sự hướng dẫn, đóng góp ý kiến nhiệt tình của quý Thầy, cô trong tổ chuyên
môn.
- Tài liệu, sách, báo viết về việc đổi mới phương pháp dạy học khá phong phú, đa
dạng.
- Đối tượng học hiện nay cũng có nhiều điều kiện để tự chủ trong việc tiếp cận một
tác phẩm văn học.
2. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi đó trong quá trình giảng dạy tôi cũng gặp không ít khó
khăn trong việc ứng dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực.
- Do ảnh hưởng khá lâu của phương pháp dạy học cũ nên giáo viên thường áp đặt,
gò ép HS theo khuôn mẫu, lấy người dạy làm trung tâm, nên không phát huy được
khả năng tư duy của các em. Cách dạy cũ chưa khơi dậy được năng lực họat động
của HS, chưa tạo cơ hội để các em tự tin mạnh dạn, tìm tòi khám phá văn bản.
- Hiện tượng ít tập trung suy nghĩ, tìm tòi ở HS vẫn chưa được khắc phục hoàn
toàn trong giờ dạy của GV tren lớp và cách học của HS.
- Thị trường sách hiện nay in ấn nhiều, giảng giải cụ thể tác phẩm, HS mua về chép
lại một cách máy móc mà không cần suy nghĩ, sáng tạo dẫn đến tình trạng hổng
kiến thức.
- Dung lượng kiến thức ở một tác phẩm nhiều nhưng phân phối chương trình của
Bộ giáo dục cho rất ít thời gian.
- Do cách biệt về mặt thời gian và không gian nên việc tìm hiểu các văn bản tự sự
dân gian của HS cũng có phần khó khăn.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
I. Vài nét về trường THPT Nam Hà và thực trạng ứng dụng các
phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực ở trường THPT Nam Hà
1. Trường THPT Nam Hà:
Thành lập năm 1970 trên vùng đất mang tên Cù Lao Phố thuộc địa bàn xã
Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, trường được mang tên: Trung học
Tỉnh hạt Hiệp Hòa – Biên Hòa. Đến năm học 1975 – 1976, trường được đổi tên
thành trường cấp 2-3 Hiệp Hòa. Năm học 1976-1977, do tỉnh Đồng Nai kết nghĩa
với tỉnh Hà Nam Ninh nên trường một lần nữa được đổi tên thành trường THPT
Nam Hà theo quyết định số 3614/QĐ.CT-UB của chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
Đồng Nai. Năm 2001, trường được Tỉnh đầu tư xây dựng mới hoàn toàn.
Đội ngũ GV, công nhân viên luôn đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm cao
trong công việc, luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ đúng thời gian, kỳ hạn. Hội cha mẹ
HS cũng luôn quan tâm, sát cánh cùng Ban giám hiệu nhà trường để kịp thời giúp
đỡ và tạo điều kiện về vật chất lẫn tinh thần cho các em HS để giúp các em học tốt.
GV văn của trường có chuyên môn, nghiệp vụ tốt, nhiệt tình trong công tác,
luôn quan tâm đến HS, có ý thức giáo dục HS trở thành công dân tốt, có ích cho xã
hội . Hàng năm, GV được tham gia học chuyên đề thay sách, bồi dưỡng chính trị,
tập huấn bồi dưỡng các PPDH tích cực, chuyên đề tích hợp các kiến thức môi
trường, giao thông, giáo dục giới tính, bồi dưỡng các phần mềm soạn giảng giáo án
điện tử do nhà trường và Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức.
Tất cả những yếu tố ấy đã tạo điều kiện để GV nâng cao chuyên môn,
nghiệp vụ, có điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện đổi mới PPDH và ứng
dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao kết quả giảng
dạy.
2. Thực trạng của việc ứng dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích
cực trong dạy học ở trường THPT Nam Hà
Đa số giáo viên giảng dạy ở trường đều luôn có ý thức đổi mới phương pháp
dạy học, biết sử dụng các phương pháp dạy học tích cực bên cạnh các PPDH
truyền thống, đã biết cách phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh, trong đó, GV đóng vai trò là người hướng dẫn, còn HS là chủ thể chiếm lĩnh
tri thức một cách sáng tạo.
Trong quá trình dạy học, GV đã biết vận dụng các PPDH tích cực phù hợp
với tiết học, bài học và đối tượng HS, đồng thời, tiến hành đổi mới kiểm tra, đánh
giá HS nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Văn ở trường, tạo sự say mê,
yêu thích học tập bộ môn cho HS.
Bên cạnh những thuận lợi thì quá trình vận dụng các PPDH tích cực trong
giảng dạy môn Văn ở trường THPT Nam Hà còn gặp phải nhiều khó khăn: hạn
định về thời gian của tiết học và dung lượng kiến thức ở mỗi tiết học, không gian
lớp học nhỏ, số lượng HS tương đối đông dẫn đến tình trạng GV ngại ứng dụng PP
và KTDH tích cực hoặc ứng dụng chiếu lệ. Trong quá trình giảng dạy, ở một số bài
học, tiết học mặc dù không nhiều song vẫn còn tồn tại tình trạng GV chưa nhận
thức đầy đủ về PPDH mới, chưa hiểu thấu đáo bản chất của các PPDH tích cực nên
khi vận dụng vào bài giảng, GV không tránh khỏi sự lúng túng, khó triển khai, khả
năng kết hợp PPDH với nhau chưa nhuần nhuyễn.
II. Tổ chức thực hiện giải pháp
1. Ứng dụng một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy đọc
hiểu văn bản tự sự dân gian lớp 10.
1.1.Giới thiệu một số phương pháp dạy học tích cực ứng dụng trong dạy đọc
hiểu văn bản tự sự dân gian lớp 10
1. 1.1. Phương pháp vấn đáp:
Là biện pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời , hoặc học
sinh có thể bàn cãi với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội nội dung
bài học. Căn cứ vào thuộc tính của hoạt động nhận thức, có các loại phương pháp
vấn đáp:
- Vấn đáp tái hiện: GV đặt câu hỏi để yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã
biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Vấn đáp tái hiện không được
xem là phương pháp hữu dụng của sư phạm. Đó chỉ là phương pháp được dùng khi
cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học với các kiến thức đã biết.
Ví dụ: Ở văn bản Chiến Thắng Mtao – Mxây, tôi sẽ tổ chức để học sinh tìm
hiểu những nét chung của văn bản qua các câu hỏi mang tính tái hiện:
* Đoạn trích kể về đề tài gì? Nêu những sự kiện chính của sử thi Đăm Săn.
* Vị trí đoạn trích? Đoạn trích chia làm những phần nhỏ nào? Nội dung
chính của từng đoạn.
Với những câu hỏi này, HS có thể dựa vào văn bản và tái hiện. Từ cơ sở
trên, GV tiếp tục sử dụng PP vấn đáp giải thích – minh hoạ để hướng dẫn HS tư
duy cao hơn.
- Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục tiêu làm sáng tỏ một đề tài nào
đó, GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh
dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có công hiệu khi có sự tương trợ của các
phương tiện nghe – nhìn. Tiếp tục với ví dụ trên, để làm rõ vẻ đẹp hình tượng nhân
vật Đăm Săn, GV yêu cầu học sinh giải thích minh hoạ
* Trong trận đánh với Mtao – Mxây, tù trưởng Đăm Săn được kể tả qua
những chặng đường nào?
* Sự đối lập giữa Đăm Săn và Mtao – Mxây được thể hiện như thế nào?
(Cảnh múa khiên của Đăm Săn và Mtao – Mxây )
* Qua lời nói và hành động của Mtao – Mxây, em thấy hắn là một tù trưởng
như thế nào?
- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic ): giáo viên dùng một hệ thống câu
hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện thực chất vấn đề
đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. Trong trường hợp này, GV chỉ là
người tổ chức hoạt động còn HS chính là người tự lực phát hiện kiến thức. Do đó,
HS sẽ có sự hứng thú và trưởng thành về trình độ tư duy. Vẫn với ví dụ trên, GV
tiếp tục hướng dẫn học sinh khám phá ý nghĩa các chi tiết và sự kiện.
* Chi tiết ông trời mách nước cho Đăm Săn thể hiện điều gì?
* Nhận xét về cuộc chiến đấu và chiến thắng của Đăm Săn (Cuộc chiến có
gây cảm giác ghê rợn không? Sau khi giết Mtao – Mxây, Đăm Săn có giết tôi tớ,
đốt nhà của Mtao – Mxây không? Chàng chiến đấu vì mục đích gì?)
* Trong tiệc mừng chiến thắng, những chi tiết, hình ảnh nào dùng để miêu tả
sức mạnh và vẻ đẹp của Đăm Săn, qua những chi tiết ấy, tác giả dân gian muốn
thể hiện điều gì?
* Những tình tiết nào trong đoạn trích chứng tỏ cuộc chiến đấu của Đăn Săn
tuy có mục đích riêng nhưng lại có ý nghĩa và tầm quan trọng đối với lợi ích của
toàn thể cộng đồng?
* Qua đoạn trích, những đặc trưng nghệ thuật của sử thi được thể hiện như
thế nào?
Ưu điểm
Với phương pháp vấn đáp, tôi nhận thấy phương pháp đã khắc phục được
điểm yếu của phương pháp thuyết trình nhờ có sự tương tác giữa GV và HS thông
qua việc truyền thụ và lĩnh hội. Việc cùng tham gia giải quyết các vấn đề giữa GV
và HS đã khắc phục được lối truyền thụ một chiều của phương pháp thuyết trình.
Đồng thời khi ứng dụng phương pháp này, GV kích thích được sự năng
động và sáng tạo của HS nhờ quá trình tự lực tìm ra bản chất vấn đề dưới sự gợi ý,
hướng dẫn của mình. Qua đó, GV dễ dàng đánh giá được năng lực nhận thức và
mức độ tiếp thu tri thức của HS để có cách điều chỉnh PPDH cho phù hợp.
Ngoài ra, khi ứng dụng phương pháp phát vấn tìm tòi, GV cũng rèn luyện
cho HS một số thao tác tư duy lôgic như: phân tích, tổng hợp, khái quát, chứng
minh, diễn giải...
Nhược điểm
Phương pháp này phụ thuộc nhiều vào năng lực và thái độ của HS. Bên cạnh
đó, việc nảy sinh nhiều tình huống ngẫu nhiên trong quá trình đàm thoại dể gây
chệch hướng so với chủ đề ban đầu. Sử dụng phương pháp này sẽ mất nhiều thời
gian xây dựng hệ thống câu hỏi, nhất là trong vấn đáp tìm tòi. Quá trình sử dụng
phương pháp này có thể bị biến thành cuộc tranh luận tay đôi giữa GV và một số
HS.
1.1.2. Phương pháp thảo luận nhóm
Khi tiến hành phương pháp này, lớp học sẽ được chia thành từng nhóm nhỏ
từ 4 đến 6 người. Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Các thành viên trong
nhóm có thể phân chia một phần việc. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp
vào kết quả học tập chung của cả lớp. Sau đó, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc
phân việc mỗi thành viên trình bày một phần vấn đề nếu nhiệm vụ giao cho nhóm
là phức tạp (có thể kết hợp với kĩ thuật khăn trải bàn và kỹ thuật động não). Thành
công của bài học phụ thuộc vào sự nồng nhiệt tham gia của tất cả các thành viên, vì
vậy phương pháp này còn làm gọi là phương pháp cùng tham gia. Tuy nhiên, khi
ứng dụng phương pháp này GV thường gặp phải một số hạn chế nhất định như
không gian nhỏ của lớp học, thời gian hạn định của tiết học. Vì thế, giáo viên phải
biết tổ chức hợp lý và học trò đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả.
Ví dụ: Để HS nắm được những sự kiện chính ở văn bản Tấm Cám, tôi phân
các em thành tám nhóm và tổ chức cuộc thi nhỏ với tên gọi “nhóm nào nhanh
hơn”. Với các yêu cầu:
* Trong vòng 1 phút hãy sắp xếp lại các bức tranh cho sẵn theo đúng diễn
biến cốt truyện.
Bên cạnh đó khi muốn kiểm tra quá trình nhận thức, tình cảm của các em đối
với vấn đề đặt ra trong văn bản thông qua hành động trả thù của Tấm, tôi cũng sử
dụng phương pháp này bằng cách đặt câu hỏi để các em thảo luận và trình bày suy
nghĩ của mình.
* Em có suy nghĩ gì về hành động trả thù của Tấm? Tại sao Tấm trả thù?
Hành động như thế có độc ác không? Thử so sánh với cách kết thúc của truyện
Thạch Sanh và Sọ Dừa?
Ưu điểm
Trong số PPDH đang được sử dụng, phương pháp thảo luận nhóm có nhiều
ưu thế trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục mới hiện nay.
Kiến thức mà HS thu nhận được không chỉ là kết quả của hoạt động riêng
biệt của cá nhân mà thu nhận được thông qua quá trình cọ xát hợp tác, vì thế kiến
thức của HS sẽ giảm bớt tính chủ quan, phiến diện và tăng tính khách quan khoa
học.
Kiến thức trở nên sâu sắc bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh do được giao lưu,
học hỏi giữa các thành viên trong nhóm.
Giúp HS phát triển năng lực giao tiếp thông qua sự cộng tác làm việc trong
nhóm, giúp HS phát triển năng lực giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và phê
phán ý kiến của người khác, biết trình bày và bảo vệ ý kiến của mình trong nhóm.
Tăng cường sự tự tin cho HS. HS được liên kết với nhau qua giao tiếp xã hội
khiến các em sẽ mạnh dạn hơn và ít sợ mắc sai lầm.
Nhược điểm
Tuy nhiên, tôi nhận thấy khi ứng dụng phương pháp thảo luận nhóm đòi hỏi
nhiều thời gian. Thời gian 45 phút của một tiết học cũng là trở ngại gây khó khăn
trên con đường đạt được thành công cho công việc nhóm.
Thảo luận nhóm nhưng chưa được luyện tập sẽ dễ gây ra hỗn loạn. Thí dụ có
thể xảy ra trường hợp một HS phụ trách nhóm theo kiểu độc đoán, các thành viên
trong nhóm không làm bài mà quan tâm đến vấn đề khác. Giữa các nhóm có thể
phát sinh sự đối địch và giận dữ.
Sự thụ động hoặc hăng hái quá mức của các nhóm sẽ gây khó khăn cho sự
điều khiển của GV.
1.1.3. Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học trò thực hành một số cách ứng xử
nào đó trong một tình huống giả định.
Khi tiến hành phương pháp này, giáo viên sẽ chia nhóm, tình huống đóng
vai cho từng nhóm, quy định rõ thời gian chuẩn bị và thời gian đóng vai. Học sinh
sẽ tiến hành vai diễn.
Sau khi các em hoàn tất, giáo viên hỏi học sinh đóng vai và kết luận về cách
ứng xử phù hợp trong tình huống giả định trên.
(GV cũng có thể cho HS phát biểu ý kiến cá nhân với tình huống giả định
mình là một nhân vật trong tác phẩm).
Ví dụ: Khi dạy văn bản Chiến thắng Mtao – Mxây, tôi cho sẽ chia lớp làm
hai nhóm, các nhóm sẽ cử đại diện bốc thăm để chọn vai nhân vật chính trong đoạn
trích Đăm Săn và Mtao – Mxây (HS có thời gian chuẩn bị trước ở nhà). Sau khi
các em đã hoàn thành vai diễn, tôi yêu cầu HS trong lớp nhận xét về:
- Cách ứng xử của từng vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp? Chưa phù hợp ở điểm
nào? Vì sao?
Lưu ý: Với phương pháp này, GV nên kiên trì để HS tái hiện hình tượng nhân vật
theo cách cảm nhận và tưởng tượng của các em. GV không tưởng tượng tái hiện
thay HS. Có như vậy mới kích thích trí tưởng tượng của các em, khiến các em nhìn
ra phẩm chất nhân vật mà tác giả dân gian đã khắc hoạ trong văn bản và có thể trải
nghiệm cùng với nhân vật.
Ưu điểm
HS được rèn luyện thực hành kỷ năng ứng xử và bày tỏ thái độ của mình
trong quá trình học tập trên lớp trước khi thực hành trong thực tiễn.
Tạo ra được tâm lý hứng thú và sự chú ý cho HS, tạo điều kiện làm phát
triển óc sáng tạo của HS.
Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HS theo hướng tích cực một cách
tự giác. GV có thể thấy ngay sự tác động có hiệu quả của HS qua vai diễn.
Nhược điểm
Song song đó, phương pháp đóng vai vẫn gặp phải một số hạn chế khi ứng
dụng cụ thể ở các lớp tôi phụ trách như: chỉ có thể tiến hành phương pháp này với
không gian lớp học rộng và HS mạnh dạn trong quá trình tham gia các vai diễn.
Đồng thời, GV sẽ mất nhiều thời gian nếu không có kinh nghiệm tổ chức hoặc HS
quá nhút nhát. Bên cạnh đó, nếu tình huống đóng vai được lặp đi, lặp lại giữa các
nhóm có thể gây nên sự nhàm chán đối với HS.
1.2. Giới thiệu một số kỹ thuật dạy học tích cực ứng dụng trong dạy đọc hiểu
văn bản tự sự dân gian lớp 10
1.2.1. Kĩ thuật “Các mảnh ghép”
Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với nhiều chủ đề nhỏ trong tiết học,
học sinh được chia nhóm ở vòng 1 (chuyên gia) cùng nghiên cứu một chủ đề.
Sau khi các nhóm ở vòng 1 hoàn tất công việc giáo viên hình thành nhóm mới
(mảnh ghép) theo số đã đánh, có thể có nhiều số trong 1 nhóm mới (vòng 2).
C1 C2 Cn Bn B2 B1 An Vòng 1 A 2 A 1
(chuyên
gia)
Bn Cn C1 B2 An A2 C2 A1 B1
Vòng 2
Ví dụ: Dạy văn bản Tấm Cám, GV chia lớp thành 3 nhóm làm việc ở ba
góc.
Nhóm 1: Tìm liệt kê những chi tiết liên quan đến nhân vật tấm? Nhận xét về sự
phát triển của các chi tiết đó. Tại sao Tấm được giúp đỡ? Điều đó thể hiện quan
niệm gì của nhân dân?
Nhóm 2: Tấm hoá thân mấy lần? Những lần nào? Cho biết ý nghĩa các lần hoá
thân của Tấm? Quá trình biến hoá đó thể hiện ước mơ gì của nhân dân ?
Nhóm 3: Truyện Tấm Cám tập trung miêu tả vấn đề gì? Qua diễn biến cốt truyện,
nhận xét về mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám. Bản chất của sự mâu thuẫn và
xung đột đó là gì?
Sau một khoảng thời gian làm việc nhất định, các nhóm sẽ hoán đổi vị trí
theo chiều kim đồng hồ để trải nghiệm các nhiệm vụ. Cuối cùng đại diện các nhóm
sẽ trình bày hiểu biết của mình về cuộc đời và con đường đấu tranh giành lại hạnh
phúc của Tấm.
Nhược điểm
Trong điều kiện phòng học hiện nay việc ghép nhóm vòng 2 sẽ gây mất trật
tự và mất thời gian.
1.2.2. Lược đồ tư duy
Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm mô hình
hoá, sơ đồ hoá các kiến thức cơ bản của bài học.
Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:
- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề hoặc trình bày tổng quan một chủ đề.
Vấn đề liên quan 1 Vấn đề liên quan 4
Chủ đề
Vấn đề liên quan 2 Vấn đề liên quan 3
Ngoài ra cũng có thể ứng dụng kỹ thuật này trong việc nắm đặc diểm nhân
vật. Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như: Tóm
tắt nội dung, ôn tập một chủ đề; Trình bày tổng quan một chủ đề; Chuẩn bị ý tưởng
cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng;Thu thập, sắp xếp các ý tưởng;
Ghi
chép khi nghe bài giảng.
VD. Để tổng kết những kiến thức trọng tâm của văn bản An Dương Vương – Mị
Châu – Trọng Thuỷ hay giúp HS tóm tắt văn bản Tấm Cám tôi hướng dẫn các
thành lập sơ đồ tư duy với các vấn đề như hình vẽ [ Phụ lục, tr.27 - 28]
Ưu điểm:
Khi sử dụng kỹ thuật hỗ trợ này, tôi nhận thấy với hướng tư duy được để mở
ngay từ đầu HS phát huy được khả năng sáng tạo của cá nhân; Mối quan hệ của
các nội dung trong bài học trở nên rõ rang, sinh động vì thế các em có khả năng ghi
nhớ vấn đề trọng tâm nhanh và sâu; Đồng thời kỹ thuật này cũng cho phép các em
có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại nội dung khi cần. Qua đó, giúp HS luyện tập
được khả năng phát triển và sắp xếp các ý tưởng.
1.2.3.Kỹ thuật khăn trải bàn
GV chia lớp thành 5 đến 6 nhóm, mỗi nhóm khoảng 6 HS.
Mỗi nhóm sẽ được phát 1 tờ giấy A0. Mỗi HS trong nhóm sẽ viết ý kiến của
mình vào một góc của tờ giấy, sau đó sẽ thống nhất ý kiến chung ghi vào phần
giữa trang giấy A0 và cử đại diện trình bày.
Kỹ thuật này có thể vận dụng trong đọc hiểu một chi tiết nghệ thuật của văn
bản hoặc nêu chủ đề của tác phẩm
Kỹ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với một chủ đề nhỏ trong tiết
học, toàn thể học sinh cùng nghiên cứu một chủ đề.
Lưu ý: Sau khi các nhóm hoàn tất công việc giáo viên có thể gắn các mẫu
giấy “khăn trải bàn” lên bảng để cả lớp cùng nhận xét. Có thể dùng giấy nhỏ hơn,
dùng máy chiếu phóng lớn. Có thể thay số bằng tên của học sinh để sau đó giáo
viên có thể đánh giá được khả năng nhận thức của từng học sinh về chủ đề được
nêu.
Ví dụ: Vận dụng kĩ thuật này vào dạy một nội dung ở văn bản Tấm Cám khi
tìm hiểu ý nghĩa các hình thức hoá thân của Tấm. GV nêu vấn đề: Tấm đã hoá thân
thành những gì? Ý nghĩa những lần hoá thân ấy.
HS sẽ viết ý kiến cá nhân trước khi thảo luận, thống nhất cách hiểu chung.
Với câu hỏi này, HS có thể cho rằng: Tấm chết, linh hồn hóa thân thành chim vàng
anh, cây xoan đào, khung cửi, rồi cây thị, quả thị. Đây vốn là những vật rất gần
gũi trong cuộc sống của người lao động nơi thôn quê dân dã. Hoặc sẽ có HS đưa
ra ý kiến đánh giá cho từng hình thức hoá thân của Tấm như: Hình ảnh chim vàng
anh là sự hóa thân của một linh hồn trong sáng, hồn hậu, đồng thời cho thấy đã
xuất hiện một cô Tấm không còn yếu đuối, bị động như trước. Cây xoan đào cành
lá xanh tươi xòe bóng che mát cho nhà vua, lòng cây màu hồng như tấm lòng son
mãi không phai qua bao thăng trầm của Tấm. Bị chặt đem đi làm khung cửi, Tấm
trong cây xoan đào lại lên tiếng vạch mặt, tiếp tục tuyên chiến với kẻ thù quyết liệt
hơn. Cây thị mộc mạc, dân dã và thân thiết với người nông dân nơi thôn quê. Quả
thị nhỏ nhắn luôn tỏa ngát hương thơm khiến ai cũng thích. Đó là hóa thân của
tấm lòng thơm thảo của Tấm. Bước ra từ quả thị trở về với cuộc sống bên bà lão
hàng nước. Tấm trở lại đúng là chính mình. Qua mấy kiếp luân hồi, Tấm vẫn vừa
là cô Tấm nết na thảo hiền chịu thương chịu khó thuở nào, lại vừa như được lột
xác để mang một dáng dấp mới, xinh đẹp hơn, tự tin hơn và chủ động hơn trong
cuộc sống của chính mình.
Từ các ý kiến cá nhân, cả nhóm sẽ thống nhất: Tấm hóa thân trong những hình
ảnh giản dị, gần gũi nhưng rất đẹp. Quá trình hóa thân của Tấm là sự thể hiện một
sức sống mãnh liệt, không thể bị tiêu diệt của cái đẹp, cái thiện. Đó là quan niệm,
đồng thời cũng là mơ ước cháy bỏng của nhân dân lao động bao đời nay trong
cuộc đối mặt với cái ác, cái xấu.
Chim vàng anh,
Sức sống mãnh liệt của cái thiện, cái đẹp
Quả thị và trở lại làm người
Cây xoan đào
Khung cửi
Ưu điểm:
Kỹ thuật này giúp cho hoạt động nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều
phải suy nghĩ để đưa ra ý kiến của mình về chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào
các bạn học khá, giỏi.
Ngoài những kỹ thuật và phương pháp dạy học vừa nêu, trong quá trình
giảng dạy, giáo viên có thể sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực
khác như: Suy nghĩ - Cặp đôi - Chia sẻ; Hỏi - Đáp; Tranh luận; Báo cáo, phát
biểu, trình bày một phút; Thuyết trình tích cực; Đặt câu hỏi tích cực; Tóm tắt nội
dung theo nhóm; Viết tương tác; Giải quyết vấn đề theo nhóm; Học sinh phụ đạo
lẫn nhau; Điền khuyết
2.Giáo án thực nghiệm:
Tiết 10, 11
AN DƯƠNG VƯƠNG – MỊ CHÂU – TRỌNG THUỶ
(Truyền thuyết)
I. Mục tiêu bài học:
1. Về kiến thức:
- Nắm được những đặc trưng cơ bản của truyền thuyết
- Thấy được bi kịch nước mất nhà tan và ý thức lịch sử của nhân dân trong tác
phẩm.
- Vai trò của An Dương Vương trong sự nghiệp giữ nước; bi kịch tình yêu của
Mị Châu – Trọng Thuỷ gắn với bi kịch Âu Lạc rơi vào thảm hoạ mất nước cũng
như ý thức lịch sử của nhân dân được phản ánh trong truyền thuyết.
- Một số nét đặc sắc về nghệ thuât: kết cấu chặt chẽ, nhiều chất kì ảo, xây dựng
nhân vật truyền thuyết tiêu biểu.
- Sự kết hợp hài hoà giữa cốt lõi lịch sử và yếu tố hư cấu, tưởng tượng
2. Về kỹ năng:
- Đọc kể diễn cảm truyền thuyết dân gian.
- Phân tích văn bản truyền thuyết theo đặc trưng thể loại
3. Về thái độ:
- Có thái độ đúng đắn với những nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử
- Hình thành ý thức trách nhiệm với đất nước, dân tộc
II. Phương tiện dạy học:
- Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập I
- Sách giáo viên ngữ văn 10 tập I
- Giáo án
III. Phương pháp dạy học:
- Kết hợp các phương pháp kỹ thuật đọc hiểu văn bản: diễn giảng, phát vấn, thảo
luận nhóm, sơ đồ tư duy … để phát huy được tính tích cực, chủ động của HS.
IV. Tiến trình lên lớp
1.Ổn định tổ chức
2. Kiểm tra bài cũ
3. Giới thiệu bài mới
Ở tiết học trước, chúng ta đã làm quen với thể loại sử thi. Hôm nay, chúng ta sẽ
tiếp tục với thể loại truyền thuyết qua văn bản An Dương Vương – Mị Châu –
Trọng Thuỷ. Xưa nay, khi có được chiến thắng một cách dễ dàng thường khiến con
người lơ là, chủ quan. Thất bại nhục nhã thường khiến kẻ thù nảy ra mưu sâu, kế
độc. Truyền thuyết An Dương Vương – Mị Châu – Trọng Thuỷ đã để lại những bài
học vô giá về quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông.
4. Giảng bài mới
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG
Phương pháp vấn đáp – thuyết trình Tìm hiểu chung về thể loại truyền thuyết 1. Khái niệm của truyền thuyết? 1. Đặc trưng của truyền thuyết là gì? 3.Truyền thuyết có giá trị và I. Tìm hiểu chung 1. Truyền thuyết - Định nghĩa: sgk - Đặc trưng: + Đề tài: lấy từ lịch sử, thường là những vấn đề có tính chất trọng đại + Sử dụng nhiêu yếu tố tưởng tượng, hư cấu + Nhân vật được xây dựng hết sức đơn giản + Cốt truyện đơn giản, ít tình tiết, được tổ chức theo hướng thắt nút, mở nút + Gắn với lễ hội dân gian, phong tục, các di tích lịch sử… - Giá trị: Phản ánh và lí giải các
ý nghĩa như thế nào trong đời sống dân tộc? Cho HS liệt kê một vài truyền thuyết đã biết hoặc đã học Cho biết xuất xứ và nội dung của văn bản? GV giới thiệu một số hình ảnh về cụm di tích Cổ Loa Thành Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản HS kể lại câu chuyện kết hợp diễn minh hoạ Phương pháp vấn đáp – HS hoạt động cá nhân Yêu cầu học sinh tóm tắt tác phẩm. Theo em vấn đề văn bản muốn thể hiện là gì? GV hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản Vấn đáp – hoạt động cá nhân (Sử dụng phiếu học tập) Công cuộc dựng nước Yếu tố thần kì
Bài học thành công
Thái độ của nhân dân
Trong phần 1 của văn bản, An Dương Vương đã làm công việc gì? Kết quả ra sao? Do đâu mà An Dương Vương thành công trong việc xây thành và chiến thắng Triệu Đà? Qua đó, cho thấy An Dương Vương có những phẩm chất như thế nào? Vấn đáp- nêu vấn đề Hình ảnh thần Kim Quy và nỏ thần có ý nghĩa gì? Học sinh thảo luận nhóm (thời gian 3 phút) Vì sao An dương Vương nhanh chóng thất bại? Sự mất cảnh giác của nhà vua được biểu hiện ở những chi tiết nào? nhân vật, sự kiện lịch sử, có ảnh hưởng to lớn đến đời sống cộng đồng, gắn với truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc 2. Văn bản a. Xuất xứ Trích từ “Truyện Rùa Vàng” trong “ Lĩnh Nam chích quái”, bộ sưu tập truyện dân gian ra đời vào cuối TK XV. b. Nội dung: kể về quá trình xây thành chế nỏ của ADV dưới sự giúp sức của rùa vàng, nguyên nhân mất nước Âu Lạc II. Đọc - hiểu văn bản 1. Nhân vật An Dương Vương a. Công cuộc dựng nước của An Dương Vương Công cuộc dựng nước: Xây thành, chế nỏ, chống ngoại xâm Bài học thành công: Quyết sách sáng suốt, bản lĩnh vững vàng, kiên trì vượt khó, có lòng yêu nước, có ý thức trách nhiệm với nhân dân, dựa vào sự giúp đỡ của thần linh Yếu tố thần kì: rùa vàng, nỏ thần -> Khẳng định việc làm của ADV là chính nghĩa, được lòng trời, hợp lòng dân Thái độ của nhân dân: ca ngợi ngưỡng mộ, tự hào về vị vua sáng suốt có tấm lòng yêu nước, có tinh thần trách nhiệm. b. Bi kịch nước mất - nhà tan - Chấp nhận lời cầu hòa, gả con gái, còn cho TT- con trai kẻ thù - ở rể ngay trong Loa Thành -> không nhận thấy bản chất ngoan cố của kẻ thù, mở đường cho con trai đối phương làm nội gián - Lúc giặc đến chân thành: vẫn mải chơi cờ, cười nhạo kẻ thù -> ỷ lại
vào vũ khí mà không đề phòng, xem thường địch - Kết quả: thất bại, bỏ chạy, giết con, sự nghiệp tiêu vong ->Vua- có trách nhiệm cao đối với vận mệnh đất nước nhưng mất cảnh giác, rơi vào bi kịch: nước mất nhà tan
Chi tiết:
Qua chi tiết nhà vua chém đầu con gái rồi theo gót Rùa vàng xuống biển, nhân dân thể hiện thái độ như thế nào đối với nhân vật lịch sử ADV và việc mất nước? GV liên hệ, so sánh: - Thánh Gióng: bay về trời (ngẩng mặt lên mới nhìn thấy) -> Rực rỡ, hoành tráng vì nhân vật không mắc phải sai lầm, thất bại - An Dương Vương: cúi xuống sâu thẳm mới nhận ra -> Không rực rỡ, hoành tráng vì đã để mất nước. Phương pháp nêu vấn đề + kỹ thuật động não, khăn trải bàn. Quan điểm, tình cảm của nhân dân đối với từng nhân vật? Theo em Mi Châu là người như thế nào? GV sử dụng phiếu học tập Yêu cầu HS điền nhanh vào phiếu học tập
Số phận học
Bài lịch sử Thái độ của nhân dân
- ADV tự tay chém đầu con gái: hành động quyết liệt, dứt khoát đứng về phía công lí và quyền lợi của dân tộc, cũng là sự thức tỉnh muộn màng của nhà vua -> mang tính bi kịch - ADV cầm sừng tê bảy tấc rồi theo gót Rùa vàng xuống biển ->huyền thoại hoá, bất tử hoá người anh hùng 2. Nhân vật Mị Châu - Trọng Thuỷ a. Mị Châu Sự mất cảnh giác của Mị Châu - Lén đưa cho Trọng Thuỷ xem nỏ thần -> vô tình làm lộ bí mật quốc gia - Nghe lời chồng rứt áo lông ngỗng đánh dấu chỉ đường cho giặc đuổi theo -> nhẹ dạ, cả tin, đặt tình cảm vợ chồng lên trên lợi ích quốc gia Kết cục của Mị Châu - Bị Rùa Vàng kết tội là giặc và bị vua cha chém đầu -> Nhân dân muốn phê phán Mị Châu – bằng bản án tử hình – vì những lỗi lầm gây tổn hại cho đất nước -> Xuất phát từ truyền thống yêu nước, thiết tha đối với độc lập, tự do của dân ta. - Trước khi chết, Mị Châu nói lên lời nguyền: “nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha… nhục thù” -> mắc tội không do chủ ý mà chỉ do vô tình, ngây thơ, nhẹ dạ Câu hỏi gợi ý: Số phận của Mị Châu như thế nào?
- Sau khi chết, máu thành ngọc trai, xác thành ngọc thạch (hoá thân không trọn vẹn – phân thân) -> Lời nguyện của nàng được linh ứng -> Sự bao dung, cảm thông của nhân dân đối với sự trong trắng, thơ ngây của Mị Châu khi phạm tội một cách vô tình. Lời nhắn nhủ cho thế hệ sau: Cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa “tình nhà” với “nợ nước”, giữa cái riêng và cái chung. b.Trọng Thủy Giai đoạn đầu
Lời nguyền của Mị Châu trước khi chết thể hiện điều gì? Qua chi tiết hư cấu “máu Mị Châu sau khi chết biến thành hạt châu, xác hoá thành ngọc thạch”, nhân dân ta muốn thể hiện điều gì? Qua nhân vật Mị Châu, nhân dân ta muốn nhắn gởi điều gì đến thế hệ trẻ mai sau? Ở phần đầu của truyện, Trọng Thủy là con người như thế nào? Trọng Thuỷ đóng vai trò gì trong việc mất nước Âu Lạc và cái chết của cha con An Dương Vương?
- Lợi dụng sự ngây thơ của Mị Châu đã đánh tráo lẫy nỏ thần theo âm mưu của cha mình - Tấn công nước Âu Lạc và đuổi theo cha con An Dương Vương -> Là tên gián điệp nguy hiểm, kẻ thù của dân tộc, trực tiếp gây ra bi kịch mất nước và cái chết của hai cha con An Dương Vương. Sau khi Mị Châu chết - Ôm xác vợ khóc lóc thương nhớ - Lao đầu xuống giếng tự tử -> Tình cảm với vợ thực sự xuất hiện, nhưng đã quá muộn . => Là nạn nhân của của chiến tranh xâm lược phi nghĩa Hình ảnh ngọc trai – giếng nước: - Là hình ảnh có giá trị nghệ thuật,
Khi nàng Mị Châu đã chết, Trọng Thủy có những thái độ và hành động như thế nào? GV cho HS thảo luận nhóm Có ý kiến cho rằng hình ảnh ngọc trai – giếng nước là biểu tượng cho tình yêu chung thuỷ, ý kiến của em như thế nào? Chi tiết ngọc trai đem rửa nước giếng lại càng sáng đẹp hơn cần được hiểu như thế nào?
- Hình ảnh ngọc trai: phù hợp với lời ước nguyện của Mị Châu -> chứng minh cho tấm lòng trong sáng của nàng
- Chi tiết nước giếng có hồn Trọng Thuỷ -> là chứng nhận cho sự hối hận và ước
muốn hoá giải tội lỗi của Trọng Thuỷ
- Chi tiết ngọc trai đem rửa nước giếng lại thẩm mĩ cao. => Sự phán xét thấu lí đạt tình, vừa nghiêm khắc vừa nhân ái của nhân dân
càng sáng đẹp hơn
->Trọng Thuỷ đã tìm được sự hoá giải của
(rộng lòng tha thứ cho những người vô tình phạm tội như Mị Châu hay những kẻ biết ăn năn hối hận như Trọng Thuỷ) 3. Nghệ thuật - Kết cấu chặt chẽ - Xây dựng nhân vật chứa đầy mâu thuẫn - Xây dựng chi tiết cô đọng, hàm súc, ý nghĩa - Nhiều hư cấu nghệ thuật III. Tổng kết
Mị Châu ở thế giới bên kia. Với hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” này, nhân dân ta đã thể hiện cách phán xét ntn? Nêu khái quát giá trị nghệ thuật của văn bản Kỹ thuật sơ đồ tư duy Tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản
An Dương Vương – Mị Châu – Trọng Thuỷ
Cốt lõi lịch sử Chi tiết kỳ ảo
Bài học lịch sử Thái độ của nhân dân
2. Củng cố: Câu hỏi chuẩn bị
- Có ý kiến cho rằng truyền thuyết này là - Đọc và trả lời các câu hỏi trong
một tiếng nói ca ngợi tình yêu và phản ngữ liệu 1 của bài học.
kháng chiến tranh. Quan điểm của em như - Từ việc tìm hiểu ngữ liệu trên, hãy
thế nào? cho biết hình thành ý tưởng và dự
- An Dương Vương đã tự tay chém đầu con kiến cốt truyện là ta tiến hành
gái duy nhất của mình nhưng dân gian lại những công việc nào?
dựng đền thờ hai cha con ngay cạnh nhau, - Cho biết cách lập dàn ý cho một
cách xử lý ấy nói lên điều gì trong đạo lý bài văn tự sự
truyền thống của dân tộc? - Thử lập dàn ý cho phần tiếp theo
- So sánh cách kết thúc trong truyện và kết tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố
thúc khác: Trọng Thuỷ không tự vẫn, khi theo gợi ý của SGK (2 câu chuyện
ngó xuống giếng bị oan hồn Mị Châu kéo khác nhau)?
xuống và dìm chết, cách kết thúc nào hợp lý
hơn?
Trong giáo án thực nghiệm, GV đã sử dụng những PP: đàm thoại, nêu vấn
đề, thảo luận nhóm kết hợp với một số kỹ thuật như: lược đồ tư duy, khăn trải bàn,
phiếu học tập... để hướng HS nắm vững những tri thức trọng tâm. Việc sử dụng các
phương pháp này cho thấy, cùng thời lượng tiết học như nhau, nhưng nếu GV vận
dụng hợp lí PP và KTDH tích cực thì sẽ tổ chức được nhiều hoạt động cho HS,
đồng thời tạo được sự hứng thú, ham muốn học tập của HS. PP tình huống kết hợp
với thảo luận nhóm, vấn đáp... giúp HS hình dung ra những quan hệ xã hội, quan
hệ giữa riêng và chung, từ đó đặt mình vào những tình huống cụ thể để có cách
ứng xử phù hợp với lợi ích cộng đồng. Việc kết hợp nhuần nhuyễn các PP và
KTDH tích cực không chỉ đem lại cho các em quá trình lĩnh hội tri thức một cách
chủ động mà còn góp phần hình thành kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm, kỹ năng
giải quyết vấn đề và rèn luyện tính tự học, phát huy được tiềm năng sáng tạo từ
HS.
HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Qua thực tế giảng dạy các tác phẩm thuộc dòng văn học dân gian và đăc
biệt là các tác phẩm tự sự dân gian ở hai lớp 10c6 và 10c9 (năm học 2014 – 2015),
khi vận dụng những phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực như trên, tôi nhận
thấy HS rất hứng thú trong giờ học. Hoạt động sáng tạo của HS được phát huy, giờ
học vì thế trở nên sinh động, hấp dẫn các em hơn. Qua bài học, các em không chỉ
cảm nhận được một cách đầy đủ, sâu sắc nội dung và nghệ thuật của tác phẩm mà
còn học tập được những tư tưởng lớn, tình cảm lớn của nhân dân và có tình cảm
trân trọng những giá trị tinh thần của cha ông. Đồng thời qua giờ học các em cũng
tạo dựng kỹ năng liên kết nhóm, trình bày vấn đề và sự tự tin.
Kết quả:
Năm học (2013 – 2014), ở lớp 10C8: Tôi dạy các văn bản “Chiến thắng
Mtao – Mxây”, “Truyện An Dương Vương – Mị Châu – Trọng Thuỷ” và “Tấm
Cám” (theo cách bình thường), so với năm học 2014 – 2015, ở hai lớp 10C6 và
10C9 (đổi mới theo đề tài này) đã đem lại kết quả khác biệt qua việc kiểm tra
bằng bài tập cụ thể sau các tiết học:
1. Với văn bản “Chiến thắng Mtao – Mxây”:
Câu hỏi: Những chi tiết nào trong đoạn trích chứng tỏ cuộc chiến đấu của Đăm
Săn tuy có mục đích riêng nhưng lại có ý nghĩa và tầm quan trọng đối với toàn thể
cộng đồng? Qua đoạn trích, những đặc trưng của sử thi được thể hiện như thế
nào?
Năm học Lớp Điểm 3 - 4 Điểm 5 - 6 Điểm 7 - 8 Điểm 9 - 10
2013- 2014 10C8(43 HS) 23,3% 34,9% 25,6% 16,3%
2014- 2015 10C6(39 HS) 4,6% 38,5% 39% 17,9%
2014- 2015 10C9(39 HS) 4,6% 35,5% 38,5% 20,5%
2. Với văn bản “Truyện An Dương Vương – Mị Châu – Trọng Thuỷ”:
Câu hỏi: Em rút ra những bài học gì qua truyền thuyết “An Dương Vương
Mị Châu – Trọng Thuỷ”? Những chi tiết kỳ ảo trong truyền thuyết thể hiện thái độ,
tình cảm của nhân dân đối với các nhân vật như thế nào?
Năm học Lớp Điểm 3 - 4 Điểm 5 - 6 Điểm 7 - 8 Điểm 9 - 10
2013- 2014 10C8(43 HS) 14% 44,2% 23,6% 16,3%
2014- 2015 10C6(39 HS) 2,6% 30,7% 46,2% 20,5%
3. Với văn bản “Tấm Cám”
2014- 2015 10C9(39 HS) 0% 33,3% 51,3% 15,4%
Câu hỏi: Truyện tập trung miêu tả những mâu thuẫn gì? Suy nghĩ của em về kết
thúc của văn bản trong SGK?
Năm học Lớp Điểm 3 - 4 Điểm 5 - 6 Điểm 7 - 8 Điểm 9 - 10
2013- 2014 10C8(43 HS) 11,6% 46,5% 32,6% 9,3%
2014- 2015 10C6(39 HS) 0% 25,7% 51,2% 23,1%
2014- 2015 10C9(39 HS) 0% 23,6% 46,2% 33,3%
Riêng với câu hỏi “Em có thích học các văn bản văn học dân gian?”, tôi thu được
kết quả sau:
Năm học Lớp Yêu thích Bình thường Không thích
2013- 2014 10C8(43 HS) 23,3% 58,1% 18,6%
2014- 2015 10C6(39 HS) 53,9% 33,3% 12,8%
2014- 2015 10C9(39 HS) 59,7% 30,8% 10,3%
Với những kết quả trên, tôi có thể khẳng định rằng, việc sử dụng các PPDH
tích cực trong dạy đọc hiểu các văn bản tự sự dân gian lớp 10 ở trường THPT Nam
Hà là hoàn toàn có khả năng thực hiện và vận dụng thường xuyên, đồng thời có thể
vận dụng vào quá trình đọc hiểu các văn bản ở các trường THPT hiện nay. Như
vậy, mục đích của thực nghiệm đã đạt được và giả thuyết khoa học nêu ra đã được
kiểm nghiệm.
ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
I. Bài học kinh nghiệm:
- GV phải lựa chọn bài giảng, nắm bắt mục tiêu bài học và vận dụng linh hoạt
phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực phù hợp để bài dạy thành công.
- GV cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài thật tốt trên cơ sở nắm chắc đặc trưng
thể loại.
- GV đưa hệ thống câu hỏi cho học sinh để các em chuẩn bị bài trước ở nhà.
- GV soạn giáo án theo hướng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong
dạy học
- Sử dụng các thiết bị dạy học phù hợp với nội dung bài dạy.
- HS cần soạn bài chu đáo dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
II. Những kiến nghị sau khi thực hiện đề tài:
- Tăng cường trang thiết bị, cơ sở vật chất về công nghệ thông tin để giáo viên dễ
dàng tìm kiếm tài liệu trên mạng và phục vụ việc giảng dạy tốt hơn.
- Thư viện nhà trường cần có nhiều sách báo, băng đĩa, tranh ảnh về tác phẩm dân
gian được dạy trong nhà trường.
- Nâng cao nhận thức cho giáo viên về sự cần thiết của việc đổi mới các phương
pháp dạy học nói chung và sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nói riêng
trong dạy học văn bản tự sự dân gian 10 nói riêng. Tổ chức đánh giá, rút kinh
nghiệm, điều chỉnh, bổ sung theo hướng hoàn thiện hơn.
- Tập huấn kỹ năng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn
Giáo dục công dân lớp 12 cho giáo viên dạy học bộ môn
- Đa dạng hóa các hình thức hoạt động và tăng cường sự phối hợp của các lực
lượng trong nhà trường để nâng cao hiệu quả sử dụng các phương pháp dạy học
tích cực.
KẾT LUẬN
Không ai có thể phủ nhận việc sử dụng các PP và KTDH tích cực trong dạy
học hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó góp phần nâng cao chất lượng
dạy học nói chung và môn văn lớp 10 nói riêng. Việc ứng dụng PP và KTDH
giúp HS hình thành những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống. Biến việc “Học”
thành quá trình kiến tạo; ở đó học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai
thác và xử lí thông tin, tự hình thành tri thức, có năng lực và phẩm chất của con
người ở thời đại mới: tự tin, năng động, sáng tạo trong cuộc sống. Tuy nhiên
Phương pháp dạy học tích cực không phải là phương pháp dạy học vạn năng, nên
nó chỉ có thể đạt được hiệu quả tối đa khi giáo viên biết kết hợp phương pháp dạy
học tích cực một cách hài hòa với phương pháp dạy học truyền thống. Và dù áp
dụng phương pháp dạy học tích cực hay phương tiện dạy học hiện đại như thế nào
đi chăng nữa cũng không thể thay thế được vai trò phương pháp thuyết trình bài
giảng của người giáo viên với ngôn ngữ sư phạm uyển chuyển, giàu tình cảm, đảm
bảo tính hệ thống và lôgíc chặt chẽ trong từng tiết học riêng, với đối tượng học
sinh cụ thể nhằm thu hút học sinh.
Trong quá trình thực hiện đề tài khó tránh khỏi sai sót, tôi kính mong được
sự tham gia đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo và sự trao đổi kinh nghiệm của
các đồng nghiệp để tôi có thể rút kinh nghiệm và hoàn thiện hơn. Tôi xin chân
thành cảm ơn.
Biên Hòa, ngày 10 tháng 5 năm 2015
Người thực hiện
Nguyễn Thị Ti Na
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục - Đào tạo ( 2010 ), Dự án phát triển giáo dục THPT- Hướng dẫn
học tập theo băng hình về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính
tích cực học tập của học sinh, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
2. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2005), Luật giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2008), Sách giáo khoa Ngữ văn 10 - tập 1, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
4. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2008), Sách giáo viên Ngữ văn 10 - tập 1, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
5. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2008), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng
môn Ngữ văn lớp 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
6. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2008),Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
7. Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Văn học dân gian – những công trình nghiên
cứu, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
8. Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn, Đinh Gia Khánh (chủ biên), Văn học dân
gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
9. Nguyễn Trọng Hoàn – Nguyễn Khắc Đàm, Sách thiết kế bài giảng Ngữ văn 10
(tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI Trường THPT Nam Hà –––––––––––
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc –––––––––––––––––––––––– Biên Hoà, ngày 25 tháng 05 năm 2015
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học: 2014 - 2015 –––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm: ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC
TÍCH CỰC TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ DÂN GIAN LỚP 10
Họ và tên tác giả: NGUYỄN THỊ TI NA
Chức vụ: Giáo viên
- Phương pháp dạy học bộ môn: ............................... - Lĩnh vực khác: ........................................................
Đơn vị: Trường THPT Nam Hà Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác) - Quản lý giáo dục - Phương pháp giáo dục Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô dưới đây) - Đề ra giải pháp thay thế hoàn toàn mới, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn - Đề ra giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn - Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị mình,
nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 5 ô dưới đây) - Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu quả cao - Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu
quả cao
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao - Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả - Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị mình,
nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây) - Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
sống: Trong Tổ/Phòng/Ban
Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT
Trong Tổ/Phòng/Ban Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT Trong ngành - Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào cuộc Trong ngành - Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng: Trong ngành
Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT Đạt Khá
Không xếp loại
Trong Tổ/Phòng/Ban Xếp loại chung: Xuất sắc Cá nhân viết sáng kiến kinh nghiệm cam kết và chịu trách nhiệm không sao chép tài liệu của
người khác hoặc sao chép lại nội dung sáng kiến kinh nghiệm cũ của mình.
Tổ trưởng và Thủ trưởng đơn vị xác nhận đã kiểm tra và ghi nhận sáng kiến kinh nghiệm này đã được tổ chức thực hiện tại đơn vị, được Hội đồng chuyên môn trường xem xét, đánh giá; tác giả không sao chép tài liệu của người khác hoặc sao chép lại nội dung sáng kiến kinh nghiệm cũ của chính tác giả.
Phiếu này được đánh dấu X đầy đủ các ô tương ứng, có ký tên xác nhận của tác giả và người
có thẩm quyền, đóng dấu của đơn vị và đóng kèm vào cuối mỗi bản sáng kiến kinh nghiệm.

