LUẬN VĂN:
Vai trò và ý nghĩa của kiểm toán độc lập ở
Việt nam đối với các doanh nghiệp trong
nền kinh tế quốc dân
Lời mở đầu
Trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang dần dần từng bước chuyển nền kinh tế nước
ta từ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường squản của
Nhà nước theo định hướng hội chủ nghĩa, với một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, quan hệ sản xuất ngày càng trở nên phức tạp thì đòi hỏi vai trò quản của Nhà
nước cũng phải đổi mi để điều khiển nền kinh tế của đất nước sao cho hoạt động
lành mạnh và không ngừng phát triển.
Qua các kỳ Đại Hội Đảng đã xác định phấn đấu dân giầu, nước mạnh, xã hội công
bằng văn minh. . . Đó trách nhiệm cần sự cố gắng của toàn Đảng, toàn dân.
Trong khi cnước đang chuyển dần vào guồng quay của kinh tế thị trường, tìm mọi cách
hạn chế tối đa những khuyết tật vốn của kinh tế thị trường nhằm đưa đất ớc thoát
khỏi cảnh đói nghèo, tmột số các cán bộ chức quyền lạm dụng quyền chức để
tham nhũng, chiếm đoạt tài sản hội chủ nghĩa, nhiều doanh nghiệp làm ăn thua l
trong nhiều năm liền làm thiệt hại cho Nhà nước đến ng nghìn tỷ đồng mà các quan
chức năng không hề hay biết chỉ đến khi c doanh nghiệp này psản thì mới hay.
n thế nữa chính những lỗ hổng trong các văn bản đã quy định vchế độ kế toán tài
chính cũng là những nguyên nhân để các con mọt tha hồ hoành hành, đục khoét của
cải của nhân n. Như vậy phải chăng vai trò kiểm tra - kiểm soát của Nhà nứơc đã
không phát huy hết hiệu lực, chính những thực trạng đó và nhu cầu phát triển của kinh tế
thị trường đã đặt ra đòi hỏi cấp bách đó sự ra đời phát triển của kiểm toán. Kiểm
toán ra đời đặc biệt sự ra đời của kiểm toán độc lập ý nghĩa rất quan trọng đối
với c doanh nghiệp, các Nhà đầu tư trong mọi thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc
dân và đặc biệt là sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
Với quy mô đề án môn học nghiên cứu về vấn đề kiểm toán nói chung và hoạt động
kiểm toán độc lập nói riêng, trong phạm vi bài viết này của em gồm có 3 phần chính.
Phần 1 : Những lý luận chung về kiểm toán và kiểm toán độc lập.
Phần 2 : Vai t và ý nghĩa của kiểm toán độc lập Việt nam đối với các doanh
nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
Phần 3 : Thực trạng và phưng hoàn thiện hệ thống kiểm toán độc lập ở nước ta.
PHần I : nhng lý luận chung
I:định nghĩa và chức năng của kiểm toán
1.Sự phát triển của kiểm toán
thể nói tiền thân của kiểm toán ra đời từ rất lâu, ngay từ thời nguyên
thuỷ người cổ đại đã đánh dấu trên các thân cây, buộc nút trên các dây thừng...
. để theo dõi chi tiêu, kết quả, và để đối chiếu với các Tài sản.. . . Đặc biệt với
sự ra đời của hệ thống kế toán kép sự phát triển ngày càng hoàn thiện của hệ
thống phương pháp kế toán (tk 17-20) . Nên hầu hết các nhu cầu kiểm tra i
chính đã được thoả mãn
Trong thế kỷ 20, hội -khoa học phát triển mạnh dẫn đến sản xuất ngày
càng phát triển, các mối quan hệ v i chính, sản xuất.. . ngày càng đa dạng,
đòi hỏi công tác quản lý vmọi mặt cũng phải được ng cao . Nhưng thực tế
cho thấy o những năm 30 của thế k 20 này bằng sự phá sản của hàng loạt
các tổ chức i chính tín dụng lớn Bắc Mỹ Tây Âu, chức năng tự kiểm tra
của kế toán mới chịu bộc lộ những yếu điểm của mình so với nhu cầu quản
của các tổ chức Tài chính, các doanh nghiệp sản xuất dịch vụ, các đơn v sự
nghiệp công cộng. ng chính hậu qu đó đã dẫn đến những người quan tâm
nghi nghờ hoặc chỉ tin mt phần o kết quả thông o tình nh Tài chính của
đơn vị.. . . Do vậy việc xuất hiện một tchức kiểm tra ngoài kế toán đó một
nhu cầu tất yếu, thoả mãn được sự mong mỏi của các bên.
những nước nền kinh tế sớm phát triển thì công việc kiểm tra ngoài
kế toán của một tổ chức độc lập cũng phát triển khá sớm chẳng hạn : ở Pháp viêc
kiểm tra bên ngoài một cách độc lập do những người chuyên nghiệp đảm nhiệm
đã được xác định trong đạo luật về các công ty thương mại ngày 24/07/1966,
năm 1960 kiểm toán nội bộ Pháp chính thức được thành lập nhằm mở rộng,
tăng cường, ổn định hiệu quả của các nghiệp. Đến năm 1965 đã thành lập
Hội kiểm soát viên nội bcủa Pháp, sau này trở thành viện nghiên cứu kiểm toán
kiểm soát viên nội bộ ( IFACI) vào năm 1973. Ơ Mỹ sau cuộc khủng hoảng
về kinh tế thế giới (1929-1933), năm 1934 uỷ ban bảo v trao đổi tiền tệ
(SEC) đã được thành lập quy chế kiểm toán viên bên ngoài đã bắt đầu có hiệu
lực, đồng thời trường đào tạo kế toán viên ng chứng (AICPA) đã in ra mẫu
chuẩn đầu tiên về o cáo kiểm toán Tài khoản của các công ty đặc biệt sự
ra đời của văn phòng kế toán trưởng (GAO). ở Trung Quốc việc cải cách mở cửa
bên cạnh công tác kiểm tra kiểm soát mạnh mnên đã tạo ra đươc những thành
tựu lớn, kiểm toán Nhà nước được y dựng từ năm 1983,kiểm toán Độc Lập
được xây dựng từ năm 1981.. .
Như vậy thể i hầu hết các nước trên thế giới song song với việc
quản đều một hệ thống kiểm tra kiểm soát độc lập bên cạnh. Còn đối
với Việt nam chúng ta từ những năm 1945 Bác Hđã Sắc lệnh tổ chức thanh
tra đặc biệt (SL 64/SL ngày 23/11/1945) tiếp theo đó sắc lệnh 57 ngày
04/06/1946 quy định tổ chức bmáy cán bộ trong đó lập ra các nha thanh tra ,
sắc lệnh số 76/SL ngày 25/08/1946 về tổ chức bộ máy Tài chính nha thanh tra
Tài chính thuộc Bộ. Giai đoạn này Đất Nước đang đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã
hội theo hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung với các thành phần kinh tế trong
đó kinh tế Quốc Doanh chủ yếu thì các biện pháp đó phù hợp. Nhưng
chuyển sang chế thị trường (1986) xoá bỏ chế tập trung quan liêu bao cấp
dưới sự quản của Nhà nước làm xuất hiện nhiều thành phần kinh tế mới với
các mối quan hệ đa dạng và phức tạp ththống thanh tra kiểm tra kiểm soát
cũng phải thay đổi để phù hợp trong điêù kiện mới và đặc biệt với sự ra đời của
các công ty kiểm toán độc lập, quan kiểm toán Nhà nước, và gần đây đó
sự ra đời của kiểm toán nội bộ đã chứng tỏ kiểm toán Việt nam đang từng
bước được nhìn nhận, xây dựng, đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế.
Như vậy sự ra đời của kiểm toán là một tất yếu khách quan cùng với s
phát triển kinh tế hội góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định chính trị,
đó là một nhu cầu văn minh của xã hội.
2.Bản chất và chức năng của kiểm toán.
A.Kiểm tra,kiểm soát-một chức năng của quản lý
Nói một cách chung nhất, quản một quá trình định hướng tổ chức
thực hiện các địnhớng đã định trên những nguồn lực xác định nhằm đạt
hiệu quả cao nhất. Quá trình này bao gồm nhiều chức năng và có thể chia thành
nhiều giai đoạn, giai đoạn định hướng cần những dự o về nguồn lực
mục tiêu cần có thể đạt tới, kiểm tra lại các thông tin về nguồn lực mục
tiêu, xây dựng các trương trình, kế hoạch. . . Sau đó có thể đưa ra các quyết định
cụ thể để tchức thực hiện. Trong giai đoạn tổ chức thực hiện, cần kết hợp c
nguồn lực theo c phương án tối ưu, đồng thời thường xuyên kiểm tra diễn biến
kết quả của các quá trình để điều hoà các mối quan hệ, điều chỉnh các định
mức mục tiêu trên quan điểm tối ưu hoá kết quả hoạt động. Nhưng kiểm tra
không phải một giai đoạn của quản được thực hiện tất cả các giai
đoạn của quá trình này, bởi vậy cần phải quan niệm kiểm tra một chức năng